Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:46/2024/HSST

Ngày: 18/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Cúc

Ông Nguyễn Văn Thơm

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy– Thư ký tòa án nhân dân Thành

phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên

toà: Ông Lê Văn Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 16/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Vũ Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1995, tại Thanh Hóa; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Vũ Văn Q; Con bà: Tô Thị K; bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Phạm Thị Đ;Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong án phí, bồi thường dân sự và hình phạt tù ngày 18/3/2022, đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S.

“Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

  1. Phạm Văn H – SN 1991;
  2. Trịnh Thị Mai T – SN 1993;

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Q, thành phố S, Thanh Hóa

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lê Văn N – SN 1992;

Địa chỉ: Thôn Ninh Phạm, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa

  1. Đoàn Mạnh C – SN 1986;

Địa chỉ: Thôn Uy Bắc, xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa

  1. Vũ Xuân T1 – SN 1989;

Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa.

Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thế Q1 – SN 2000;

Địa chỉ: Thôn Bái Môn, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa

  1. Phạm Thị T2 – SN 1995;

Địa chỉ: Thôn Ninh Phạm, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa

  1. Trần Sỹ R – SN: 1978

Địa chỉ: Thôn U, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa.

Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 08/4/2024, Vũ Văn L đang ở nhà Lê Văn N chơi, sau đó L hỏi mượn xe máy HONDA Vision BKS: 36B6-014.02 của chị Phạm Thị T2 sinh năm 1995 (bạn gái N) để đi về nhà, chị T2 đồng ý. Trên đường về Vũ Văn L nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản nên đã điều khiển xe máy đến khu vực xã Q, thành phố S quan sát thấy nhà anh Phạm Văn H đang sáng đèn xung quanh không có người qua lại, L dựng xe ở ven đường đối diện rồi đi bộ qua đường, leo qua tường rào nhảy xuống khu vực vườn trống rồi đột nhập vào trong nhà qua ô cửa thoáng. L đi vào khu vực tầng 1 rồi đi lên cầu thang tầng 2 thấy vợ chồng anh H đang ngủ trong phòng. Luyến quan sát thấy có 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A53 màu đen đã qua sử dụng của anh H để dưới đuôi giường, 01 điện thoại Samsung M33 màu đen đã qua sử dụng của chị Trịnh Thị Mai T (vợ anh H) đang để ở kệ gần đuôi giường, L lấy 02 điện thoại bỏ vào túi quần và tiếp tục lấy 01 túi xách treo trên ghế phòng ngủ rồi đi ra ngoài cầu thang mở kiểm tra thấy bên trong có 01 nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng, L lấy chiếc nhẫn bỏ vào túi quần rồi đi xuống cầu thang tẩu thoát theo lối vào trước đó.

Sau khi lấy được tài sản, Vũ Văn L đã điều khiển xe máy về nhà Lê Văn N để ngủ, trên đường đi Luyến có dừng lại tắt máy, tháo sim vứt ven đường. Đến khoảng 08 giờ ngày 08/4/2024, L một mình chạy lên khu vực thành phố T đến cửa hàng điện thoại (không nhớ tên cửa hàng) phá khóa 02 chiếc điện thoại hết 800.000 đồng rồi quay lại nhà Lê Văn N bán 01 chiếc điện thoại Samsung M33 cho N giá

1.300.000 đồng. Sau đó, L gọi Nguyễn Thế Q1 chở đi đến quán điện thoại của anh Đoàn Mạnh C bán 01 điện thoại Samsung Galaxy A53 giá 3.000.000 đồng. Sau đó anh C bán lại chiếc điện thoại trên cho anh Vũ Văn T3 được 4.800.000đ. Tiếp tục L đi bộ sang cửa hàng vàng bạc đối diện bán 01 nhẫn vàng tây cho anh Trần Sỹ R, sinh năm 1978 được 900.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán được tài sản do trộm cắp L đã tiêu sài cá nhân hết .

Sau khi ngủ dậy, anh Phạm Văn H phát hiện bị mất trộm 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A53 để dưới đuôi giường, 01 điện thoại Samsung M33 để ở kệ gần đuôi giường và 01 nhẫn tròn vàng tây để trong túi xách. Do nghĩ tài sản bị mất giá trị không lớn nên không đến Cơ quan Công an để trình báo ngay mà đến khoảng 16 giờ, ngày 05/6/2024 anh H mới đến Công an xã Q trình báo sự việc .

Sau khi tiếp nhận Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã tiến hành kiểm tra xác minh, xác định hiện trường, thông báo truy tìm đối tượng .

Đến ngày 15/6/2024, Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa xác định theo thông báo truy tìm đối tượng vụ việc trộm cắp tài sản xảy ra tại xã Q, thành phố S ngày 08/4/2024 có đặc điểm giống Vũ Văn L. Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã làm việc với ông Vũ Văn Q, sinh năm 1964 là bố đẻ của Vũ Văn L, xác định người đàn ông theo thông báo truy tìm của Cơ quan CSĐT Công an thành phố S là Vũ Văn L con trai ông, hiện nay L đã bị Công an xã T, huyện T, thành phố Hà Nội quản lý đối với người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở Cai nghiện số B, huyện B, thành phố Hà Nội .

Tại cơ sở Cai nghiện số B, huyện B, thành phố Hà Nội, Vũ Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được.

Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng đình giá tài sản thuộc UBND thành phố S, kết luận giá trị tài sản trộm cắp ngày 08/4/2024 gồm: 01 điện thoại Samsung Galaxy A53 màu đen chính hãng, máy đã qua sử dụng mua tháng 6 năm 2023, thời điểm định giá 08/4/2024 là 3.200.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy M33 màu đen chính hãng, đã qua sử dụng mua tháng 3 năm 2023 thời điểm định giá ngày 08/4/2024 là 1.800.000 đồng; 01 nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng (nhẫn cưới vàng tây) đường kính 2,5cm phía trên có gắn đá hình tròn màu trắng trong suốt mua tháng 6 năm 2015 là 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 6.500.000 đồng.

Kết luận giám định số 2488/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T: - 01 tệp video của 01 USB gửi giám định bị gián đoạn tại thời điểm 02:55:45: Không xác định được nguyên nhân. Các thời điểm còn lại không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh.

- Trích xuất 03 ảnh từ tệp video gửi giám định - Thể hiện trong phụ lục.

Vật chứng của vụ án:

01 (một) điện thoại di động Sam sung galaxy A53 và 01 (một) điện thoại di động Sam Sung Galaxy M33 đã qua sử dụng là tài sản sở hữu của anh Phạm Văn H và chị Trịnh Thị Mai T. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với chiếc nhẫn vàng, loại vàng tây đường kính 2,5cm phía trên có gắn đá hình tròn màu trắng trong suốt, quá trình điều tra anh Trần Sỹ R khai báo do cửa hàng đông khách, thời gian đã lâu nên không nhớ đã mua nhẫn vàng tây của Vũ Văn L. Ngoài lời khai của bị cáo cũng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh là anh R đã mua chiếc nhẫn vàng của bị cáo nên Cơ quan CSĐT không thu giữ được tài sản là chiếc nhẫn vàng và anh H và chị T không yêu cầu bồi thường gì về mặt dân sự.

Đối với Chị Phạm Thị T2 là người cho L mượn xe máy HONDA vision màu đen đỏ, BKS: 36B6-014.02, chị T2 không biết là L sử dụng xe máy đi để trộm cắp tài sản. Nguyễn Thế Q1 được L nhờ chở đi bán 01 chiếc điện thoại di động Sam Sung galaxy A53 và 01 (một) nhẫn tròn vàng tây, Q1 không biết đó là tài sản trộm cắp và cũng không được hưởng lợi từ việc L bán tài sản. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an thành phố S không xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị T2 và anh Q1.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra anh Phạm Văn H, chị Trịnh Thị Mai T đã nhận lại tài sản là hai chiếc điện thoại di động Sam sung galaxy A53 và S1. Còn đối với chiếc nhẫn vàng tây anh chị không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả giá trị chiếc nhẫn và cũng không yêu cầu bồi thường thêm gì mặt dân sự.

Anh Đoàn Mạnh C là người mua 01 điện thoại di động Sam Sung galaxy A53 với giá 3.000.000 đồng và bán lại cho anh Vũ Văn T3 với giá 4.800.000 đồng. Trong quá trình điều tra anh C đã khắc phục toàn bộ số tiền 4.800.000 đồng cho anh T3, anh C và anh T3 cũng không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền trên và bồi thường thêm gì về mặt dân sự.

Anh Lê Văn N là người mua 01 chiếc điện thoại di động Sam Sung Galaxy M với giá 1.300.000 đồng. Anh N không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả đối với số tiền đã mua điện thoại và cũng không yêu cầu bồi thường thêm gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 48/CTr-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Vũ Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả định giá.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn L từ

12 đến 15 tháng tù; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đều vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 1 giờ 00 phút ngày 08/4/2023 Vũ Văn L đã lợi dụng sơ hở đột nhập vào nhà để lén lút chiếm đoạt của anh Phạm Văn H, chị Trịnh Thị Mai T tại thôn H, xã Q, TP S 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A53 trị giá 3.200.000 đồng, 01 điện thoại Samsung M33 trị giá 1.800.000 đồng và 01 nhẫn tròn vàng tây để trong túi sách treo trên ghế trị giá 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Vũ Văn L trộm cắp là: 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Vũ Văn L có đủ dấu hiện cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS như đề nghị của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và có khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội. Nhưng chỉ muốn hưởng lợi không bằng sức lao động của bản thân, bị cáo đã đột nhập vào nhà của bị hại, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, thể hiện bị cáo là người rất liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo S có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng vẫn không chịu cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

[5] Về phần bồi thường dân sự:

Anh Phạm Văn H, chị Trịnh Thị Mai T không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả giá trị chiếc nhẫn vàng tây mà bị cáo đã chiếm đoạt và cũng không yêu cầu phải bồi thường thêm gì về mặt dân sự. Anh Đoàn Mạnh C, Lê Văn N không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã mua điện thoại và anh C, anh N, anh T3 cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường về mặt dân sự. Vì vậy, công nhận sự tự nguyện của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về mặt dân sự.

[6] Về hình phạt bổ sung : Bị cáo L không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt:

Bị cáo Vũ Văn L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 21/6/2024.

Không xử phạt hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn L.

Về Trách nhiệm dân sự:

Công nhận sự tự nguyện của các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo Vũ Văn L bồi thường về dân sự.

Về án phí:

Bị cáo Vũ Văn L phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi

hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .

Quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Văn H, chị Trịnh Thị Mai T, anh Đoàn Mạnh C, anh Vũ Xuân T1, anh Lê Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án./

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Sầm Sơn;
  • - Công an TP. Sầm Sơn;
  • - Thi hành án HS, DS TP Sầm Sơn;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan;
  • - UBND xã Quảng Bình, Quảng Xương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HSST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 46/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1,2Điều 51; Điều 65 BLHS Xử phạt Vũ Văn L 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger