|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HSST Ngày: 20 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Công Đoàn.
Thẩm phán: Ông Trần Văn San.
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Lành, ông Lại Văn Phong và ông Lê Văn Tấn.
Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/HSST ngày 23/7/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 05/8/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn Đ
Sinh năm:1994; nơi cư trú: Số nhà B, ngõ F phố T, tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Văn C (đã chết), con bà Nguyễn Thị V; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2013, bị Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến ngày 19/4/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn Đ: Ông Nguyễn Đình T - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh H, có mặt.
Người chứng kiến: Ông Lại Văn C1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ E, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 13/4/2024, Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp với Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam và Cục cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ C2 đang xác minh truy tìm đối tượng truy nã tại khu vực bến xe thành phố N, tỉnh Nam Định thì phát hiện Nguyễn Tuấn Đ, sinh năm 1994; trú tại tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu Đ về Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H để làm việc. Tại đây, Nguyễn Tuấn Đ đã tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu xanh, Đ khai bên trong có 02 bánh ma túy loại Heroine và 10 túi ma túy Hồng phiến, Đ mua về để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tuấn Đ và thu giữ đồ vật tài sản gồm:
- 02 (hai) bánh hình hộp chữ nhật có kích thước khoảng (15x10x03)cm, đều được bọc bằng nhiều lớp giấy nilon, bên trong mỗi bánh đều có chứa chất màu trắng dạng cục, bột, được cho vào 01 túi nilon trong suốt niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
- 01 (một) gói giấy màu trắng mặt trước có in chữ A, bên trong có 08 (tám) túi nilon màu xanh và 02 (hai) túi nilon màu hồng, miệng túi có kẹp nhựa. Bên trong mỗi túi nilon đều có chứa các viên nén hình trụ tròn màu đỏ, tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.
- 01 (một) điện thoại di động, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu xanh, mặt sau có chữ SAMSUNG, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03.
- 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tuấn Đ.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tuấn Đ tại tổ A, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 13/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định xác định chất ma túy đối với các vật chứng đã thu giữ được niêm phong ký hiệu QT01, QT02.
Tại Bản kết luận giám định số 276/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:
- “- Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 571,882g (năm trăm bảy mươi mốt phẩy tám trăm tám mươi hai gam) loại: Heroine.
- - Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 161,945g (một trăm sáu mươi mốt phẩy chín trăm bốn mươi lăm gam) loại: Methamphetamine”.
Ngày 19/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định số 580/QĐ-CSMT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định kỹ thuật số và điện tử đối với điện thoại thu giữ của Nguyễn Tuấn Đ.
Tại Bản kết luận giám định số 770/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
“Phục hồi, trích xuất được dữ liệu nhật ký cuộc gọi, tin nhắn thời gian từ ngày 01/04/2024 đến ngày 13/04/2024 trong mẫu gửi giám định (Ký hiệu: A), gồm: 310 (Ba trăm mười) nhật ký cuộc gọi điện thoại; 208 (Hai trăm linh tám) tin nhắn văn bản SMS; 112 (Một trăm mười hai) tin nhắn Zalo; 48 (Bốn mươi tám) tin nhắn Facebook Messenger.
Dữ liệu phục hồi, trích xuất được lưu trong 01 (Một) đĩa DVD có chứa 1,20MB dung lượng dữ liệu.
Không xác định được dữ liệu trích xuất trên có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về ma túy và hành vi vi phạm pháp luật khác không” .
Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn Đ khai: Đ quen biết và có số điện thoại của người đàn ông tên P không rõ lai lịch ở huyện T, tỉnh Điện Biên là do bạn bè giới thiệu nhưng không nhớ cụ thể là ai. Ngày 11/4/2024, Đ sử dụng điện thoại di động gắn thẻ sim mua ở ngoài cửa hàng điện thoại không nhớ mua ở cửa hàng nào có số thuê bao 0817304605 gọi vào số điện thoại 0787.462.xxx của P hỏi mua 02 bánh Heroine và 10 đàn ma túy H phiến. P đồng ý và báo giá hết 250.000.000 đồng. Khoảng 11 giờ ngày 12/4/2024, Đ đi xe khách từ nhà xuống thành phố N, tỉnh Nam Định rồi tiếp tục bắt xe khách lên tỉnh Điện Biên, khi đi Đ gọi điện hẹn P đón ở ngã 3 T. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ xuống xe tại điểm hẹn gặp P và được P dùng xe máy chở vào trong bản nhưng Đ không biết là bản nào. Trên đường đi P bảo Đ đưa tiền cho P, sau khi nhận tiền, P dừng xe ở ven đường rồi vào gốc cây lấy 01 túi nilon màu xanh bên trong có một túi nilon màu đen đưa cho Đ. Đ mở túi ra thấy có 02 bánh ma túy Heroine và 01 gói giấy Đ biết là ma túy H phiến nên cầm túi ma túy trên tay. Sau đó, P lại chở Đ ra chỗ đón xe để Đ bắt xe khách đi về. Khi Đ xuống xe tại khu vực bến xe N và trong tay đang cầm túi ma túy thì bị lực lượng Công an yêu cầu về trụ sở làm việc.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H cho Nguyễn Tuấn Đ xem các dữ liệu được in trong đĩa DVD, Đ xác định ngày 12/4/2024 số điện thoại
0817304605 của Đ có liên lạc với số điện thoại 0787.462.xxx của P vào thời điểm 20 giờ 42 phút, 20 giờ 46 phút và 20 giờ 55 phút để trao đổi mua bán ma túy. Tuy nhiên, không thấy có cuộc gọi giao dịch nào với nhau ngày 11/4/2024, Đ khai không nhớ ngày 11/4/2024 đã gọi cho P qua hình thức nào.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành xác minh số thuê bao điện thoại 0817.304.xxx do Đ sử dụng xác định người đứng tên thuê bao là chị Lưu Thị N, sinh năm 1981; trú tại xã N, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; đồng thời xác minh số thuê bao 0787.462.872, Đ khai của người tên P, xác định người đứng tên thuê bao là chị Tòng Thị P1, sinh năm 1987; trú tại Khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Chị N, chị P1 đều khai từ trước đến nay không đăng ký, quản lý, sử dụng số thuê bao trên, cũng không cho ai mượn giấy tờ tùy thân của mình để đăng ký sử dụng số thuê bao nào và không có quan hệ quen biết gì với Nguyễn Tuấn Đ và người tên P. Ngoài lời khai của Đ không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ, thông tin để xác định nguồn gốc số ma túy và đối tượng bán ma túy như Đ đã khai.
Cáo trạng số 55/CT-VKSHN-P1 ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn Đ và đề nghị HĐXX áp dụng điểm h khoản 4, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 40 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Đ tử hình, phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, IMEI 352353110652976 bên trong lắp 01 (một) sim điện thoại Viettel trên bề mặt sim có dãy số 8984.0200.0114.7435.5045, điện thoại đã qua sử dụng, bị cáo dùng vào việc liên hệ để mua ma tuý cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước, 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tuấn Đ là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo. Số ma tuý hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành; các vật chứng khác không có giá trị, vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tuấn Đ: Ông Nguyễn Đình T nhất trí về tội danh và điều khoản như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức 20 năm tù.
Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với bản bào chữa của Luật sư; đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà phần thủ tục bắt đầu phiên toà bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, để bị cáo khai báo với cơ quan điều tra việc có người tên Q sinh sống tại tỉnh Nam Định, người này có đưa tiền cho bị cáo đi mua ma tuý. Sau khi Hội đồng xét xử thảo luận xét thấy yêu cầu của bị cáo là không có căn cứ nên tiếp tục tiến hành việc xét xử đối với bị cáo, trong quá trình tranh tụng bị cáo tự nguyện xin rút lời khai đối với Q vì bị cáo không biết rõ về nhân thân, lai lịch của đối tượng Q.
[2]. Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của bản thân đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định về chất ma tuý và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/4/2024, tại Phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, bị cáo Nguyễn Tuấn Đ đã cất giữ trái phép 733,827g ma túy (gồm 571,882g loại Heroine và 161,945g loại Methamphetamine) thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phát hiện bắt quả tang. Số ma tuý trên bị cáo khai nhận mục đích mua về để bản thân sử dụng và bán kiếm lời.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, số lượng ma tuý lớn, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Thời gian gần đây,
các tội phạm về ma tuý diễn biến phức tạp, mức độ ngày càng nghiêm trọng, với những thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, mạnh động. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly với xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ không phải chịu.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ mua bán trái phép ma tuý nhằm thu lời bất chính, vì vậy cần phải phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh, IMEI 352353110652796 bên trong lắp 01 (Một) sim điện thoại Viettel, trên bề mặt sim có dãy số 8984.0200.0114.7435.5045, điện thoại đã qua sử dụng, bị cáo dùng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 276/KTHS mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” tại mép dán mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01(một) dòng chữ ghi họ tên Nguyễn Tuấn A, 01 (một) dấu chức danh giám định viên Nguyễn Thị Lan H1 cùng 03 (ba) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 276/KTHS mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả QT02” tại mép dán mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01(một) dòng chữ ghi họ tên Nguyễn Tuấn A, 01 (một) dấu chức danh giám định viên Nguyễn Thị Lan H1 cùng 03 (ba) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh đều đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tuấn Đ là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo, vì vậy cần trả lại cho bị cáo.
[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm h khoản 4 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Đ tù chung thân; thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Tuấn Đ 10.000.000 đồng (Mười) triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh, IMEI 352353110652796 bên trong lắp 01 (Một) sim điện thoại Viettel, trên bề mặt sim có dãy số 8984.0200.0114.7435.5045 điện thoại đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong số 276/KTHS mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” tại mép dán mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01(một) dòng chữ ghi họ tên Nguyễn Tuấn A, 01 (một) dấu chức danh giám định viên Nguyễn Thị Lan H1 cùng 03 (ba) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. 01 (một) phong bì niêm phong số 276/KTHS mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả QT02” tại mép dán mặt sau phong bì có 02 (hai) chữ ký, 01(một) dòng chữ ghi họ tên Nguyễn Tuấn A, 01 (một) dấu chức danh giám định viên Nguyễn Thị Lan H1 cùng 03 (ba) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H, 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh đều đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tuấn Đ.
Tình trạng đặc điểm, tình trạng tài sản như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, có quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Công Đoàn |
Bản án số 46/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 46/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 13/4/2024, tại Phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, bị cáo Nguyễn Tuấn Đ đã cất giữ trái phép 733,827g ma túy (gồm 571,882g loại Heroine và 161,945g loại Methamphetamine) thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phát hiện bắt quả tang. Số ma tuý trên bị cáo khai nhận mục đích mua về để bản thân sử dụng và bán kiếm lời.
