|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 46/2024/HS-PT Ngày 23 tháng 7 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hà Giang; |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ; |
| Ông Hoàng Tiến Dũng. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22, 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024; Do có kháng cáo của bị hại anh Hà Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo:
Họ và T: Nguyễn Bá H (Tên gọi khác: không), sinh ngày 28/02/1992, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi thường trú: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Con ông: Nguyễn Bá U - SN 1963; Con bà: Nguyễn Thị T1 - SN 1966.
Anh, chị, em ruột: Có 03 chị em; Bị cáo là con thứ hai.
Vợ: Phàn Thị N - SN 1986;
Con: Có 02 con; Con lớn sinh năm 2022, con nhỏ sinh năm 2023.
Bố, mẹ, vợ và con đều trú tại: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Bá H bị bắt tạm giữ từ ngày 21/8/2023 đến ngày 24/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn hiện nay bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
Người bị hại: Anh Hà Văn B - SN 1979;
Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lỗ Thị Thu H1,
Luật sư, thuộc Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh P. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T2 - SN 1988
- Chị Phàn Thị N - SN 1986
Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T1 - SN 1966
- Bà Nguyễn Thị D - SN 1965
Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Địa chỉ: Khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6 năm 2021, gia đình anh Hà Văn B, sinh năm 1979 và gia đình bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1966 đều thường trú tại khu Đ, xã T, huyện T, Phú Thọ có mời chính quyền địa phương xã T đến xác định danh giới đất giáp danh giữa hai nhà. Tại buổi làm việc gồm có anh Phạm Công Đ, là cán bộ địa chính UBND xã Thạch Khoán, anh K, trưởng khu hành chính Đ, anh Nguyễn Phú H2, Phó trưởng Công an xã và đại diện anh Hà Văn B, bà Nguyễn Thị T1. Sau khi thống nhất giữa hai bên về mốc giới đất giữa hai nhà, cán bộ địa chính đo đạc, anh B cho cắm các cột sắt hình chữ “V” để làm mốc giới. Khoảng tháng 9/2022, vợ chồng bà T1 cho vợ chồng Nguyễn Bá H, sinh năm1992, thường trú tại khu Đ, xã T, huyện T, Phú Thọ có khu đất giáp danh với nhà anh Hà Văn B (H là con trai ruột) diện tích 100 m² để H xây nhà và làm vườn. Đến nay bà T1 chưa làm thủ tục tách bìa đất cho H theo quy định.
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 21/8/2023, Nguyễn Bá H cầm theo 01 con dao xuống vườn của gia đình để làm, vườn này tiếp giáp với vườn của gia đình anh B. Tại vị trí danh giới đất này có nhiều bụi nứa mọc trên đất của anh B cũng như đất nhà H. Khi H đang làm thì thấy bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965, thường trú khu Đ, xã T là mẹ vợ anh B đến búi cây nứa ở khu vực đất giáp ranh với đất nhà H chặt măng nứa. Thấy vậy H đi lại gần bảo bà D không được chặt măng vì đấy là bụi nứa của nhà H. Sau đó giữa bà D và H xảy ra lời qua tiếng lại với nhau. Lúc này nghe thấy tiếng cãi nhau, chị Nguyễn Thị T2, (sinh năm 1988) là con gái bà D chạy ra có lời nói chửi H. Khoảng 10 phút sau, khi hai bên vẫn đang tranh cãi nhau thì anh Hà Văn B, chồng của chị T2 chạy từ trên nhà xuống vườn, vừa chạy vừa chửi H: “Thằng mắt nổ mắt xịt hôm nay tao đập chết mày”. Lúc này H đang đứng ở vị trí gần bụi nứa phía bên đất nhà H, trên tay phải đang cầm một con dao loại dao thái dài khoảng 50cm, chuôi dao bằng gỗ, bản dao chỗ rộng nhất 6,5cm. Anh B chạy đến đứng vị trí cách H khoảng 5 mét và nhặt một gốc nứa khô ở dưới đất. Thấy anh B cầm gốc nứa thì H quay lưng lại chạy về hướng nhà H thì bị anh B ném gốc nứa trúng vào lưng H. Bị ném trúng nên H bực tức cầm dao chạy về phía anh B đang đứng. Lúc này anh B tiếp tục nhặt 01 gốc nứa khô khác dơ lên vụt về phía H theo hướng từ trên xuống
dưới, H giơ tay phải đang cầm dao, lưỡi dao vẫn hướng về phía anh B gạt hắt lên từ dưới lên trên, từ trái qua phải để đỡ, đồng thời H dùng tay trái nắm vào tay phải đang cầm chuôi dao và chém về phía người anh B làm gốc nứa anh B đang cầm rơi xuống đất, dao chém trúng vào vùng đầu của anh B. Sau khi bị chém anh B ngã xuống nền đất và bị chảy máu ở vùng đầu. H dừng lại không đánh hay chém anh B nữa và cầm con dao đi về nhà. Sau đó Công an xã Thạch khoán đến đưa H ra trụ sở UBND xã T làm việc, thu giữ con dao H khai đã dùng chém anh B. Sau khi sự việc xảy ra, ngày 21/8/2023 Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988, trú tại khu Đ, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là vợ của Hà Văn B đã trình báo Công an huyện T đề nghị giải quyết theo quy định.
Ngày 22/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định Trưng cầu giám định số: 161, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hà Văn B. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 165/KLTTCTTTPY, ngày 22 tháng 8 năm 2023 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Văn B là 13% (Mười ba phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương đỉnh đầu bên trái và vỡ xương đỉnh bên trái: Do tác động của vật sắc gây nên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 24/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Bá H về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Các quyết định nêu trên của CQCSĐT - Công an huyện T đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện T kiểm sát và phê chuẩn để tiến hành điều tra theo quy định.
Tại CQCSĐT - Công an huyện T, Nguyễn Bá H thành khẩn khai báo toàn bộ nội dung hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của Nguyễn Bá H phù hợp với tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với Nguyễn Bá H: Ngày 21/8/2023 có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho anh Hà Văn B gây tổn thương 13%. Hành vi của Nguyễn Bá H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong vụ án này anh Hà Văn B là người bị hại có một phần lỗi dùng gốc nứa khô ném trúng lưng H gây bức xúc, kích động cho H dẫn đến hai bên xô xát đánh nhau, H dùng dao chém anh B gây thương tích.
Đối với anh Hà Văn B: Ngày 21/8/2023 anh B có hành vi dùng gốc nứa khô ném trúng lưng Nguyễn Bá H. Do Nguyễn Bá H từ chối giám định thương tích nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không có đủ căn cứ xem xét xử lý hình sự đối với anh Hà Văn B về tội danh “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên hành vi của anh Hà Văn Ba p bị xử lý vi phạm hành chính. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển hồ sơ tài liệu có liên quan đến Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính đối với anh B về lỗi “Cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe………………nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 7 Nghị định
144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, mức phạt từ 5.000.000₫ đến 8.000.000đ. Bản thân anh Hà Văn B chưa có tiền án, tiền sự gì. Do vậy, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Hà Văn B.
Về vấn đề bồi thường dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, anh B bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện T từ ngày 21/8/2023 đến ngày 05/9/2023 (15 ngày) vết thương ổn định ra viện. Anh B yêu cầu H phải bồi thường số tiền là 45.478.000 đồng gồm: tiền viện phí, ăn ở, đi lại, tiền công người chăm sóc và những ngày anh không lao động được nhưng H thấy số tiền anh B yêu cầu như trên là không thoả đáng nên chưa bồi thường.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu tạm giữ:
Đối với con dao dài 50 cm, bản rộng nhất 6,5 cm, chuôi dao bằng gỗ, đã qua sử dụng. Đây là con dao H giao nộp và xác định chính xác đây là con dao dùng để chém anh Hà Văn B. 01 con dao dài 31,5cm chuôi dao bằng nhựa, màu đen, dài 11,5cm, phần lưỡi dao dài 20cm, bản dao chỗ rộng nhất 5cm. Đối với 02 gốc nứa đã khô, anh B sử dụng để gây thương tích cho Nguyễn Bá H. Hiện các vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn chờ xử lý.
Điều kiện kinh tế của Nguyễn Bá H đang sống cùng vợ con trong căn nhà xây cấp 4, diện tích 70 m², ngôi nhà được xây trên diện tích đất của ông Nguyễn Bá U là bố đẻ của H. Bị cáo làm lao động tự do tại địa phương, thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng. Ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, bị can không có tài sản riêng có giá trị.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:
Căn cứ vào: Điểm đ, Khoản 2, Điều 134, điểm b, điểm s, Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1, Khoản 2, Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào: Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào: Điều 47 - Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức T3, M, G, T3, N1, Quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Bá H 27 (Hai bảy) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Bá H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 68, Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2020.
“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào các Điều 584, 586, 590 – Bộ luật Dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Bá H và bị hại anh Hà Văn B về số tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại là 45.500.000₫ (Bốn mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng) Gồm có: Tiền viện phí; tiền thuốc điều trị tại Trung tâm y tế huyện T, Bệnh viện V;tiền thuê xe ô tô đi lại; tiền mất thu nhập của người bị thiệt hại; tiền mất thu nhập của người chăm sóc người bị thiệt hại; tiền xăng xe máy đi lại trong thời gian ở bệnh viện; tiền bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Bá H đã tự nguyện nộp 45.500.000đ (Bốn mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng) là khoản tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại anh Hà Văn B. Theo 02 biên lai thu tiền số 0003443 và biên lai số 0003444 ngày 02/5/2024, tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Số tiền này được chuyển thành tiền bồi thường cho bị hại Hà Văn B.
Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, bị hại anh Hà Văn B có đơn kháng cáo toàn bộ vụ án:
- Về tội danh Người bị hại cho rằng Nguyễn Bá H phạm tội giết người theo điều 123 Bộ luật hình sự;
- Về chứng cứ gia đình bị hại cung cấp đoạn trích Camera nhưng cơ quan điều tra không xem xét mà đưa ra 01 số tình tiết không đúng sự thật khách quan, anh B có nhặt gốc nứa ném về phía anh H nhưng trượt nên gốc nứa bị ném lên mái chuồng bò, trong quá trình xảy ra vụ việc anh H ở trên đất nhà anh B, và bố anh H là ông Nguyễn Bá U bảo “Chém chết nó đi” tuy nhiên trong hồ sơ không xem xét vai trò của ông U trong vụ án;
- Về bồi thường thiệt hại gia đình anh không có thỏa thuận về bồi thường nhưng bản án lại công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo H và anh về bồi thường thiệt hại số tiền 45.500.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại anh Hà Văn B. Sửa phần quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Nguyễn Bá H về phần trách nhiệm dân sự:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Áp dụng Điều 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự.
Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm c khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức T3, M, G, T3, N1, Quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Cố ý gây thương tích"
- Về hình phạt:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí:
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Bá H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Bá H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Buộc bị cáo Nguyễn Bá H phải bồi thường cho bị hại anh Hà Văn B tổng số tiền là 49.052.032 đồng, bao gồm Hóa đơn tiền thuốc, khám bệnh và chẩn đoán hình ảnh tại bệnh viện V; Tiền thuốc và vật tư y tế, các khoản chi phí khác tại Trung Tâm y tế huyện T; Tiền xe đi và về ở Trung Tâm y tế huyện T và bệnh viện V; Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần; Tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại; tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bị hại trong quá trình bị hại điều trị tại Trung tâm Y tế huyện T.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Bá H đã tự nguyện nộp 45.500.000đ là khoản tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại anh Hà Văn B. Theo 02 biên lai thu tiền số 0003443 và biên lai số 0003444 ngày 02/5/2024, tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại anh Hà Văn B số tiền 3.552.032 đồng
Bị cáo Nguyễn Bá H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
Bị hại anh Hà Văn B không phải chịu án phí hình phúc thẩm
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày quan điểm:
Về tội danh:
Bản án Hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST do Tòa án Nhân dân huyện Thanh Sơn ban hành ngày 10/5/2024 tuyên bị cáo Nguyễn Bá H – sinh năm 1992 phạm tội Cố ý gây thương tích căn cứ theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Luật Hình sự là không đúng
Trong vụ án này, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ lời khai của bị cáo và người bị hại thể hiện nội dung: Trong quá trình xảy ra vụ việc, ông H đã chém anh B nhiều nhát từ trên xuống nhưng anh B dùng gốc nứa đỡ được. Sau đó do bị trượt chân, bị rơi mất gốc nứa nên anh Ba bị chém 1 nhát trên đầu. Vùng đỉnh đầu được xác định là vùng trong yếu trên cơ thể con người. Việc bị cáo H chém từ trên xuống vào vùng đầu của anh Hà Văn B cũng đã phải biết trước hậu quả nguy hiểm của hành vi trên hoàn toàn có thể tước đi tính mạng của anh B.
Áp dụng Án lệ số 17/2018/AL của Tòa án nhân dân tối cao và các Thông báo rút kinh nghiệm số 05/TB-VC1-HS ngày 13/02/2019; Thông báo rút kinh nghiệm số 06/TB-VC1-HS ngày 25/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trường hợp này phải xem xét hành vi cấu thành tội giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi của Nguyễn Bá H về tội “Giết người” theo quy định tại Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Bá H mức hình phạt 20 năm tù.
* Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình xét xử tại tòa án Nhân dân huyện Thanh Sơn, do không hiểu biết quy định pháp luật, gia đình ông Ba chỉ kê các khoản chi phí đã chi. Sau khi xem xét lại, gia đình ông B thấy rằng mức đền bù so với phần thiệt hại của mình quá thấp, vì vậy, bị hại đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại: Cụ thể
- Tiền điều trị tại Trung tâm y tế huyện T từ ngày 21/8 đến ngày 5/9 tại 03 bảng kê chi phí điều trị nội trú là 12,024,304 đồng + 20,490 đồng + 9,578,900 đồng = 21.623.694 đồng
- Tiền mua thuốc: tại hóa đơn ngày 21/8/2023 là 200,000 đồng; ngày 23/8/2023 là 857,500 đồng; ngày 29/8/2023 là 344,000 đồng; ngày 22/8/2023 là 680,000 đồng; ngày 26/8/2023 là 657,000 đồng; ngày 27/8/2023 là 32,300 đồng; ngày 02/9/2023 là 1,085,000 đồng; ngày 04/9/2023 là 582,000 đồng; ngày 05/9/2023 là 589,970 đồng và 8,545,290 đồng; ngày 06/9/2023 là 1,145,000 đồng; ngày 18/9/2023 là 830,000 đồng. Tổng cộng là: 15,548,060 đồng
- Tiền khám bệnh tại bệnh viện V ngày 06/9/2023 tại 02 hóa đơn là 3,462,000 đồng + 1,250,000 đồng = 4,712,000 đồng
- Tiền sao trích lục bệnh án tại Trung tâm y tế huyện T ngày 05/9/2023 là 50,000 đồng
- Tiền thuê xe đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện T, bệnh viện V (02 lượt) là 2,000,000 đồng
- Tiền xăng xe, gửi xe 15 ngày là 780,000 đồng
- Tiền cơm 02 người 15 ngày là 3,060,000 đồng
- Tiền nước uống 15 ngày là 300,000 đồng
- Tiền mua Sữa bổ não 02 hộp là 1,210,000 đồng
- Tiền mua hoa quả phục vụ người bệnh là 525,000 đồng
- Tiền mua Ngũ cốc dinh dưỡng là 450,000 đồng
- Tiền thuê người chăm con nhỏ và lo công việc nhà là 4,500,000 đồng
- Tiền mất thu nhập của vợ do chăm sóc bị hại điều trị là 17 ngày x 300,000 đồng/ngày = 5,100,000 đồng
- Tiền mất thu nhập của bị hại khi điều trị là 17 ngày x 400,000 đồng/ngày = 6,800,000 đồng
- Tiền mất thu nhập của bị hại trong thời gian phục hồi là 23 ngày x 400,000 đồng/ngày = 10,400,000 đồng
- Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần là 90,000,000 đồng
Tổng số tiền bị hại đề nghị bồi thường là: 167,058,754 đồng
Người bị hại nhất trí với đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi người bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của Người bị hại anh Hà Văn B nộp trong hạn luật định được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/8/2023, tại khu Đ, xã T, huyện T, bị cáo Nguyễn Bá H có mâu thuẫn cãi nhau với anh Hà Văn B. Do anh Hà Văn B dùng gốc nứa khô ném trúng vào lưng bị cáo H, nên bị cáo H đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm đã chém về phía anh B trúng vào vùng đầu sau đó anh B được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại trung tâm y tế huyện T từ ngày 21/8/2023 đến ngày 05/9/2023 ra viện. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 165/KLTTCT/TTPY, ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hà Văn B tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương đỉnh đầu bên trái và vỡ xương đỉnh bên trái: Do tác động của vật sắc gây nên. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của Người làm chứng, biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Bá H đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 của Bộ luật hình sự.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Bá H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của Người bị hại anh Hà Văn B.
[3.1] Về tội danh Người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cho rằng Nguyễn Bá H phạm tội giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tại bản tường trình ngày 25/9/2023 (BL109) và biên bản ghi lời khai ngày 25/9/2023, 25/12/2023 (BL110-111a) của chị Nguyễn Thị T2 vợ anh B thể hiện nội dung: Khoảng 10 giờ ngày 21/8/2023, khi chị đang làm việc ở phía trước nhà nghe thấy tiếng cãi, chửi nhau phía sau vườn chị chạy ra sau nhà thấy anh H và bà D đang cãi chửi nhau về việc bà D chặt măng ở khu vực đất đang tranh chấp, anh H lại chửi chị và rút cọc sắt do địa chính cắm mốc ném về phía chuồng bò gia đình chị; Lúc này anh B chồng chị đi ra thấy vậy nhặt gốc nứa ném về phía anh H, anh H cầm dao lao đến chỗ anh B, anh B tiếp tục nhặt gốc nứa lên và giằng co, xô xát với H; H cầm dao chém về phía anh B nhưng anh B giơ gốc nứa lên đỡ được, quá trình giằng co anh Ba bị vấp vào gốc nứa bị ngã thì H chém vào đầu anh B một nhát thấy anh Ba bị chảy máu chị vào can ngăn và mọi người đưa anh B đi cấp cứu, còn H đi đâu chị không biết;
Lời khai của cháu Hà Thị Thu H3 và bà Nguyễn Thị D ngày 21/8/2023 (BL 112-115) cũng thể hiện trước lúc anh Ba b chém, anh B có nhặt một gốc nứa ném về phía H và H tiến đến chỗ anh B giằng co và H chém anh ba một nhát vào đầu anh B ngã xuống đất và H đi về phía đất nhà H;
Lời khai của anh Hà Văn B ngày 16/9/2023 (BL 116-117) cũng thể hiện trước lúc anh bị chém, anh có nhặt một gốc nứa ném về phía H nhưng H né được và H tiến đến chỗ anh và anh giật gốc nứa khô, H lao vào chém về phía anh 03 phát, anh giơ gốc nứa lên đỡ được, sau đó hai bên giằng co nhau, trong lúc giằng co anh bị vấp chân vào gốc nứa không đứng vững nên bị H chém một nhát vào đầu anh ngã xuống đất bất tỉnh không biết gì.
Sau khi xem xét, nghiên cứu lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của bị cáo Nguyễn Bá H, biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và đoạn trích Camera thì thấy lời khai của bị cáo Nguyễn Bá H hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được. Như vậy, trước khi anh Ba b chém thì anh B đã dùng gốc nứa khô ném trúng vào lưng của bị cáo H được thể hiện tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của bị cáo Nguyễn Bá H hồi 14h ngày 21/8/2023 và hành vi trên của anh B đã bị công an huyện T xử phạt hành chính tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 102/QĐ-XPHC ngày 16/10/2023 với số tiền phạt là 6.500.000đ. Sau khi bị anh B ném gốc nứa trúng vào lưng, H đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của anh B; khi H chém anh B một nhát trúng vào đầu thì H dừng lại. Như vậy hành vi của bị cáo không quyết liệt trong quá trình thực hiện tội phạm, ý thức chủ quan của bị cáo không muốn tước đoạt tính mạng của anh B mặc dù có điều kiện để thực hiện, nếu muốn tước đoạt tính mạng của anh B thì ngay sau khi chém anh B một nhát thì H tiếp tục thực hiện hành vi tiếp theo. Nhưng H tự dừng lại và chạy về nhà mình. Do vậy, hành vi của H chém gây thương tích cho anh B 13% tổn thương cơ thể không đủ yếu tố cấu thành tội giết
người. Vì vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử H về tội cố ý gây thương tích là có căn cứ đúng quy định của pháp luật, nên kháng cáo của người bị hại nội dung này không được chấp nhận.
[3.2] Về bồi thường thiệt hại, anh B cho rằng gia đình anh không có thỏa thuận về bồi thường nhưng bản án lại công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo H và anh về bồi thường thiệt hại số tiền 45.500.000đ.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều thể hiện chị T2 vợ anh B và anh B đều yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng các khoản chi phí số tiền là 45.478.000 đồng (Lời khai của chị T2 ngày 09/10/2023 tại BL 107-108); Bản kê chi tiết các khoản chi phí yêu cầu bồi thường do anh B và chị T2 kê và yêu cầu (BL 131), tại biên bản phiên tòa ngày 10/5/2024, anh B yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 45.500.000₫ và bị cáo cũng nhất trí bồi thường số tiền trên nên nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn. Do vậy, bản án sơ thẩm đã công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và người bị hại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xem xét về trách nhiệm dân sự tại cấp phúc thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng thể hiện những thương tích của bị hại Hà Văn B là do mình bị cáo Nguyễn Bá H gây ra nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường các chi phí điều trị, tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại, tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bị hại là phù hợp. Tuy nhiên, yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại là tương đối cao, có những khoản không phù hợp với quy định của pháp luật nên cần áp dụng các quy định của pháp luật để xem xét, cụ thể như sau:
- Hóa đơn tiền thuốc tại bệnh viện V ngày 06/9/2023 là 3.462.000 đồng, hóa đơn khám bệnh và chẩn đoán hình ảnh ngày 06/9/2023 là 1.250.000 đồng. Tổng số tiền là 4.712.000 đồng, là chi phí hợp lý có hóa đơn chứng từ hợp lệ kèm theo nên cần chấp nhận
- Tiền điều trị (theo bảng kê tại Trung Tâm y tế huyện T) là 12.024.304 đồng + 9.578.900 đồng = 21.603.204 đồng; T4 trích sao bệnh án là 50.000 đồng, tiền thuốc điều trị có hóa đơn ngày 21/8/2023 là 200.000 đồng, ngày 22/8/2023 là 680.000 đồng, ngày 23/8/2023 là 857.000 đồng, ngày 26/8/2023 là 657.000 đồng, ngày 27/8/2023 là 32.300 đồng, ngày 29/8/2023 là 344.000 đồng, ngày 02/9/2023 là 1.085.000 đồng, ngày 04/9/2023 là 582.000 đồng. Tổng là 26.090.504 đồng, là chi phí hợp lý có hóa đơn chứng từ hợp lệ kèm theo nên cần chấp nhận
Đối với số tiền 8.545.290 đồng tại hóa đơn ngày 05/9/2023 của Trung tâm y tế huyện T là số tiền còn lại bị hại phải thanh toán sau khi trừ đi bảo hiểm cho quá trình điều trị tại Trung tâm y tế huyện T. Số tiền này đã được tính trong 02 bảng kê chi phí điều trị nội trú ngày 05/9/2023 với số tiền là 12.024.304 đồng và
9.578.000 đồng nên không có cơ sở chấp nhận. Đối với việc số tiền bị hại chi trả thấp hơn số tiền tại 02 bảng kê nêu trên, đó là quyền lợi của bị hại khi bị hại tham gia bảo hiểm y tế, do đó, cần buộc bị cáo thanh toán chi phí điều trị cho bị hại tại Trung tâm y tế huyện T theo 02 bảng kê nêu trên là phù hợp.
- Tiền thuê xe đi và về ở Trung Tâm y tế huyện T và bệnh viện V là 2.038.000 đồng
- Về bồi thường tổn thất về tinh thần: Khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự quy định mức bồi thường tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì do Tòa án quyết định nhưng không quá 50 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định. Tại thời điểm xét xử phúc thẩm, mức lương cơ sở do nhà nước quy định đã được điều chỉnh từ ngày 01/7/2024 là 2.340.000 đồng/tháng. Đối chiếu với tổn hại sức khỏe của anh Ba b xâm hại là 13%, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền tổn thất về tinh thần tương ứng với 05 tháng lương cơ sở x 2.340.000/đồng = 11.700.000 đồng
- Tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại; tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bị hại trong quá trình bị hại điều trị tại Trung tâm Y tế huyện T: Tại phiên tòa, bị hại không cung cấp được tài liệu chứng cứ xác định thu nhập thực tế của bị hại cũng như không cung cấp được mức thu nhập thực tế của bị hại và người chăm sóc cho bị hại tại thời điểm chăm sóc. Do đó, không xác định được thu nhập thực tế của bị hại, người chăm sóc cho bị hại tại thời điểm xẩy ra sự việc nên cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xác định thu nhập thực tế bị mất của bị hại, người chăm sóc cho bị hại được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi bị hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại. Bị hại cư trú tại huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo quy định của Nghị định 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 thì huyện T có mức lương tối thiểu vùng là 3.450.000đ/1 tháng. Một ngày lương tối thiểu là 3.450.000đ: 26 ngày = 132.692 đồng (làm tròn). Do bị hại điều trị 15 ngày và 02 ngày đi khám tại Bệnh viện V, tổng là 17 ngày nên khoản thu nhập thực tế bị mất của bị hại là 17 ngày x 132.692 đồng /1 ngày = 2.255.764đ. Khoản thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bị hại là 15 ngày và 02 ngày đưa bị hại xuống Bệnh viện V khám, tổng là 17 ngày x 132.692 đồng /1 ngày = 2.255.764₫;. Tổng là 4.511.528 đồng
Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 49.052.032 đồng.
Còn các khoản bồi thường khác bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại yêu cầu là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[3.3] Về chứng cứ gia đình bị hại cung cấp đoạn trích Camera nhưng cơ quan điều tra không xem xét mà đưa ra 01 số tình tiết không đúng sự thật khách quan: anh B có nhặt gốc nứa ném về phía anh H nhưng trượt nên gốc nứa bị ném lên mái chuồng bò, trong quá trình xảy ra vụ việc anh H ở trên đất nhà anh B và bố anh H là ông Nguyễn Bá U bảo “Chém chết nó đi”, tuy nhiên trong hồ sơ không xem xét vai trò của ông U trong vụ án;
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, căn cứ lời khai của Bị cáo,
người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như trích xuất đoạn Camera thì thấy lúc xảy ra sự việc ông Nguyễn Bá U, bố đẻ bị cáo H không có mặt tại đó và cũng không có liên quan gì nên quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm không đề cập xử lý là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Việc anh B cho rằng cơ quan điều tra không xem xét mà đưa ra 01 số tình tiết không đúng sự thật khách quan, anh B có nhặt gốc nứa ném về phía anh H nhưng trượt nên gốc nứa bị ném lên mái chuồng bò tình tiết này đã được phân tích ở mục [3.1] nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của người bị hại.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại về tội danh, mức hình phạt, đánh giá chứng cứ là không có căn cứ nên không chấp nhận; chấp nhận một phần đề nghị tăng mức bồi thường cho bị hại theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu kháng cáo tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự của bị hại được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị hại được chấp nhận một phần nên bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại anh Hà Văn B.
Sửa một phần quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2024/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về trách nhiệm dân sự.
[2] Về điều luật, tội danh và hình phạt.
Căn cứ vào:
Điểm đ, Khoản 2, Điều 134, điểm b, điểm s, Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51, Khoản 1, Khoản 2, Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo:
Nguyễn Bá H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (Năm mươi tư) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Bá H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát và giáo dục bị cáo được thực hiện Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Bá H 01 con dao dài 50cm, bản dao chỗ rộng nhất là 6,5cm, chuôi dao bằng gỗ; 01 con dao dài 31,5cm chuôi dao bằng nhựa, màu đen, dài 11,5cm, phần lưỡi dao dài 20cm, bản dao chỗ rộng nhất 5cm; 02 gốc nứa khô để tiêu hủy.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/05/2024. Tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào các Điều 584, 586, 590 – Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Bá H phải bồi thường cho bị hại anh Hà Văn B tổng số tiền là 49.052.032 đồng, bao gồm Hóa đơn tiền thuốc, khám bệnh và chẩn đoán hình ảnh tại bệnh viện V; Tiền thuốc và vật tư y tế, các khoản chi phí khác tại Trung Tâm y tế huyện T; Tiền xe đi và về ở Trung Tâm y tế huyện T và bệnh viện V; Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần; Tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại; tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bị hại trong quá trình bị hại điều trị tại Trung tâm Y tế huyện T.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Bá H đã tự nguyện nộp 45.500.000₫ (Bốn mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) là khoản tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại anh Hà Văn B. Theo 02 biên lai thu tiền số 0003443 và biên lai số 0003444 ngày 02/5/2024, tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại anh Hà Văn B số tiền 3.552.032 đồng. (Ba triệu năm trăm năm mươi hai nghìn không trăm ba mươi hai đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức T3, M, G, T3, N1, Quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Bá H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.
Bị hại anh Hà Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 46/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 46/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá H - Cố ý gây thương tích
