Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lê

Ông Nguyễn Đức Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Sơn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

tham gia phiên tòa: ông Đinh Hồng Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đinh Văn Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày: 15/3/1994, tại: Đ, Quảng Ninh; nơi cư trú: phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Q và bà Chu Thị H; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 25/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/9/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
  2. Họ và tên: Đặng Hồng D, tên gọi khác: không; sinh ngày: 22/11/1987, tại: Sông L, Vĩnh Phúc; nơi thường trú: thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở: Kiốt A chợ Trung tâm H3 (thuộc khu phố H, thị trấn Q, huyện H, Quảng Ninh); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quang T và bà Nguyễn Thị H1; có vợ và 02 con; tiền sự: không; tiền án: 01 tiền án (ngày 26/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”), ngày 23/7/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Nhân thân: năm 2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, năm 2019 chấp hành xong. Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/9/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt.
  3. Họ và tên: Nguyễn Trọng M, tên gọi khác: không; sinh ngày: 01/10/2002, tại: H, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu phố M, thị trấn Q, huyện H, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Châu Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/9/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1966; nơi cư trú: khu phố M, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người làm chứng: Đinh Văn H2, Chu Văn P.

- Người chứng kiến: Phạm Xuân S, Đặng Thái B1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 31/8/2024, Đinh Văn H2 đến quán xăm hình của Đặng Hồng D ở K-ốt 17B chợ Trung tâm H thuộc khu phố H, thị trấn Q, huyện H để xăm hình, D rủ H2 sử dụng ma túy đá để xăm đỡ đau, H2 đồng ý. Sau đó, D rủ Nguyễn Trọng M đến nhà Đinh Văn Đ ở phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh mua ma túy về cùng với H2 sử dụng. Khi đến nhà Đ, cả hai ngồi ở bàn cạnh gốc cây trước cửa nhà Đ thì Đ đưa cho D 01 túi nilon ma túy đá, D nhận ma túy và chuyển vào tài khoản của Đ số tiền 1.000.000 đồng. Trên đường về D rẽ vào đổ xăng, tại cây xăng D đưa túi ma túy cho M cầm để D lái xe. Khi D và M về đến quán, H2 ngồi trên gác xép, D bảo M lên gác xép lấy dụng cụ để sử dụng ma túy, nhưng M không tìm thấy. Sau đó, D lên gác xép lấy 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá (gồm 01 chai nhựa chứa nước, phần nắp chai nhựa dục 02 lỗ, gồm 01 lỗ cắm lõ thủy tinh và 01 lỗ cắm ống hút nhựa) để lên mặt bàn đặt trên giường để cả ba người cùng nhau sử dụng ma túy. M lấy túi ma túy ra đổ một nửa vào lõ thủy tinh, D châm lửa đốt và hút lượt đầu tiên, sau khi D hút xong thì lần lượt đến M và H2 hút, lúc này D vừa hút lượt thứ hai thì bị tổ công tác Công an huyện H kiểm tra phát hiện, bắt giữ. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) chai nhựa trong suốt, nắp chai màu vàng, bên trong chai chứa chất lỏng không màu và 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 08cm; 01 (một) túi nilon kích thước (2x2,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1); 01 (một) ống thủy tinh dài 10cm, một đầu uốn cong, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M2); 01 (một) ống thủy tinh hình bầu tròn dài 04cm, một đầu bám dính chất tinh thể màu trắng, bên trong bầu bám dính chất mầu nâu - trắng (kí hiệu M3); 01 (một) ống nhựa màu trắng kích thước 6,4cm; 01 (một) ống nhựa màu trắng kích thước 30,5cm; 01 đầu châm hình trụ tròn bằng kim loại; 01 (một) bật lửa màu xanh, một đầu cắm cây tăm bông; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, BKS 14L1 - 144.58; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Đặng Hồng D; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của Nguyễn Trọng M.

Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Văn Đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ, thu giữ: 01 hộp bìa cát tông đựng 17 (mười bảy) túi nilon kích thước (02x2,5)cm, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng (M4 đến M20); 01 (một) túi nilon kích thước (1,5x02)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (M21); 01 (một) lõ thủy tinh một đầu có hình bầu tròn, một đầu ống hình trụ tròn, bên trong thành ống và bên trong bầu tròn bám dính chất màu nâu trắng (M22); 01 (một) chai nhựa trong suốt, phần nắp có gắn ống hút và lõ thủy tinh, một đầu có hình bầu tròn, một đầu ống hình trụ tròn, bên trong thành ống và bên trong bầu tròn bám dính chất màu nâu vàng (M23); 01 (một) hộp bìa cát tông màu cam; 01 (một) hộp bìa cát tông màu xanh; 01 (một) hộp nhựa màu trắng; 02 (hai) ống hút nhựa màu đỏ; 01 (một) bật lửa màu đỏ gắn ống kim loại dài 08cm; 01 (một) hộp nhựa màu trắng; 259 (hai trăm năm chín) vỏ túi nilon; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone. Đinh Văn Đ khai nhận các vật chứng là túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, Đ cất giấu để bán kiếm lời.

Quá trình điều tra làm rõ:

Do muốn mua ma túy để bán kiếm lời, ngày 15/8/2024, Đinh Văn Đ đến một quán nước chè ngoài vỉa hè ở thành phố H, tỉnh Hưng Yên, mua của một người đàn ông tên N (không rõ lai lịch, địa chỉ) 3.500.000 đồng ma túy loại Methamphetamine đem về nhà chia thành 30 túi nhỏ, bán với giá 1.000.000 đồng/01 túi. Vào các ngày 16/8/2024, 19/8/2024, 29/8/2024, tại nhà Đ ở số nhà G, phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, Đ đã 03 lần bán ma túy cho Đặng Hồng D, mỗi lần 01 túi nilon ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng/01 túi. Sau khi mua được ma tuý của Đ, D đã một mình sử dụng hết.

Khoảng 16 giờ ngày 31/8/2024, Đinh Văn Đ rủ Chu Văn P sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của Đ ở số nhà G, phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đ đã chuẩn bị 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, lấy ma túy đưa vào bộ dụng cụ rồi cùng với P sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại phòng ngủ của Đức bộ dụng cụ còn bám dính chất ma túy, Đ thừa nhận là bộ dụng cụ Đ dùng để tổ chức cho Chu Văn P sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1415 ngày 08/9/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh Q, kết luận: mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M23 gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine; khối lượng như sau: Ml: 0,148 gam; M4: 0,291 gam; M5: 0,296 gam; M6: 0,305 gam; M7: 0,291 gam; M8: 0,297 gam; M9: 0,374 gam; M10: 0,252 gam; M11: 0,272 gam; M12: 0,302 gam; M13: 0,302 gam; M14: 0,291 gam; M15: 0,293 gam; M16: 0,289 gam; M17: 0,309 gam; M18: 0,307 gam; M19: 0,274 gam; M20: 0,317 gam; M21: 0,134 gam; M2, M3, M22, M23: dạng vết không xác định được khối lượng.

Tại bản Kết luận giám định 1416 ngày 08/9/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh Q, kết luận: tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Đặng Hồng D, Nguyễn Trọng M, Đinh Văn H2, Đinh Văn Đ, Chu Văn P gửi giám định.

Bản Cáo trạng số 1155/CT-VKSHH ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà truy tố bị cáo Đinh Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đặng Hồng D và Nguyễn Trọng M bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trong Cáo trạng. Đinh Văn Đ khai: đầu tháng 8/2024 Đ liên lạc qua Zalo với người đàn ông tên N (không rõ lai lịch, địa chỉ) để mua ma túy đá với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 15/8/2024 Đ đi xe khách đến thành phố H và hẹn N đến quán nước chè (không rõ địa chỉ), tại đây Đ đưa N 3.500.000đ để mua ma túy. Sau đó Đ mang về nhà cất giấu và xóa tài khoản zalo của N để tránh bị phát hiện. Đ tự ước lượng và chia số ma túy ra 30 túi nhỏ và dự kiến sẽ bán với giá 1.000.000đ/1 túi. Ngày 16/8; 19/8; 29/8 và 31/8/2024 Đ đã bán cho Đặng Hồng D 04 túi ma túy đá thu được 4.000.000₫ (D đã chuyển khoản đủ số tiền mua ma túy cho Đ). Ngoài ra chiều ngày 31/8/2024 Đ còn có hành vi chuẩn bị dụng cụ (chai nhựa cắm ống hút và lõ thủy tinh) và rủ Chu Văn P sử dụng ma túy ngay tại phòng ngủ của mình ở số nhà G phố L, thị trấn Đ, huyện Đ. Khi lực lượng công an đến nhà Đ khám xét thu giữ dụng cụ sử dụng ma túy và một lượng ma túy đá mà Đ cất giấu để bán kiếm lời.

Đặng Hồng D và Nguyễn Trọng M khai: ngày 31/8/2024 D rủ M đi Đ gặp Đ để mua 01 túi ma túy đá về sử dụng (D đã chuyển khoản cho Đ 1.000.000₫). Sau khi mua được ma túy cả hai trở về quán xăm của D ở ki ốt số 17B, chợ H3, thuộc khu H, thị trấn Q, huyện H. Tại đây D tìm và lấy dụng cụ để sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa chứa nước, phần nắp chai đục 02 lỗ (01 lỗ cắm lõ thủy tinh và 01 lỗ cắm ống nhựa). M lấy túi ma túy ra đổ một nửa ma túy trong túi vào lõ thủy tinh châm lửa và hút lượt đầu tiên. D và M châm cho nhau hút. D châm cho Đinh Văn H2 (là khách đến quán xăm) hút. Ở lượt thứ hai cũng tương tự như lượt thứ nhất (D là người châm cho M và H2 hút). D vừa hút lượt thứ ba thì có lực lượng công an đến kiểm tra, D sợ nên đã rút lõ thủy tinh trong chai nhựa ra, dùng tay phải bẻ gãy làm đôi thì bị mảnh thủy tinh vỡ của lõ cứa vào tay chảy máu. Lực lượng công an phát hiện các đối tượng đang sử dụng ma túy đã thu giữ dụng cụ và đưa D, M, H2 về trụ sở lập biên bản. D xác nhận trước đó đã 03 lần mua ma túy đá của Đ mỗi lần 1.000.000đ (đã chuyển khoản đủ 3.000.000đ cho Đ) và đã sử dụng hết.

Các bị cáo xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn B khai: năm 2019, ông mua 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha - Sirius màu xám đen, đăng ký biển kiểm soát 14L1 - 144.58 làm phương tiện đi lại của gia đình. Toàn bộ số tiền mua xe là của ông. Do ông bị mất căn cước công dân nên lấy tên con trai là Nguyễn Trọng M để đăng ký xe. Giấy tờ xe ông là người cất giữ. Ngày 31/7/2024, M tự ý lấy xe đi chơi, sau đó ông được biết M bị Công an huyện H bắt về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và sử dụng xe của ông để đi mua ma túy. Nay ông đề nghị xin lại chiếc xe để gia đình sử dụng.

Người làm chứng Chu Văn P và Đinh Văn H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện:

Chu Văn P là nhân viên quán bán ốc cho Đinh Văn Đ. P đã sử dụng ma túy đã với Đ nhiều lần. Chiều ngày 31/8/2024 Đ chuẩn bị dụng cụ và rủ P sử dụng ma túy đã tại phòng ngủ của Đ. Những lần Đ cho P sử dụng ma túy thì P đều không phải đóng góp tiền bạc hay công sức gì.

Đinh Văn H2 khai: Do có nhu cầu xăm mình nên chiều ngày 31/8/2024 Đinh Văn H2 đến quán xăm của D. Cả hai đi uống bia và H2 đã chuyển cho D 3.000.000đ để trả trước tiền xăm. Cả hai về quán xăm của D ở ki ốt 17B, chợ H3. Tại quán có M đến chơi. D rủ H2 sử dụng ma túy đã cho đỡ đau thì H2 đồng ý. Sau đó D và M lấy xe máy đi, một lúc sau cả hai về ki ốt. D là người chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy. M đổ ma túy vào lõ thủy tinh và châm để D sử dụng; D châm cho H2 sử dụng. Cả ba đã hút được hai lượt. Đến lượt thứ ba khi D vừa hút xong thì lực lượng công an đến kiểm tra lập biên bản được mọi người về trụ sở.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đinh Văn Đ phải chấp hành hình phạt từ 10 năm đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Hồng D từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng M từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy: phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1415/KL-KTHS ngày 08/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 chai nhựa; 03 ống nhựa; 02 bật lửa; 02 hộp nhựa; 02 hộp bìa cát tông; 259 vỏ túi nilon; 01 đầu châm hình trụ tròn bằng kim loại; 03 sim điện thoại: số 0796.452.xxx; 0339.400.156 và 0359.309.349;
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu của bị cáo Đặng Hồng D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu của bị cáo Đinh Văn Đ.
  • + Truy thu số tiền: 4.000.000đ của bị cáo Đinh Văn Đ có được do bán ma tuý nộp ngân sách Nhà nước;
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim 0339.937.753;
  • + Trả lại cho anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1966; nơi thường trú: khu phố M, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh 01 xe mô tô Yamaha Sirius màu xám đen BKS 14L1-144.58.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 31/8/2024, tại K-ốt 17B chợ trung tâm huyện H thuộc khu phố H, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Đặng Hồng D, Nguyễn Trọng M có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho Đinh Văn H2 sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt giữ.

Vào các ngày 16/8, 19/8, 29/8 và ngày 31/8/2024, tại số nhà G, phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, Đinh Văn Đ 04 lần bán ma túy cho Đặng Hồng D, mỗi lần 01 túi nilon ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng/01 túi. Ngoài ra, Đ còn có hành vi cất giấu trái phép 5,169gam ma tuý, loại Methamphetamine mục đích để bán.

Khoảng 16 giờ ngày 31/8/2024, tại số nhà G, phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, Đinh Văn Đ có hành vi tổ chức cho Chu Văn P sử dụng trái phép chất ma túy.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Văn Đ đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Hồng D và Nguyễn Trọng Minh P1 vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đã truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đó Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của việc mua bán, sử dụng ma túy, nhưng vì lối sống buông thả và nhu cầu cá nhân nên các bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội: mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lợi; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo Đ 04 lần bán ma tuý cho bị cáo D và rủ P sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Đ phạm tội độc lập phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của cá nhân mình. Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo D và bị cáo M, Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo D là người khởi xướng rủ rê H2 sử dụng ma túy; trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, châm cho H2 hút... nên giữ vai trò chính. Bị cáo M tiếp nhận ý chí, giúp sức đi cùng D mua ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; là người đổ ma túy vào lõ thủy tinh, châm cho D hút nên giữ vai trò sau bị cáo D.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Đặng Hồng D có 01 tiền án (ngày 26/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 24 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 23/7/2023 chấp hành xong hình phạt tù). Tính đến thời điểm vi phạm ngày 31/8/2024 D chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục vi phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ và bị cáo D có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội tàng trữ, sử dụng ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trước khi quyết dịnh hình phạt đối với các bị cáo.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo Đ, D và M đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma tuý được hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1415/KL-KTHS ngày 08/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 chai nhựa; 03 ống nhựa; 02 bật lửa; 02 hộp nhựa; 02 hộp bìa cát tông; 259 vỏ túi nilon; 01 đầu châm hình trụ tròn bằng kim loại; 03 sim điện thoại: số 0796.452.xxx; 0339.400.156 và 0359.309.349 không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu của bị cáo D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu của bị cáo Đ là phương tiện các bị cáo dùng liên lạc mua bán ma tuý, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước;
  • - Số tiền 4.000.000đ của bị cáo Đ có được từ việc bán ma tuý nên cần buộc bị cáo nộp lại sung ngân sách Nhà nước;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim 0339.937.753 là tài sản riêng của bị cáo Nguyễn Trọng M, không liên quan đến hành vi phạm tôi nên trả lại cho bị cáo.
  • - Chiếc xe mô tô BKS 14L1-144.58, bị cáo M sử dụng chở bị cáo D đi mua ma túy. Qua xác minh là tài sản của ông Nguyễn Văn B (bố đẻ của bị cáo M). Ông Bằng K biết M lấy xe đi để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, do đó cần trả lại xe mô tô cho ông B.

[7] Đối với người đàn ông tên N bán ma túy cho Đinh Văn Đ quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Đinh Văn H2 và Chu Văn P có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Đinh Văn Đ, Đặng Hồng D và Nguyễn Trọng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đinh Văn Đ 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đinh Văn Đ phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024.
  2. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đặng Hồng D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024.
  3. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng M 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024.
  4. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 1415/KL-KTHS ngày 08/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 chai nhựa; 03 ống nhựa; 02 bật lửa; 02 hộp nhựa; 02 hộp bìa cát tông; 259 vỏ túi nilon; 01 đầu châm hình trụ tròn bằng kim loại; 03 sim điện thoại: số 0796.452.xxx; 0339.400.156 và 0359.309.349;
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu của bị cáo D; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu của bị cáo Đ.
    • - Truy thu số tiền: 4.000.000đ (bốn triệu đồng) của bị cáo Đinh Văn Đ nộp ngân sách Nhà nước;
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen gắn sim 0339.937.753;
    • - Trả lại cho anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1966; nơi thường trú: khu phố M, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xám đen BKS 14L1-144.58.

    Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 07/2024/THA ngày 12/11/2024.

  5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc Đinh Văn Đ, Đặng Hồng D và Nguyễn Trọng M mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND huyện Hải Hà;
  • - HSNV CA huyện Hải Hà;
  • - CCTHADS huyện Hải Hà;
  • - CQTHAHS, CQĐT CA huyện Hải Hà
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.
  • - Các bị cáo; người có qlnv liên quan
  • - THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do muốn mua ma túy để bán kiếm lời, ngày 15/8/2024, Đinh Văn Đ đến một quán nước chè ngoài vỉa hè ở thành phố H, tỉnh Hưng Yên, mua của một người đàn ông tên N (không rõ lai lịch, địa chỉ) 3.500.000 đồng ma túy loại Methamphetamine đem về nhà chia thành 30 túi nhỏ, bán với giá 1.000.000 đồng/01 túi. Vào các ngày 16/8/2024, 19/8/2024, 29/8/2024, tại nhà Đ ở số nhà G, phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, Đ đã 03 lần bán ma túy cho Đặng Hồng D, mỗi lần 01 túi nilon ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng/01 túi. Sau khi mua được ma tuý của Đ, D đã một mình sử dụng hết. Khoảng 16 giờ ngày 31/8/2024, Đinh Văn Đ rủ Chu Văn P sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của Đ ở số nhà G, phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh. Đ đã chuẩn bị 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, lấy ma túy đưa vào bộ dụng cụ rồi cùng với P sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại phòng ngủ của Đức bộ dụng cụ còn bám dính chất ma túy, Đ thừa nhận là bộ dụng cụ Đ dùng để tổ chức cho Chu Văn P sử dụng trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger