Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng

    Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Hương và bà Phan Thị Mấy.

  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa:

    Ông Trương Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 28/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên Trần Công T, sinh năm 1987. Tại: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Công P, sinh năm 1947, con bà: Ngô Thị Thanh T1, sinh năm 1949. Vợ: Lê Thị T2, sinh năm 1987. Bị cáo có hai người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018. CCCD số: [...], cấp ngày 15 tháng 12 năm 2021. Nơi cấp: Cục C2 - Bộ C3.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Vi Văn S, sinh năm 1994; Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Hà Thị H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (Vợ bị hại). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Quang B, sinh năm 2002. Địa chỉ: Xóm N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Chị Lộc Thị C, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2007; Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Chị Lê Thị T2, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  4. Chị Hà Thị H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người giám hộ cho Lộc Thị C: Anh Lộc Văn P1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hà Văn C1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ sáng, ngày 16/3/2024, Trần Công T, sinh năm 1987 trú tại: Khu phố T, Thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-021.75 chở theo vợ là Lê Thị Thanh đ từ nhà tại: Khu phố T, Thị trấn M, huyện M theo đường T đến xã M, huyện M để bán kem. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Công T điều khiển xe ô tô đến Km32+00 đường Vành đai biên giới Việt Nam - Lào đoạn qua địa phận bản Chai, xã M, huyện M. Khi đi đến khúc cua bên trái theo hướng đi của T, do T không chú ý quan sát và điều khiển xe đi không đúng phần đường của mình (lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều) nên đã xảy ra va chạm giao thông với 01 (một) xe máy biển kiểm soát 36K1- 067.92 do Vi Văn S, sinh năm 1994, trú tại: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa điều khiển đi hướng ngược lại, sau xe chở theo hai người ngồi sau là Nguyễn Quang B, sinh năm 2002 trú tại thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định và chị Lộc Thị C, sinh ngày 21/3/2007 trú tại: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa

(Nguyễn Quang BLộc Thị C không đội mũ bảo hiểm). Sau khi bị va chạm, do hoảng loạn nên T không kịp đạp phanh xe mà đánh lái xe sang hướng bên phải của và tiếp tục kéo lê theo chiếc xe máy va chạm đang kẹt phía bên trái đầu xe ô tô đi thêm một đoạn thì xe ô tô mới dừng lại. Hậu quả:

  • + Về người: Anh Vi Văn S, sinh năm 1994, trú tại: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa tử vong tại chỗ;

    Lộc Thị CNguyễn Quang B bị thương và được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện M, tỉnh Thanh Hóa khám, chữa trị.

  • + Về tài sản: Xe ôtô BKS 29H-021.75 và xe mô tô BKS 36K1-067.92 bị hư hỏng một phần.

Sau khi gây tai nạn giao thông, Trần Công T xuống xe và đã gọi điện nhờ người báo Công an và nhờ người đưa những người bị nạn đi cấp cứu, sau đó Trần Công T đến Công an xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa đầu thú và thành khẩn khai báo toàn bộ nội dung vụ việc.

Khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện M phối hợp với VKSND huyện Mường Lát và các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, phương tiện và khám nghiệm tử thi thể hiện như sau:

* Về khám nghiệm hiện trường:

Nơi xảy ra tai nạn tại Km 32 + 00 đường vành đai biên giới thuộc địa phận bản Chai, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Trên đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông không có giải phân cách, không có vạch kẻ đường, chiều rộng mặt đường là 05m, lề đường là 1,7m. Không phát hiện thấy biển báo hiệu đường bộ, đây là đoạn đường cong, mặt đường rải nhựa, mặt đường phẳng, dốc thoai thoải. Lấy cột điện bê tông có ký hiệu VNPT 041P/20012517 thuộc địa phận bản Chai, xã M, huyện M làm điểm mốc. Lấy mép đường bên trái theo hướng đi từ bản Chai, xã M đi bản L, xã M đường vành đai biên giới thuộc địa phận bản C, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa làm mép đường chuẩn.

Các phương tiện, dấu vết tại hiện trường được đánh số thứ tự như sau: (1) là vị trí vết lốp xe thứ nhất; (2) là vị trí vết lốp xe thứ hai; (3) là vị trí vết cà trượt trên

mặt đường; (4) là vị trí nạn nhân tử thi; (5) là vị trí điểm mốc; (6) là vị trí xe ô tô BKS 29H-021.75; (07) là vị trí xe máy BKS 36K1-067.92. Cụ thể:

  • + (1): Chiều dài vết lốp xe thứ nhất từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc của vết dài 2,6m, rộng 0,4m, cách mép đường chuẩn 0,5m. Cách mép trong vết lốp thứ hai 1,1m, vết có chiều từ trước về sau, bề mặt vết có bám dính chất màu đen dạng cao su.

  • + (2): Chiều dài vết lốp thứ hai từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc 2,9m, rộng 0,45m, cách vết lốp thứ nhất 1,1m, vết có chiều từ trước về sau, bề mặt vết có các vết cà trượt, từ trước có vết xước song song làm mòn bề mặt đường có bám dính chất màu đen dạng cao su.

  • + (3): Chiều dài vết cà trượt trên mặt đường dài 35m, rộng trong diện 0,3m, điểm đầu mép cách mép đường chuẩn 0,1m, cách mép trong lề đường 1,6m, cách vị trí nạn nhân 01m, điểm cuối vết cách mép đường chuẩn 1,6m. Tại điểm đầu vết tạo thành vết lõm, xước dạng đứt đoạn trên mặt đường sau đó tỳ trượt tạo thành vết dài liền mạch đến điểm kết thúc ngay tại giá để chân trước bên phải xe máy BKS 36K1-067.92. Xung quanh điểm đầu vết có các mảnh nhựa, kính vỡ vụn.

  • + (4): Nạn nhân tử thi mặc áo phông cộc tay màu đen, bên ngoài mặc quần dài màu đen, trên phần đầu, chân, tay có các vết thương xước da. Đầu quay về hướng Bắc, chân quay về hướng N, nằm sát mép đường. Cách điểm mốc 8,4m, cách trục sau bên trái xe ô tô BKS 29H-021.75 dài 21,8m, cách trục trước xe máy BKS 36K1-067.92 dài 24m.

  • + (5): Điểm mốc là cột điện bê tông có ký hiệu VNPT 041P/20012517 thuộc địa phận bản Chai, xã M, huyện M.

  • + (6): Trục sau bên trái xe ô tô BKS 29H-021.75 cách mép đường chuẩn 1,9m, cách tâm đường vuông góc điểm mốc 24m, trục trước bên trái xe ô tô đè lên phần bánh sau xe máy BKS 36K1-067.92, cách mép đường chuẩn 1,8m. Phần đầu xe quay hướng Tây-B.

  • + (7): Trục trước xe máy BKS 36K1-067.92 cách mép đường chuẩn 1,7m, trục sau xe máy bị đè dưới bánh trước bên trái xe ô tô BKS 29H-021.75 cách mép đường chuẩn 1,6m. Phần đầu xe quay hướng Đông Nam.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện

Tại bản Kết luận giám định số 1412/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • + Va chạm giữa xe ô tô BKS 29H-021.75 với xe mô tô BKS 36K1-067.92:

  • + Điểm va chạm đầu tiên: Mặt trước ngoài đầu bên trái ốp ba-đờ-xốc trước xe ô tô BKS 29H-021.75 (ảnh 7) với mặt và má trái lốp trước, tương ứng từ hàng chữ “MADE IN VIET NAM” xe mô tô BKS 36K1-067.92 (ảnh 22).

  • + Tại thời điểm va trạm hai xe chuyển động ngược chiều nhau.

  • + Vị trí va chạm nằm trước đầu vết cà trượt (3), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc bên phải đường theo chiều từ bản Lách đi bản Chai.

  • + Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.

  • + Không đủ cơ sở xác định va chạm giữa xe ô tô BKS 29H-021.75 với các nạn nhân.

* Kết quả khám nghiệm tử thi Vi Văn S:

Tại Kết luận giám định số 1286/KLGĐTT-PC09 ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết đối với Vi Văn S là do sốc mất máu do đứt hoàn toàn động mạch chủ ngực/Cơ thể đa chấn thương.

* Kết quả kiểm tra, giám định nồng độ cồn và chất ma tuý trong cơ thể Trần Công T

Hồi 16 giờ 15 phút, ngày 16/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện M phối hợp Đội Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an huyện M tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Công T bằng máy đo nồng độ cồn do Bộ C3 cấp phát, loại Liber SH, số Seri KS650119. Kết quả: Tại thời điểm đo nồng độ cồn trong hơi thở của anh Trần Công T là 0 mg/L (Không miligam trên 1 lít khí thở)

Tại bản Kết luận giám định số 1451/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu của Trần Công T, sinh năm 1987 trú tại: Khu phố T, TT M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa niêm phong gửi giám định không có cồn.

* Kết quả giám định nồng độ cồn và chất ma tuý trong cơ thể Vi Văn S:

- Tại bản Kết luận giám định số 1477/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu máu của Vi Văn S, sinh năm 1994 trú tại bản Chai, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa niêm phong gửi giám định có nồng độ cồn là 161,17mg/100ml máu (Một trăm sáu mốt phẩy mười bảy miligam trên một trăm mililit máu)

- Tại bản Kết luận giám định số 2938/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của V Bộ C3 kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu máu thu giữ của tử thi Vi Văn S gửi giám định.

* Kết quả giám định thương tích đối với Lộc Thị C và Nguyễn Quang B:

Căn cứ vào biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, hồ sơ bệnh án và lời khai của Lộc Thị C, Nguyễn Quang B xác định các thương tích do vụ tai nạn giao thông gây ra đối với Lộc Thị CNguyễn Quang B chỉ là vết thương xây xát ngoài da, hiện tại sức khoẻ của Lộc Thị CNguyễn Quang B đã hoàn toàn bình phục. Lộc Thị CNguyễn Quang B đều có đơn từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện M không tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Lộc Thị CNguyễn Quang B.

* Đồ vật, tài sản tạm giữ gồm:

  • - Tạm giữ của Trần Công T: 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát BKS 29H-021.75, nhãn hiệu Hyundai, loại xe tải đông lạnh, màu sơn trắng, trọng tải hàng hoá 1000kg, số máy D4CB5932726, số khung S7JP5U141441, số loại PORTER II, dung tích 2497, xe đã bị hư hỏng một phần; 01 (một) đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 29H-021.75 mang tên Nguyễn Văn N; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với xe ô tô BKS 29H-021.75; 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Trần Công T, hạng B2, số [...] do Sở GTVT Thành phố H cấp ngày 19/10/2017 (Công văn số 2860/SGTVT-QLPT&NL ngày 21/5/2024 của Sở GTVT Thành phố H, v/v trả lời xác minh GPLX, xác nhận Giấy phép lái xe hạng B2 có nội dung trên của Trần Công T là thật).

  • - Tạm giữ của Vi Văn S: 01 (một) xe máy Biển kiểm soát 36K1-06792, nhãn hiệu HONDA, số máy JA38E0347038, số khung, 3822GY161051, màu sơn Đen

Xanh, số loại Wave RSX, xe đã bị hư hỏng một phần sau tai nạn; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 36K1-067.92 mang tên Vi Văn S, số 004299.

- Tạm giữ tại hiện trường vụ tai nạn các mảnh nhựa, kính vỡ rơi trên mặt đường.

* Về phần dân sự:

- Đối với phần hư hỏng của xe ôtô BKS 29H-021.75 sau tai nạn, Trần Công T không yêu cầu định giá tài sản, tự sửa chữa phương tiện của mình. Đối với xe máy biển kiểm soát 36K1-067.92, nhãn hiệu HONDA, số máy JA38E0347038, số khung, 3822GY161051, màu sơn đen-xanh, số loại Wave RSX, xe đã bị hư hỏng một phần sau tai nạn, bà Hà Thị H (vợ của Vi Văn S) không yêu cầu định giá tài sản, tự sửa chữa phương tiện của mình.

- Trần Công T đã tự nguyện bồi thường số tiền là 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) trong đó bao gồm: 80.000.000đ (T3 mươi triệu đồng) tiền mai táng phí cho Vi Văn S; 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tiền hỗ trợ bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình Vi Văn sầm; 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng) tiền hỗ trợ cấp dưỡng một lần nuôi 03 (ba) con nhỏ của Vi Văn S. Chị Hà Thị H (là vợ của Vi Văn S) đồng ý, đã nhận đủ số tiền bồi thường, cam kết không khiếu nại, khiếu kiện và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời bà Hà Thị H cũng đã có đơn đề nghị Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, truy tố, giảm nhẹ, miễn trách nhiệm hình sự cho Trần Công T;

- Trần Công T cũng đã thoả thuận và bồi thường cho Nguyễn Quang B số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) bao gồm toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, chi sinh hoạt đi lại trong quá trình khám chữa bệnh. Nguyễn Quang B đồng ý và đã nhận đủ số tiền bồi thường và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Trần Công T cũng đã thoả thuận và bồi thường cho Lộc Thị C số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) bao gồm toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, chi sinh hoạt đi lại trong quá trình khám chữa bệnh, hỗ trợ tổn thất tinh thần. Lộc Thị C đồng ý và đã nhận đủ số tiền bồi thường, cam kết không khiếu nại, khiếu kiện và yêu cầu

bồi thường gì thêm. Ngày 19/3/2024, Lộc Thị C cũng có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Công T

Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số: 47/CT-VKS-ML ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Trần Công T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, công nhận bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị T2 Trình bày: Tiền mua chiếc xe ô tô là tiền chung của chị và của chồng là bị cáo Trần Công T, nay chị đã được nhận lại chiếc xe này, chị không có ý kiến gì; đối với số tiền dùng để bồi thường cho gia đình bị hại, cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì đây cũng có phần tiền của gia đình và đi vay mượn, nhưng chị không yêu cầu bị cáo Trần Công T trả cho chị, vì chị và Trần Công T là vợ chồng.

Người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Hà Thị H, đồng thời là người có quyền lượi nghĩa vụ liên quan đã có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày trong đơn là: Đã nhận đủ số tiền 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) mà Trần Công T đã bồi thường và cũng đã nhận lại chiếc xe máy, nên không yêu cầu bị cáo Trần Công T bồi thường thêm gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quang BLộc Thị C đều có đơn xin xét xử vắng mặt, và đã trình bày là nhận đủ số tiền Trần Quang T4 bồi thường (Anh Nguyễn Quang B đã nhận đủ 4.000.000đ; Chị Lộc Thị C đã nhận đủ 10.000.000₫), nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tranh luận và luận tội: Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên, bị cáo Trần Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 20 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 40 tháng. Giao bị cáo Trần Công T cho UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có chức vụ, nghề nghiệp gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 thùng catton màu xanh bên trong thùng có dòng chữ “có các mảnh nhựa, kính vỡ”; Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số: 30077386589 mang tên Trần Công T.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo Trần Công T đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo, vì bị cáo thường xuyên sinh sống ở vùng có điều KT-XH đặc biệt khó khăn.

Bị cáo nhận tội, không thay đổi, không bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị T2 không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy rất ân hận về lỗi của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án thấp nhất có thể và cho hưởng treo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, làm người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ, khách quan, nghiêm túc các bước điều tra, truy tố theo đúng nguyên tắc tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người giám hộ cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lộc Thị C đã có đơn xin xét xử vắng mặt; người chứng kiến vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, những người này đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. HĐXX căn cứ vào Điều 292, Điều 293 tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người này.

[2] Xét về tư cách tố tụng trong vụ án: Xét trong vụ án này người bị hại Vi Văn S đã chết có người đại diện hợp pháp là chị Hà Thị H (vợ anh S).

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến, khám nghiệm hiện trường, khám xét xét dấu vết trên phương tiện, kết luận giám định, mổ tử thi... và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 16/3/2024, Trần Công T (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29H-021.75 chở theo vợ là Lê Thị Thanh đ từ nhà tại Khu phố T, Thị trấn M, huyện M theo đường T đến xã M, huyện M để bán kem. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Công T điều khiển xe ô tô đến Km32+00 đường Vành đai biên giới Việt Nam - Lào đoạn qua địa phận bản Chai, xã M, huyện M. Đường đang lên dốc, khi đến khúc cua về phía bên trái theo chiều đi của Trần Công T, do Trần Công T không chú ý quan sát khi vào khúc cua và điều khiển xe đi không đúng phần đường

của mình (đã lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều), nên đã xảy ra va chạm giao thông với 01 xe máy biển kiểm soát 36K1- 067.92 do anh Vi Văn S điều khiển đi hướng ngược lại, sau xe chở theo hai người là Nguyễn Quang BLộc Thị C. Sau khi bị va chạm xảy ra, anh Vi Văn S, Nguyễn Quang BLộc Thị C văng ra khỏi xe máy, rơi xuống mương và lề đường bên trái theo chiều đi của Trần Quang T4, còn Trần Quang T4 do hoảng loạn nên T4 không kịp đạp phanh xe mà tiếp tục kéo lê theo chiếc xe máy đang kẹt phía bên trái đầu xe ô tô đi thêm một đoạn thì xe ô tô mới dừng lại. Hậu quả anh Vi Văn S tử vong tại chỗ, theo kết luận giám định pháp y thì nguyên nhân chết do sốc mất máu do đứt hoàn toàn động mạch chủ ngực/ cơ thể đa chấn thương.

Như vậy, bị cáo Trần Công T khi tham gia gia giao thông đã không chú ý quan sát, đi không đúng phần đường của mình (Lấn sang phần đường dành cho cho người đi ngược chiều), hành vi của bị cáo đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và vi phạm điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP28/12/2021 đó là hành vi dẫn va chạm giao thông. Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng sức khỏe, tài sản của người khác, hậu quả làm chết 01 người, nguyên nhân bị hại chết là đứt hoàn toàn động mạch chủ ngực/cơ thể đa chấn thương. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Trần Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS, như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát là đúng người đúng tội đúng pháp luật, không oan sai.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên bị cáo đã bảo vợ bị cáo ở lại cứu giúp người bị nạn, đồng thời gọi điện thoại cho người nhà của bị hại đến hiện trường và bị cáo đã ra đầu thú tại Công an xã M; trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo đã tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bố mẹ bị cáo đều là người có

công với cách mạng được Đảng, Nhà nước tặng khen nhiều Huân, Huy chương; bị cáo được gia đình bị hại làm đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự. Vì vậy, HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Xét về hình phạt:

Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thì HĐXX cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ lỗi, hành vi của bị cáo đã gây ra để răn đe, phòng ngừa; Nhưng xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý, trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; Nên, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục, vẫn đủ sức răn đe, phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm. Thấy rằng đề nghị và hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có chức vụ, nghề nghiệp gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Xét về vật chứng và biện pháp tư pháp:

Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại: 01 xe ô tô biển kiểm soát 29H-021.75, cùng với giấy tờ xe là 01 đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 29H-021.75 mang tên Nguyễn Văn N; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với xe ô tô BKS 29H-21.75 cho Trần Công T.

Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại 01 xe môtô 36K1-067.92, cùng với giấy tờ xe là 01 đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 36K1-067.92 mang tên Vi Văn sầm, số 004299, xe đã qua sử dụng cho chị Hà Thị H (Vợ anh S).

Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe số 30077386589, mang tên Trần Công T, vì đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy 01 thùng catton màu xanh bên trên thùng có dòng chữ các mảnh nhựa, kính vỡ của vụ tai nạn giao thông, vì không còn giá trị sử dụng.

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo tiếp tục được thực hiện để đảm bảo cho việc thi hành án.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, bị cáo Trần Công T và chị Lê Thị T2 (là vợ bị cáo) đã tích cực khắc phục hậu quả và đã tự nguyện bồi thường số tiền 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng), trong đó bao gồm: 80.000.000đ là tiền mai táng phí cho anh Vi Văn S; 100.000.000đ tiền hỗ trợ bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần cho gia đình Vi Văn S; 170.000.000₫ là tiền cấp dưỡng một lần nuôi 03 (ba) con nhỏ của anh Vi Văn S. Chị Hà Thị H (là vợ của Vi Văn S) đồng ý và đã nhận đủ số tiền bồi thường, cam không khiếu nại, khiếu kiện và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên, bị cáo Trần Công T không phải bồi thường gì thêm.

Trong quá trình điều tra, Trần Công T cũng đã thoả thuận và bồi thường cho Nguyễn Quang B số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) bao gồm toàn bộ chi phí khám chữa bệnh, chi sinh hoạt đi lại trong quá trình khám chữa bệnh. Nguyễn Quang B đồng ý và đã nhận đủ số tiền bồi thường và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện và không yêu cầu bồi thường gì thêm; Trần Công T cũng đã thoả thuận và bồi thường cho Lộc Thị C số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) bao gồm toàn bộ chi phía khám chữa bệnh, chi sinh hoạt đi lại trong quá trình khám chữa bệnh, hỗ trợ tổn thất tinh thần. Lộc Thị C đồng ý và đã nhận đủ số tiền bồi thường, cam kết không khiếu nại, khiếu kiện và yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên, bị cáo Trần Công T không phải bồi thường gì thêm cho 02 người này.

Chị Lê Thị T2 (là vợ bị cáo) đã cùng bị cáo, dùng số tiền của gia đình chị và bị cáo để bồi thường cho gia đình bị hại, cho những người có quyền lợi nghĩa vụ leien quan. Tại phiên tòa, chị không yêu cầu bị cáo Trần Công T trả lại.

[8]. Xét về phần án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo không thuộc đối tượng được miễn án phí, nên HĐXX buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm

nghìn đồng) án phí HSST; Số tiền bồi thường dân sự, cấp dưỡng, do bị cáo đã thực hiện bồi thường trước khi mở phiên tòa, nên bị cáo không phải nộp án phí dân sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[9]. Các nhận định khác:

Đối với hành vi tham gia giao thông mà có nồng độ cồn trong máu của Vi Văn S, điều khiển xe chở quá số người quy định, đã vi phạm khoản 8 Điều 8, Luật giao thông đường bộ năm 2008 và điểm k khoản 2 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ). Tuy nhiên, Vi Văn S đã tử vong nên Cơ quan CSĐT Công an huyện M không xử lý.

Đối với hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe ô tô theo quy định khi mua ô tô Biển kiểm soát 29H-021.75 và không mang theo Giấy phép lái xe ô tô theo quy định khi tham gia giao thông vào ngày 16/3/2024 của Trần Công T; hành vi không đội mũ bảo hiểm của Lộc Thị CNguyễn Quang B khi được Vi Văn S chở trên xe máy BKS 36K1-067.92 vào ngày 16/3/2024 là vi phạm pháp luật hành chính. Cơ quan CSĐT Công an huyện M chuyển nội dung vi phạm đến Đội CSQLHC về TTXH, Công an huyện M để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố, bị cáo Trần Công T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Công T 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2024).

Giao bị cáo Trần Công T cho UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về tang vật và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Trả lại cho bị cáo Trần Công T 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Trần Công T, hạng B2, cấp ngày 19/10/2017, số 30077386589.

Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng catton màu xanh bên trên thùng có dòng chữ các mảnh nhựa, kính vỡ của vụ tai nạn giao thông được niêm phong bởi chữ ký ghi rõ họ tên, Lương Đức T5, Đặng Văn D, Phạm Văn H1, Hà Văn T6 và các hình dấu của Công an xã M, tỉnh Thanh Hóa làm giáp lai

Vật chứng, giấy tờ trên đang được lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 57/2024/TV-CCTHADS ngày 28/8/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 34/2024/LCĐKNCT-TAML ngày 28/8/2024 tiếp tục được thực hiện để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra. Bị cáo khong phải bồi thường gì thêm.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Công T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST. Bị cáo không phải nộp án phí dân sự do đã bồi thường trước khi mở phiên tòa.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai, có mặt bị cáo và có mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị T2; Vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quang B, Hà Thị H, Lộc Thị C và người giám hộ cho Lộc Thị C; Bị cáo và người có có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự căn cứ Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Mường Lát;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an H. Mường Lát;
  • - Bộ phận hồ sơ - Công an H. Mường Lát;
  • - Cơ quan THAHS - CA huyện Mường Lát;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Lát;
  • - UBND thị trấn Mường Lát, H. Mường Lát;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ Thi hành án Hình sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử thông thường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger