|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Minh Côn
2. Ông Nguyễn Việt Hưng
- Thư ký phiên toà: Ông Ma Đình Dũng - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Ngọc H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05/6/1973; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm F, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Ngọc T và bà: Nguyễn Thị S; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Có vợ là: Trần Thị T1, sinh năm 1973; Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 33/2020/HSST ngày 29/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ tuyên phạt Trương Ngọc H 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/8/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1973 (Có mặt tại phiên toà).
Nơi cư trú: Xóm F, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1953 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 28/12/2023, Công an xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực đường dân sinh thuộc xóm C, xã B, huyện Đ, phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô gắn BKS: 20H5-8268 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác Công an xã B đã yêu cầu kiểm tra thì người đàn ông này chấp hành và khai nhận họ tên là Trương Ngọc H. Sau đó, H tự giác giao nộp cho tổ công tác 02 (hai) gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, H khai là H1 mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 02 (hai) gói giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, được niêm phong bì ký hiệu A và 01 xe mô tô BKS: 20H5-8268, nhãn hiệu SYM. Xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã B đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng thu giữ cùng đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 07 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Trương Ngọc H. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 18 giờ 10 phút ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã phối hợp với Phòng K - Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Trương Ngọc H có trong phong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,224 gam, lấy toàn bộ niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 làm mẫu giám định. Vỏ giấy gói và vỏ phong bì A được niêm phong vào phong bì A2 để phục vụ công tác điều tra.
Tại Kết luận giám định số 149/KL - KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,224 gam.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Trương Ngọc H khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực cổng trường Đại học N, H đã mua 02 (hai) gói chất ma túy loại Heroine được gói bằng giấy màu vàng với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không quen biết. Sau đó, H cất vào trong túi áo phía trước ngực H đang mặc và đi về. Đến khoảng 16 giờ 15 phút ngày 28/12/2023, H điều khiển xe mô tô BKS 20H5-8268 đi sửa điện thoại và mua xăng, khi đi có mang theo 02 (hai) gói Heroine trên, vẫn đang cất trong túi áo phía trước ngực H đang mặc. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày trên đường về nhà khi đi đến đường dân sinh thuộc xóm C, xã B, huyện Đ thì bị Tổ công tác Công an xã B bắt quả tang, lập Biên bản và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là số Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu);
- + 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong ký hiệu A);
- + 01 xe mô tô BKS 20H5-8268. Xác định là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Trần Thị T1.
Hiện toàn bộ số vật chứng trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSĐT, ngày 01/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trương Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trương Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
- + Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên ký hiệu: A1 và A2.
- + Trả lại cho bà Trần Thị T1 01 chiếc xe mô tô BKS 20H5 - 8268 để quản lý và sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, tại khu vực xóm C, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trương Ngọc H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,224 gam chất ma túy loại Heroine thì bị Tổ công tác Công an xã B, huyện Đ bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Về nguồn gốc số Heroine, H khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng trường Đại học N với số tiền 300.000 đồng, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trương Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển .... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
a)....
c) Heroin... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi của bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Nên cần được xử lý nghiêm minh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng có nhân thân xấu: Là đối tượng nghiện ma tuý nhiều năm và đã bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2020 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, tự tu dưỡng, rèn luyện thành người công dân tốt mà tiếp tục phạm tội.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Trương Ngọc T được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt:
Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. HĐXX thấy, khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; tuy nhiên, cũng xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời. Mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[6]. Vật chứng của vụ án:
- Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1 và A2 là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối 01 chiếc xe mô tô BKS 20H5-8268 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9]. Các nội dung có liên quan khác: Bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng trường Đại học N. Do không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ của người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra - Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trương Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Ngọc H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Quyết định tạm giam bị cáo Trương Ngọc H 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 đều còn nguyên tình trạng niêm phong.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô BKS 20H5-8268.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ - VKSĐT ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Triệu Cẩm Chi |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
