Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC HIỂN

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 46/2024/HSST

Ngày 15 - 11 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Thành.
  2. Bà Bùi Ngọc Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thành Thật là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Ly K, sinh ngày 01/01/1984, tại tỉnh C; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện N, tỉnh C; nghề nghiệp: làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Huỳnh Thị Đ; vợ là Lê Kim T (đã ly hôn) và 02 người con; có 01 tiền án: Ngày 17/01/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành hình phạt xong ngày 10/3/2023. Ngoài ra, nhân thân bị cáo còn có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng đã xóa án tích; có 01 tiền sự: Ngày 13/5/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn R xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành quyết định; bị cáo bị tạm giữ hình sự từ ngày 21/5/2024 đến ngày 30/5/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (vắng mặt tại phiên tòa có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Bị hại:

Ông Hồ Văn T, sinh ngày 23/10/1987 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm Q, thị trấn R, huyện N, tỉnh C.

Bà Lê Thị T, sinh ngày 04/3/1990 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Cẩm T, sinh ngày 01/01/1982 (vắng mặt).

Ông Nguyễn Văn S, sinh ngày 01/01/1979 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện N, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 17/5/2024, Nguyễn Ly K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 11 Pro 5G cùng 02 sim số của bà Lê Thị T cư trú tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh C trị giá tài sản chiếm đoạt 15.041.000 đồng (mười lăm triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn đồng). Đến khoảng 07 giờ ngày 21/5/2024, Nguyễn Ly K tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S cùng 01 sim số của ông Hồ Văn T cư trú tại khóm Q, thị trấn R, huyện N, tỉnh C trị giá tài sản chiếm đoạt là 1.474.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản hai lần bị cáo chiếm đoạt là 16.515.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm mười lăm nghìn đồng). Quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐ, ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau kết luận: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A10S, màu đen giá 1.350.000 đồng (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng); 01 sim Vinaphone thuê bao số 0886.168.xxx giá 84.000 đồng (tám mươi bốn nghìn đồng); 01 ốp lưng điện thoại giá 40.000 đồng (bốn mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 1.474.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐ, ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 11PRO 5G trị giá 14.841.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn đồng), 01 sim số Vinaphone 0946.424.xxx trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), 01 sim số Viettel 0967.048.xxx trị giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 15.041.000 đồng (mười lăm triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ly K từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Lê Thị T số tiền 15.041.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại cho ông Nguyễn Văn S 01 xe mô tô hiệu Nouvo biển kiểm soát 69L1-033.24, 01 mũ bảo hiểm màu đen bên trong có chữ MongNghiNghi.

Quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Hiển, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2]. Bị cáo khai nhận vào khoảng 07 giờ 40 phút ngày 17/5/2024, Nguyễn Ly K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 11 Pro 5G cùng 02 sim số của bà Lê Thị T cư trú tại khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh C trị giá tài sản chiếm đoạt 15.041.000 đồng (mười lăm triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn đồng). Đến khoảng 07 giờ ngày 21/5/2024, Nguyễn Ly K tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10S cùng 01 sim số của ông Hồ Văn T cư trú tại khóm Q, thị trấn R, huyện N, tỉnh C trị giá tài sản chiếm đoạt là 1.474.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản hai lần bị cáo chiếm đoạt là 16.515.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm mười lăm nghìn đồng). Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác, đã vi phạm pháp luật hình sự.

[3]. Trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận có thực hiện hành vi như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, phù hợp với kết luận định giá tài sản và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của bị cáo Nguyễn Ly K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Qua phân tích, chứng tỏ lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự pháp chế xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị trật tự an toàn xã hội của địa phương.

Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã đủ 18 tuổi, hoạt động nhận thức bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn có tiền để tiêu sài mà không phải lao động chân chính nên đã chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Hậu quả xảy ra cũng là xuất phát từ hành vi, ý chí mong muốn của bị cáo.

[4]. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án ngày 17/01/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành hình phạt xong ngày 10/3/2023. Ngoài ra, bị cáo còn có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng đã xóa án tích; có 01 tiền sự: Ngày 13/5/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn R xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa chấp hành quyết định. Bị cáo phạm tội lần này được xem là tái phạm, phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại các điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mặc dù đã từng bị xử phạt hành chính về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không biết hướng thiện, tìm việc làm phụ giúp gia đình, với bản tính ham chơi, lười lao động, bị cáo lại thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu cá nhân.

[5]. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là bà Lê Thị T xác định tài sản bị Nguyễn Ly K chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO 11 Pro 5G cùng 02 sim số. Bà Lê Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền theo kết luận định giá là 15.041.000 đồng.

Đối với bị hại là ông Hồ Văn T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Đối với bà Nguyễn Cẩm T và ông Nguyễn Văn S không biết việc bị cáo Nguyễn Ly K lấy xe của bà Tú và ông Sử đi trộm nên không đặt ra xử lý xét thây là phù hợp.

Đối với người nam thanh niên mua điện thoại do Nguyễn Ly K bán tại quán cà phê X ở khóm A, thị trấn R, huyện N, tỉnh C hiện chưa xác định được thông tin, địa chỉ nên chưa làm việc được, khi nào có căn cứ xử lý sau xét thấy là phù hợp nên không đặt ra xử lý.

[6]. Vật chứng vụ án thu giữ gồm: Xe Nouvo màu đỏ, biển số 69L1-033.24; 01 mũ bảo hiểm màu đen bên trong có chữ MongNghiNghi của ông Nguyễn Văn S. Xét thấy việc bị cáo Nguyễn Ly K lấy xe của ông Nguyễn Văn S đi thực hiện hành vi phạm tội ông Nguyễn Văn S không biết nên cần thiết áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại cho ông Nguyễn Văn S là phù hợp.

[7]. Qua phân tích và nhận định như trên, cho thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng có căn cứ để chấp nhận.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ly K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đối với số tiền bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại là 15.041.000 đồng thì phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng các điều 585 và 589 của Bộ luật Dân sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ly K tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt bị cáo Nguyễn Ly K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (được đối trừ thời gian bị tạm giữ hình sự từ ngày 21/5/2024 đến ngày 30/5/2024).

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Trả lại cho ông Nguyễn Văn S: 01 chiếc xe Nouvo màu đỏ, biển số 69L1-033.24; 01 mũ bảo hiểm màu đen bên trong có chữ MongNghiNghi;

    Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Ly K bồi thường cho bị hại Lê Thị T số tiền 15.041.000 đồng (mười lăm triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23; điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Ly K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
    • - Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bị cáo Nguyễn Ly K phải chịu 752.050 đồng (bảy trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi đồng).

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát huyện Ngọc Hiển;
  • - Chi cục thi hành án huyện Ngọc Hiển;
  • - Bị cáo; Người TGTT;
  • - Công an huyện Ngọc Hiển;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 46/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger