Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 46/2024/HSST;

Ngày 17 tháng 4 năm 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang; Bà Nguyễn Thị Thêm

-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thuý - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Anh T; Sinh ngày 28 tháng 6 năm 2007 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi ở trước khi bị bắt: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985 (bố, mẹ đẻ bị cáo); Người đại diện theo ủy quyên của bà Nguyễn Thị T2: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982; Cùng HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị V – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. Có mặt

* Bị hại: Ông Nguyễn Kim Á, sinh năm 1957; HKTT: Xóm C, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/11/2023 ông Nguyễn Kim Á (sinh năm: 1957, HKTT: xóm C, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội) làm đơn trình báo đến Công an xã Đ, huyện H về việc: Khoảng 14 giờ ngày 26/11/2023, ông Á bị mất trộm số tiên 2.000.000 đồng ở trong ví để trong túi áo ngực của ông Á treo trên thành giường tại phòng ngủ của ông Á thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Sau khi nhận được tin báo của ông Á, Công an xã Đ đã tiến hành kiểm tra hình ảnh camera thu được tại hiện trường, rà soát xác định đối tượng là Nguyễn Văn Anh T (sinh ngày 28/6/2007, HKTT: xóm A, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội).

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 26/11/2023, ông Nguyễn Kim Á đi làm về nhà tại xóm C, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Sau đó, ông Á ăn cơm rồi đi ngủ tại phòng ngủ tầng 01 của ngôi nhà. Trước khi đi ngủ, ông Á cởi áo và để chiếc áo trên thành của đuôi giường, bên trong túi ngực của chiếc áo này ông Á có để một chiếc ví chứa số tiên 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) cùng một số giấy tờ tùy thân rồi ông Á nằm ngủ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn Anh T đi qua nhà ông Á, thấy cửa cổng nhà ông Á không khóa nên T mở cổng đi vào để rủ Đỗ Thái T3 (sinh năm: 2009, HKTT: xóm C, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội – là cháu của ông Á, bạn của T) đi chơi nhưng T không thấy ai trả lời. Lúc này, T thấy cửa ra vào nhà ông Á không khóa nên T mở cửa đi vào trong nhà rồi T đi lên tâng 02 để tìm T3 nhưng không thấy ai. Sau đó, T đi xuống tâng 01 và đi vào phòng ngủ tầng 01 thì thấy ông Á đang ngủ trên giường nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, T thấy chiếc áo của ông Á để trên thành giường, T lục lọi chiếc áo và phát hiện trong túi áo của ông Á có một chiếc ví, T mở chiếc ví thấy bên trong ví có 04 tờ tiên mệnh giá 500.000 đồng và khoảng 10 tờ tiên mệnh giá 200.000 đồng và 100.000 đồng. Sau đó, T lấy 04 tờ tiên mệnh giá 500.000 đồng (tổng số tiên là 2.000.000 đồng) trong ví của ông Á rồi T cất số tiên 2.000.000 đồng vào túi quân trước bên trái của T đang mặc và để lại chiếc ví trên bàn rồi T bỏ đi. Số tiên trộm cắp được T đã sử dụng để trả nợ hết 1.700.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết 300.000 đồng. Khi ông Á ngủ dậy, ông Á lấy áo để mặc đi làm thì phát hiện mất chiếc ví. Lúc này, ông Á tìm trong phòng ngủ thì thấy chiếc ví để trên bàn, ông Á có kiểm tra bên trong ví thì phát hiện bị mất số tiền 2.000.000 đồng (04 tờ tiên mệnh giá 500.000 đồng).

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) chiếc áo ngắn tay màu đen, trên ngực áo có in chữ “GUCCI” (Thu giữ của Nguyễn Văn Anh T);
  • - 01 (một) ví da màu đen, phía dưới góc bên phải của ví có dập chữ “Lata”;
  • - 01 (một) USB bên trong có chứa video liên quan đến vụ án trộm cắp tài sản xảy ra ngày 26/11/2023 tại, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội (Thu giữ của ông Nguyễn Kim Á).

Đối với số tiên 1.700.000 đồng, Nguyễn Văn Anh T khai T dùng để trả nợ cho bốn người trên mạng xã hội facebook (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại đoạn đường Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Do vậy, cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điêu tra, Nguyễn Văn Anh T đã tác động nhờ bố mẹ của T trả lại cho ông Nguyễn Kim Á số tiên 2.000.000 đồng. Ông Á đã nhận lại số tiền và không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSHĐ ngày 20/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điêu 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điêu 51; Điêu 36; Điêu 91; Điêu 100 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Anh T tù 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Khi bị cáo phạm tội là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiên đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ông Nguyễn Kim Á đã được bồi thường và không yêu cầu gì thêm.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo ngắn tay màu đen, trên ngực áo có in chữ “GUCCI” (Thu giữ của Nguyễn Văn Anh T);
  • - Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB bên trong có chứa video liên quan đến vụ án.
  • - Trả lại cho ông Nguyễn Kim Á: 01 (một) ví da màu đen, phía dưới góc bên phải của ví có dập chữ “Lata”;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định cảu pháp luật.

Tại phần tranh luận:

  • - Người bào chữa cho bị cáo là Trợ giúp viên pháp lý trình bày: Bị cáo phạm tội tại thời điểm chưa thành niên nên nhận thức còn hạn chế; bị cáo phạm tội lân đâu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục hậu quả, được người bị hại có đơn giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có thành tích xuất sắc trong tham gia phong trào tại trường học; người thân của bị cáo có công với cách mạng. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s, h và v khoản 1, khoản 2 Điêu 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phân hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất đại diện VKS đề nghị.
  • - Anh Nguyễn Văn T1 là bố đẻ của bị cáo trình bày: Bị cáo còn ít tuổi, hiểu biết hạn chế, đê nghị HĐXX tạo điêu kiện cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội, gia đình có trách nhiệm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

* Lời nói sau cùng, bị cáo thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vê hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra–Công an huyện H, Điêu tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 2 Điêu 6 và Điêu 8 Thông tư số 02/2018/TT-TANDTC ngày 21/9/2018 về hướng dẫn việc xét xử vụ án có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi. Tại phiên toà, thành phân Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân là ông Trần Mạnh K, từng công tác giảng dạy ở nhiều vị trí; Hội thẩm nhân dân là bà Nguyễn Thị T4 là người có kinh nghiệm hiểu biết vê tâm lý trẻ em, đại diện hợp pháp là bố bị cáo và người bào chữa cho bị cáo là Trợ giúp viên pháp lý nhà nước đều có mặt tại phiên tòa. Xét thấy với thành phần Hội đồng xét xử như trên đã đảm bảo xét xử đối với bị cáo đúng quy định.

[2] Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, biên bản chỉ dẫn, sơ đồ, ảnh chỉ dẫn hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Ngày 26/11/2023, tại nhà ông Nguyễn Kim Áxóm C, thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn Anh T có hành vi lén lút lấy số tiên 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) của ông Nguyễn Kim Á.

Hành vi của bị cáo là cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 2.000.000 đ (hai triệu đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyên sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo Nguyễn Văn Anh T là người có đây đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điêu 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiên án, tiên sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo cùng người thân khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại và được bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo phạm tội lân đâu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên (16 tuổi 4 tháng 29 ngày), có nhận thức chưa đây đủ; bị cáo được ghi nhận đạt thành tích xuất sắc trong tham gia hoạt động phong trào. Đây là những tình tiết để giảm nhẹ một phân hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điêu 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, đại diện VKSND huyện Hoài Đức đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 và Điêu 100 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, dưới sự giám sát, giáo dục của UBND xã Đ cùng với gia đình của bị cáo cũng đủ để giáo cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo là người chưa thành niên nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điêu 90; Điêu 91 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo và không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập hằng tháng đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điêu 36 và khoản 2 Điêu 100 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo chưa đủ 18 tuổi, chưa có nghê nghiệp và thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điêu 173 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Kim Á đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bôi thường dân sự là phù hợp quy định nên được ghi nhận.

[7] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 (một) chiếc áo ngắn tay màu đen, trên ngực áo có in chữ “GUCCI”, thu giữ của Nguyễn Văn Anh T, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với vật chứng là 01 (một) Ví da màu đen, phía dưới góc bên phải của ví có dập chữ “Lata” là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị hại nên trả lại cho ông Nguyễn Kim Á là đúng quy định.
  • - Đối với 01 (một) USB bên trong có chứa video, là vật chứng của vụ án nên cho lưu tại hồ sơ vụ án là đúng quy định.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 36; Điều 100 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Anh T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự

* Về dân sự: Ghi nhận bị hại là ông Nguyễn Kim Á đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bôi thường dân sự.

* Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc áo ngắn tay màu đen, trên ngực áo có in chữ “GUCCI”, thu giữ của Nguyễn Văn Anh T.
  • - Trả lại cho ông Nguyễn Kim Á: 01 (một) Ví da màu đen, phía dưới góc bên phải của ví có dập chữ “Lata”.
  • - Lưu tại hồ sơ vụ án: 01 (một) USB bên trong có chứa đoạn video hình ảnh vụ trộm cắp.

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; có tình trạng, đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/3/2024, bên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện H, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, thành phố Hà Nội.)

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyên kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Uỷ ban nhân dân xã/phường nơi bị cáo
  • cư trú (thay Thông báo KQXX);
  • - VKSND huyện Hoài Đức;
  • - Công an H. Hoài Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Hoài Đức;
  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TP. Hà Nội;
  • - Lưu: VP,THAHS,HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Hồng Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 46/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger