Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 25-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Duy Hải.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phi Long, ông Trần Văn Sinh và bà Đỗ Thị Xanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thanh H – Sinh ngày 08/8/1990, tại: Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ D, khu A, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở trước khi bị bắt: tổ G, khu A, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nữ; con ông: Vũ Đức Q và bà: Mạc Thị Â; có chồng: Lê Đình N (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú ngày 28/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thu H1 - Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q, địa chỉ: khu D, đường P, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Đỗ Thanh T, sinh năm 1985; nơi thường trú: tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: phòng 2403 chung cư H, M, quận N, thành phố Hà Nội, có mặt.
  2. Anh Hoàng Bá N1, sinh năm 1994 và chị Đặng Thị T1, sinh năm 1997; nơi thường trú: thôn D, xã N, huyện C, Hà Nội; nơi ở hiện nay: tổ G, Khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
  3. Anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1990; nơi thường trú: tổ A, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

- Những người làm chứng:

  1. Anh Trương Trường T2, sinh năm 1995, vắng mặt.
  2. Anh Trần Văn K, sinh năm 1984, vắng mặt.
  3. Anh Lê Văn H2, sinh năm 1992, vắng mặt.
  4. Anh Lê Đình N, sinh năm 1987, vắng mặt.
  5. Chị Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1988, vắng mặt.
  6. Chị Vũ Phương L, sinh năm 1997, có mặt.
  7. Chị Phạm Ngọc A, sinh năm 1982, vắng mặt.
  8. Chị Nguyễn Thị Hải V, sinh năm 1996, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Thanh H làm nghề dịch vụ môi giới mua, bán kinh doanh bất động sản từ năm 2021. Tháng 2/2022, H thành lập Công ty cổ phần Đ1 do H làm giám đốc, địa chỉ tại: Khu đô thị M, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trong thời gian hành nghề môi giới, Vũ Thanh H đã dùng nhiều thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của các cá nhân trên địa bàn thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và quận N, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra xác định: trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2022, Vũ Thanh H đã thực hiện 03 vụ với tổng số tiền chiếm đoạt là 1.186.000.000đồng (một tỷ một trăm tám mươi sáu triệu đồng). Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: từ năm 2021, H có quan hệ tình cảm với anh Đỗ Thanh T. Do làm ăn thua lỗ và nợ nhiều người, H đã này sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Tháng 5/2021, H nói dối với anh T: H đang thiếu tiền để đầu tư thửa đất số 118, tờ bản đồ số 39, diện tích 900m2 tại địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, với giá 1.200.000.000 đồng và đề nghị anh T đầu tư chung với số tiền 600.000.000 đồng, trong khi thực tế H không thực hiện đầu tư nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên. Do tin tưởng những thông tin H đưa ra là có thật nên anh T đồng ý. Ngày 01/6/2021, anh T đã sử dụng điện thoại cá nhân chuyển khoản trước 200.000.000 đồng cho H, H đã dẫn anh T đến khu vực Thửa đất số 118 để anh T xác định được vị trí thửa đất và tin tưởng H hơn. Ngày 19 và ngày 27/6/2021, anh T hai lần chuyển tiếp cho H số tiền 100.000.000đồng và 300.000.000đồng. Tổng số tiền đã nhận 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng), H đem trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.

Tháng 07/2022, anh T đề nghị bán thửa đất, H lại gian dối nói đất không bán được. Để anh T tin tưởng, H tiếp tục nói dối sẽ chia cho anh T 300m2 (trong tổng số 900m2) của thửa đất trên. Ngày 18/7/2022, H nhân danh Công ty cổ phần Đ1 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng Thửa đất 118 cho anh T. H yêu cầu anh T đưa thêm 21.000.000 đồng (hai mốt triệu đồng) để chi phí làm thủ tục tách thửa, sang tên. Ngày 15/8/2022, anh T chuyển khoản cho H 24.000.000 đồng (gồm: chi phí tách thửa, sang tên 21.000.000 đồng; cho con của H 3.000.000 đồng). Sau đó, H đã lên mạng xã hội facebook tìm gặp một người không rõ lai lịch, đặt làm 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với giá 15.000.000 đồng, trong đó có nội dung xác lập anh Đỗ Thanh T được quyền sử dụng 300m2 đất. Đến tháng 12/2022, H nhận được 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả có ghi số CĐ 402354 và do Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành ngày 21/11/2022, chủ sử dụng đất Đỗ Thanh T. Do lúc này, giữa H và anh T đang có mâu thuẫn tình cảm, nên H gửi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho anh T qua dịch vụ chuyển phát nhanh; anh T nhận giấy đã nghi ngờ và điện thoại hỏi, H vẫn cam kết đây là giấy tờ thật. Ngày 30/6/2023, anh T đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đ kiểm tra thì được biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 402354 là giả nên tố giác đến Công an huyện Đ và Công an quận N. Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 402354 ghi ngày 21/11/2022 do UBND huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh ban hành, chủ sử dụng đất anh Đỗ Thanh T.

Vụ thứ hai: mặc dù Công ty cổ phần Đ1 hoạt động không hiệu quả, liên tục thua lỗ, nhưng H luôn đưa ra thông tin gian dối về uy tín, tiềm năng của Công ty. H nhiều lần đưa nhân viên Công ty vào khu vực Thanh Hóa giao lưu với nhiều tổ chức kinh doanh bất động sản, nhằm để quảng bá hình ảnh của Công ty, tạo sự tin tưởng cho chính các nhân viên Công ty do H quản lý. Khoảng tháng 5/2022, H nắm bắt tâm lý anh Hoàng Bá N1 là nhân viên tư vấn bán hàng muốn bỏ tiền để đầu tư đất. Khi anh N1 đề nghị được tham gia, H đã đưa ra thông tin gian dối là: Công ty cổ phần Đ1 đang đấu giá 22 Lô đất tại địa chỉ: MB95, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, với giá 280.000.000 đồng mỗi Lô đất, hiện đang thiếu khoảng 01 tỷ đồng. H còn nói với anh N1: có bao nhiêu tiền thì đầu tư vào cùng, sau khi đất tăng giá sẽ bán đi, anh N1 được thu tiền về kèm theo lợi nhuận, trong khi thực tế Công ty không có việc đầu tư các Thửa đất nêu trên.

Anh N1 tin tưởng về bàn với vợ là chị Đặng Thị T1 thống nhất góp vốn đầu tư chung với H 500.000.000 đồng. Ngày 03/6/2022, H bảo anh N1 chuyển tiền cho H. Anh N1 bảo chị T1 chuyển khoản cho H 400.000.000 đồng, ngày 04/6/2022 chuyển khoản cho H 90.000.000 đồng và đưa trực tiếp cho H nhận 10.000.000 đồng tiền mặt. Ngay sau khi nhận tiền của chị T1, ngày 3/6/2022, H chuyển trả nợ anh Trần Văn K 300.000.000 đồng (số tiền H nhận của anh K đặt cọc mua đất trước đó nhưng không mua được đất). Ngày 5/6/2022, anh N1 yêu cầu H lập hợp đồng để ký xác nhận việc nhận tiền của vợ chồng anh. H lập hợp đồng đặt cọc, nội dung Công ty Đ1 nhận của chị T1 đặt cọc 500 triệu đồng để góp vốn mua thửa đất tại dự án MB I.

Ngày 27/11/2022, anh N1, chị T1 tìm hiểu thì được biết H và Công ty Đ1 không gửi hồ sơ đấu giá dự án đất trên đã yêu cầu H trả lại tiền nhưng H xin khất nợ nên đã gửi đơn tố giác đến Công an tỉnh Q. Cùng ngày, H biết thông tin chị T1 sẽ trình báo công an nên đã chuyển trả chị T1 206.000.000 đồng. Khi Cơ quan điều tra đã triệu tập H làm việc, H đã liên hệ với anh Lê Văn H2 là chủ sàn giao dịch bất động sản H4 có địa chỉ tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, H đề nghị anh H2 cung cấp thông tin về thửa đất anh đã trúng đấu giá. Dựa vào thông tin đó, H tiếp tục gian dối khai báo với Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q về việc: H đã sử dụng tiền của chị T1 để góp vốn với anh H2 mua thửa đất trên. Sau đó, H bỏ trốn.

Vụ thứ ba: trong thời gian bỏ trốn, Vũ Thanh H tiếp tục lừa dối anh Nguyễn Bá Đ để chiếm đoạt tài sản. Ngày 03/12/2022, lợi dụng mối quan hệ bạn bè có niềm tin sẵn từ trước, H đã nói dối với anh Đ: Hiện chủ đất đang muốn bán 01 ô đất ở huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, kí hiệu "lô 20 QX” và số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng, anh Đ chỉ cần góp tiền cọc 65.000.000 đồng, trong 10 ngày H sẽ bán ô đất đó đi, trả lại tiền gốc và anh Đ còn được thêm 30.000.000 đồng tiền lãi, trong khi thực tế không có sự việc như H nói. Anh Đức tin tưởng H3 nói thật nên đã đồng ý. Cùng ngày, anh Đ đã chuyển khoản cho H3 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng). Đến ngày 13/12/2022, anh Đ liên lạc với H3 hỏi về ô đất thì H3 bảo chưa bán được, sau đó H3 trốn tránh, tắt điện thoại không liên lạc trả lại tiền cho anh Đ. Ngày 14/6/2023, anh Đ đã đến Công an thành phố H tố giác.

Trong thời gian này, H3 có quan hệ tình cảm với anh Lương Văn T3 (trú tại xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh). Do lo sợ anh T3 sẽ rạn nứt tình cảm với mình, với mong muốn ràng buộc tình cảm hai người, H3 đã lên lên mạng xã hội facebook đặt làm 01 Phiếu siêu âm thai giả có ghi số 9718641 ngày 04/7/2023, do Khoa phụ sản Bệnh viện đa khoa tỉnh Q ban hành, thể hiện nội dung: kết quả siêu âm xác định Vũ Thanh H có 01 thai trong tử cung 04 tuần 02 ngày. H đã đưa tờ Phiếu siêu âm thai cho anh T3 cất giữ.

Ngày 28/9/2023, Vũ Thanh H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đầu thú. Khi được gia đình H thông tin về việc Cơ quan điều tra áp dụng biện pháp tạm giữ đối với Vũ Thanh H, anh T3 đã cung cấp cho Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh Q Phiếu siêu âm thai nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 6895/KL - KTHS ngày 13/10/2023 của V1 - Bộ C kết luận: “Con dấu đóng ra hình dấu tròn có nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ T. QUẢNG NINH” trên mẫu so sánh không đóng ra hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu cần giám định. Hình dấu tròn trên mẫu cần giám định được tạo ra bằng phương pháp in phun màu; Chữ ký đứng tên Lê Bình P trên mẫu giám định là chữ ký trực tiếp, so với chữ ký của Lê Bình P trên mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra”.

Tại Kết luận giám định số 197 ngày 30/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Hình dấu “Bệnh viện đa khoa tỉnh" trong tài liệu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu cùng nội dung trong tài liệu mẫu so sánh kỳ hiệu M không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Vũ Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Những người bị hại: anh Đỗ Thanh T, anh Hoàng Bá N1, chị Đặng Thị T1 và anh Nguyễn Bá Đ, có lời khai tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo về nội dung vụ án. Nay Đỗ Thanh T yêu cầu bị cáo H bồi thường 621.000.000 đồng; anh Hoàng Bá N1 và chị Đặng Thị T1 yêu cầu bị cáo H bồi thường 294.000.000 đồng; anh Nguyễn Bá Đ yêu cầu bị cáo H bồi thường 65.000.000 đồng, về hình phạt: anh T và anh Đ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại anh N1 và chị T1 đề nghị xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Những người làm chứng vắng mặt và người làm chứng có mặt (chị L), có lời khai tại cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại về nội dung vụ án.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKSQN-P3 ngày 01/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Vũ Thanh H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Vũ Thanh H từ 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức",

tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Vũ Thanh H phải chấp hành chung cho cả hai tội là từ 14 năm đến 15 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/9/2023.

Về dân sự: buộc bị cáo H phải bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt.

Về hình phạt bổ sung: không đề nghị.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, việc đưa bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo đồng ý với quan điểm của luật sư bào chữa và không tranh luận bổ sung.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh và bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: tại phiên tòa bị cáo Vũ Thanh H khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2022, tại khu vực quận N, thành phố Hà Nội và thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Thanh H đã 03 lần sử dụng thủ đoạn đưa thông tin gian dối đang đầu tư đất thuộc các dự án tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh và huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, để một số cá nhân tin tưởng góp vốn chung tiền mua đất, rồi sau đó lại yêu cầu đưa tiền để chi phí tách thửa sang tên, để chiếm đoạt của các bị hại với tổng số tiền 1.186.000.000đồng (một tỷ một trăm tám mươi sáu triệu đồng). Trong đó: H chiếm đoạt của anh Đỗ Thanh T 621.000.000 đồng; chiếm đoạt của vợ chồng chị Đặng Thị T1 và anh Hoàng Bá N1 500.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh Nguyễn Bá Đ 65.000.000 đồng.

Trong vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Đỗ Thanh T, tháng 7/2022, Vũ Thanh H có hành vi sử dụng 01 tài liệu giả của cơ quan tổ chức thực hiện chiếm đoạt số tiền 21.000.000đồng (hai mươi mốt triệu đồng) của anh T. H đưa ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả ghi số CĐ 402354 do UBND huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh cấp mang tên Đỗ Thanh T (do H đặt mua trên trang mạng facbook) để anh T tin số tiền 600.000.000đồng đã đưa cho H trước đó được sử dụng đúng mục đích.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự; hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình cho người dân, nên cần phải xử lý nghiêm.

[4] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo H phạm tội 02 lần trở lên, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại (anh chị Thuý Ngoàn); được bị hại (anh T và anh Đ) xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có bố đẻ là người có công với Nhà nước (được tặng Huân chương chiến công hạng ba) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: khi lượng hình, căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.

[6] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo hiện không có tài sản và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: những người bị hại yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt, vì vậy cần buộc bị cáo phải: trả cho anh Đỗ Thanh T 621.000.000 đồng; trả cho vợ chồng chị Đặng Thị T1 và anh Hoàng Bá N1 500.000.000 đồng - 206.000.000 đồng = 294.000.000 đồng; trả cho anh Nguyễn Bá Đ 65.000.000 đồng.

[8] Về vật chứng: đối với 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ 402354 ghi ngày 21/11/2022 do UBND huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh ban hành, chủ sử dụng đất anh Đỗ Thanh T và 01 Phiếu siêu âm thai giả có ghi số 9718641 ngày 04/7/2023 do Bệnh viện B, tỉnh Quảng Ninh ban hành, là vật chứng vụ án hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

[9] Nội dung khác:

Ngoài ra, H còn khai năm 2022 H cũng thỏa thuận với anh Nguyễn Mạnh T4 (địa chỉ: tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh) đầu tư đất tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh và đã nhận của anh T4 500.000.000đồng, sau đó anh T4 và H đã tự thỏa thuận trả nợ dần. Anh T4 cho rằng đây là giao dịch dân sự, không

đề nghị giải quyết và không cung cấp tài liệu chứng cứ, Cơ quan điều tra không xem xét sự việc này, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Đối với hành vi sử dụng Phiếu khám thai giả của Vũ Thanh H, do H có mục đích để ràng buộc tình cảm với anh Lương Văn T3 và không sử dụng vào mục đích trái pháp luật nên hành vi này không cấu thành tội phạm.

[10] Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Vũ Thanh H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Vũ Thanh H 12 (mười hai) năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Vũ Thanh H phải chấp hành chung cho cả hai tội là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/9/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng: khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 589; Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015.

Buộc bị cáo Vũ Thanh H phải có nghĩa vụ trả lại cho các bị hại tổng số tiền là 980.000.000đ (chín trăm tám mươi triệu đồng), cụ thể: trả cho anh Đỗ Thanh T 621.000.000₫ (sáu trăm hai mươi mốt triệu đồng); trả cho vợ chồng chị Đặng Thị T1 và anh Hoàng Bá N1 294.000.000₫ (hai trăm chín mươi bốn triệu đồng); trả cho anh Nguyễn Bá Đ 65.000.000₫ (sáu mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ 402354 ghi ngày 21/11/2022 do UBND huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh ban hành, chủ sử dụng đất anh Đỗ Thanh T và 01 Phiếu siêu âm thai giả có ghi số 9718641 ngày 04/7/2023 do Bệnh viện B, tỉnh Quảng Ninh ban hành.

5. Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Thanh H phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 43.200.000₫ (bốn mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo và các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, Luật sư;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQ CSĐT + CQ THAHS Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Q.Ninh;
  • - TAND cấp cao + VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HS, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Duy Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thanh Hà phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger