|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:46/2024/HS-ST Ngày: 24 -7- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Nguyệt Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Lương - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử số 02 - Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến - Trại Tạm giam Công an tỉnh H, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không, sinh ngày: 21/12/1985, tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân L (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; có vợ Nguyễn Thị T1 và 03 con; Tiền án/ tiền sự: Không;
Bị khởi tố bị can ngày 31/01/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 26/01/2024 cho đến nay, có mặt
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Q; Tên gọi khác: Không, Sinh ngày: 02/3/1968, tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 04/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); Có vợ Phan Thị L2 và 04 con; Tiền án/ tiền sự: Không.
1
Bị khởi tố bị can ngày 31/01/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2024 cho đến ngày 09/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang Bảo Lĩnh hiện nay đang đang trú tại xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Thị T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/02/1987, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị L3; có chồng Nguyễn Văn T và 03 con; Tiền án/ tiền sự: Không;
Bị can bị tạm giữ từ ngày 26/01/2024 đến ngày 31/01/2024, bị khởi tố bị can áp dụng lệnh cấm đi khỏi cư trú kể từ ngày 01/02/2024 cho đến nay, hiện đang trú tại TDP A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị T1: Ông Đậu Xuân Đ– Luật sư – Công ty L4 – Đoàn luật sư H1, có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998, nghề nghiệp lao động tự do.
Địa chỉ: TDP A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt
* Người làm chứng: Ông Phan Đình T3, sinh năm 1970
Địa chỉ: Xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn xin vắng mặt
* Người chứng kiến: Ông Trần Minh H, sinh năm 1961, địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt (vắng mặt tại phần tranh tụng).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 26/01/2024 tại khu vực đường ven đê sông V, thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H và Công an xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Văn T đang có hành vi vận chuyển 01 thùng cát tông bên trong có 01 bì xác rắn màu trắng, bên trong bì xác rắn lót 01 túi nilon trong suốt chứa các cục chất rắn màu xám, kích thước không đều nhau. Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 khai nhận các cục chất rắn trên là thuốc nổ, vận chuyển đưa đi đổi cho một người đàn ông tên B để lấy 130 kíp nổ về đánh cá. Lực lượng chức năng đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng cuối năm 2022, Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh làm nghề đánh bắt hải sản và Nguyễn Thị T1 sinh năm 1987, trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (vợ của Nguyễn Văn
2
T) đi lễ tại nhờ thờ giáo xứ T6 ở huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì quen biết Nguyễn Văn Q, sinh năm 1968 trú tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 đã đến nhà Nguyễn Văn Q chơi, quá trình nói chuyện, Nguyễn Văn Q biết Nguyễn Văn T làm nghề đánh bắt hải sản nên hỏi T có nhu cầu sử dụng thuốc nổ không, T trả lời “Có”, Nguyễn Văn Q nói mình làm nghề rà phế liệu, khi nào Q rà được hoặc biết ai khác rà được thuốc nổ sẽ báo cho Nguyễn Văn T mua, T đồng ý. Khoảng tháng 6/2023, Nguyễn Văn Q đi theo 01 nhóm người Quảng Bình (khoảng 07 người đàn ông, không rõ thông tin địa chỉ của những người này) rà phế liệu ở khu vực bãi đất trống thuộc xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nhóm người này rà được 01 quả bom đã nổ, còn 01 phần thuốc nổ sót lại, nhưng họ không lấy, nên Nguyễn Văn Q xin và được họ đồng ý. Sau đó, Nguyễn Văn Q tự mình đào và lấy được 20kg thuốc nổ còn sót lại của quả bom (gồm các cục chất rắn màu xám, kích thước không đều nhau) và để số thuốc nổ này vào 01 túi nilon rồi bỏ vào 01 bì xác rắn. Sau khi lấy được thuốc nổ, Nguyễn Văn Q sử dụng số điện thoại 0372.745.xxx gọi điện đến số 0366321511 của Nguyễn Văn T thông báo có thuốc nổ bán, T đồng ý mua. Nguyễn Văn Q với Nguyễn Văn T thỏa thuận nếu T đến nhà Q lấy thuốc nổ thì giá 350.000 đồng/01kg, Q mang đến nhà T thì giá 400.000đ/1kg. Sau khi, thống nhất địa điểm giao hàng, khoảng 16 giờ cùng ngày (Q không nhớ rõ ngày tháng), Nguyễn Văn Q sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRX mượn của anh Phan Đình T3 (sinh năm 1970, trú tại xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Q không nhớ biển số xe) chở 20kg thuốc nổ đến nhà cho Nguyễn Văn T. Khi đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh do biết T3 đang ở thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nên Q rủ T3 đi cùng ra nhà T để sau đó ra về cùng nhau (Q chỉ nói đến nhà người quen, không nói đến để làm gì). Khi đến nhà Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn Q đưa bì xác rắn chứa thuốc nổ vào trong nhà giao cho Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1, còn Phan Đình T3 đứng chơi ở ngoài sân chờ Nguyễn Văn Q để cùng về. Sau khi nhận được 20kg thuốc nổ từ Nguyễn Văn Q, T nói T1 thanh toán tiền cho Q, T1 đã thanh toán cho Q 7.000.000 đồng tiền mặt, còn lại 1.000.000 đồng Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 sẽ chuyển khoản cho Nguyễn Văn Q sau, Q đồng ý và ra về cùng Phan Đình T3. Ngày 01/7/2023, Nguyễn Văn Q đã gửi tài khoản số 22227895555 ngân hàng TMCP Q2 (mang tên Nguyễn Văn Q1, con trai của Q) cho Nguyễn Thị T1 và Nguyễn Thị T1 sử dụng tài khoản số 9365650856 ngân hàng TMCP N1 của T1 chuyển số tiền 1.000.000 đồng cho Nguyễn Văn Q.
Sau khi mua được 20kg thuốc nổ, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 đã cất giấu thuốc nổ ở dưới gầm giường trong phòng ở tầng 1 của nhà mình nhằm mục đích đánh bắt hải sản và nếu có người mua sẽ bán kiếm lời. Sau đó, thấy con nhỏ hay chơi ở căn phòng này, nên Nguyễn Văn T đưa thuốc nổ ra để ở dưới gầm cầu thang, khoảng 03 ngày sau thì Nguyễn Thị T1 bảo Nguyễn Văn T đưa lên tầng 2 cất giấu. Ngày 24/01/2024, Nguyễn Văn T gặp và quen với 01 người đàn ông tên là "Bường", người ở K, tỉnh Hà Tĩnh (không rõ thông tin, địa chỉ cụ thể), quá trình nói chuyện, Nguyễn Văn T biết Bường có kíp nổ, còn B biết T có thuốc nổ nên cả hai thống nhất
3
sẽ đổi thuốc nổ và kíp nổ cho nhau. Sáng ngày 26/01/2024, người đàn ông tên B sử dụng số điện thoại 0347.517.xxx gọi điện đến số điện thoại 0366.321.xxx của Nguyễn Văn T hẹn giao nhận thuốc nổ, kíp nổ, hai bên thỏa thuận. Bường sẽ đưa cho T 130 cái kíp nổ để lấy 20kg thuốc nổ, địa điểm giao dịch tại khu vực đường ven đê sông V, thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 15 giờ 30' cùng ngày, Nguyễn Văn T nói với Nguyễn Thị T1 về việc T đổi 20kg thuốc nổ lấy 130 kíp nổ, sau khi cho bì xác rắn đựng thuốc nổ vào thùng cát tông và dán kín các mép lại. Nguyễn Văn T nói với Nguyễn Thị T1, T sẽ đi trước để gặp B, khi nào T điện thoại thì T1 sẽ chở thuốc nổ ra sau. Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SH BKS: 38M1-251.20 (xe T mượn của Nguyễn Văn T4 sinh năm 1981, trú tại tổ A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh là anh trai của T) đến gặp B ở địa điểm đã hẹn rồi sử dụng số điện thoại 0366.321.xxx gọi đến số điện thoại 0365.650.xxx của Nguyễn Thị T1, nói T1 chở thuốc nổ ra vị trí Nguyễn Văn T và B đang đứng chờ. Khoảng 17 giờ, Nguyễn Thị T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter BKS: 38M1-0366 (xe của Nguyễn Văn T) chở theo thùng cát tông đựng 20kg thuốc nổ đến khu vực T và B đang chờ, Nguyễn Văn T bê thuốc nổ xuống để ở dưới đất, rồi nói Nguyễn Thị T1 quay về, cùng lúc này khi Nguyễn Văn T chưa kịp đổi thuốc nổ lấy kíp nổ thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang vợ chồng Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị T1 cùng 20kg thuốc nổ, còn B khi thấy lực lượng chức năng đã lên xe chạy trốn.
Tại Kết luận giám định số 309/KL-KTHS, ngày 29/01/2024, Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: Các cục chất màu xám, kích thước không đều nhau đựng trong 01 túi nilon gửi giám định là thuốc nổ, đây là loại thuốc nổ mạnh, thường dùng trong quân sự và vẫn còn sử dụng được, có khối lượng 20kg.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 thùng cát tông, bên trong đựng 01 bì xác rắn màu trắng, bên trong bì xác rắn lót 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa các cục chất rắn màu xám, kích thước không đều nhau, khối lượng 20kg (sau khi lấy mẫu giám định, khối lượng thuốc nổ còn 19,9kg)
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357289093796819, bên trong lắp 01 sim số điện thoại 0366.321.xxx, đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại Oppo, màu đỏ, số IMEI 1: 867178043604079; IMEI 2: 8984048000383914998, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô màu đen bạc, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 38M1 – 0366 (thu của Nguyễn Thị T1).
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1915, màu xanh đen. IMEI 1: 868797407049612692, IMEI 2: 868797049612684, bên trong lắp 02 sim: sim thứ nhất số: 0372745291, sim thứ hai sim mạng 4G V1 (thu của Nguyễn Văn Q.
4
- - 01chiếc xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu SH 125i, BKS: 38M1 - 251.20 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T4, sinh ngày 19/10/1981, trú tại tổ A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-P1 ngày 14 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 305 BLHS, Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 305 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng, sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”; Các bị cáo cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ” ; Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 305 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 305 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 04 năm đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/01/2024. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 305, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58,Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357289093796819, bên trong lắp 01 sim số điện thoại 0366.321.xxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Oppo, màu đỏ, số IMEI 1: 867178043604079; IMEI 2: 8984048000383914998, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô màu đen bạc, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 38M1 – 0366; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1915, màu xanh đen. IMEI 1: 868797407049612692, IMEI 2: 868797049612684, bên trong lắp 02 sim: sim thứ nhất số: 0372745291, sim thứ hai sim mạng 4G V1.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng cát tông, bên trong đựng 01 bì xác rắn màu trắng, bên trong bì xác rắn lót 01 túi nilon trong ng suốt, bên trong chứa các cục chất rắn màu xám, kích thước không đều nhau, khối lượng 20kg ( sau khi lấy mẫu giám định khối lượng thuốc nổ còn19,9kg.
Các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng truy tố, ăn
5
năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị T1 đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T, bị cáo T1, đồng thời đề nghị hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T, xử phạt bị cáoToàn dưới mức thấp nhất khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
[2] Các bị cáo thừa nhận hành vi, cách thức thực hiện tội phạm của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng tháng 6/2023, Nguyễn Văn Q đã bán cho Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 20kg thuốc nổ với giá 8.000.000 đồng. Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 đã cất dấu số thuốc nổ trên trong nhà mình nhằm mục đích đánh bắt cá và bán lại kiếm lời. Ngày 26/01/2024, Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 lấy 20kg thuốc nổ đã mua của Nguyễn Văn Q đưa đến khu vực ven đê sông V, thuộc xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh để đổi lấy 130 kíp nổ của một người đàn ông tên B để sử dụng, khi chưa giao nhận được cho B thì bị lực lượng chức năng bắt giữ.
[3] Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng vật liệu nổ của nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, tiềm ẩn nguy cơ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Hành vi của Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”; hành vi của Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
6
[4] Xét tính chất hành vi, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
[4.1] Trong vụ án này, Nguyễn Văn T là người giữ vai chính, trực tiếp trao đổi, thống nhất mua 20kg thuốc nổ từ Nguyễn Văn Q, sau đó tàng trữ, cất dấu trong nhà mình nhằm mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo; Tham gia tham gia tích cực trong nhóm thiện nguyện Vòng tay yêu thương, thường xuyên giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn được Ủy ban đoàn kết công giáo tặng Giấy khen. Năm 2014, Nguyễn Văn T tham gia cứu nạn trục vớt xác nạn nhân trên biển có xác nhận của người nhà nạn nhân và UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; bị cáo có trình độ văn hóa thấp, phạm tội do thiếu hiểu biết về pháp luật và hoàn cảnh sống khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo, tuy nhiên, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng ren đe, phòng ngừa chung. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác”, để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối bị cáo T là không có căn cứ nên không được chấp nhận, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[4.2] Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q giữ đã có hành vi bán cho Nguyễn Văn T 20kg thuốc nổ, thu lợi bất chính 8.000.000đ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo; đã tự nguyện nộp lại số tiền 8.000.000 đồng thu lợi bất chính từ việc mua bán thuốc nổ; Có bố là ông Nguyễn Văn K được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huy chương kháng chiến hạng nhì, mẹ là bà Nguyễn Thị M được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì và bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh H; Bố mẹ vợ là ông Phan Đình V, bà Nguyễn Thị T5 đều được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; vợ bị cáo là người khuyết tật nặng, đang hưởng trợ cấp người khuyết tật theo quyết định số 6447/QĐ-UBND ngày 25/9/2017 của UBND huyện H; bị cáo có trình độ văn hóa thấp, phạm tội do thiếu hiểu biết về pháp luật và hoàn cảnh sống khó khăn, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS. Xét thấy, bị cáo Q có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung xã hội mà áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục cũng đủ nghiêm, có tác dụng giáo dục răn đe đối bị cáo.
7
[4.3] Đối với bị cáo Nguyễn Thị T1 có vai trò giúp sức cho bị cáo Q, T về hành vi mua bán trái phép vật liệu nổ và giữ vai trò đồng phạm thực hành đối hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo; bị cáo có trình độ văn hóa thấp, phạm tội do thiếu hiểu biết về pháp luật và hoàn cảnh sống khó khăn quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo T1 hiện đang nuôi 3 con nhỏ, không có việc làm ổn định, có nhân thân tốt, là vợ bị cáo T hiện đang bị tạm giam. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho bị cáo được hưởng chính sách nhân đạo của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục cũng đủ nghiêm, có tác dụng giáo dục răn đe đối bị cáo.
[4.4] Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Liên quan trong vụ án còn có:
- - Đối với người đàn ông tên B, sử dụng số điện thoại 0347.517.xxx là người đã thỏa thuận đổi 130 kíp nổ để lấy 20kg thuốc nổ của Nguyễn Văn T. Cơ quan điều tra xác minh chủ thuê bao có số điện thoại trên là Mai Văn K1 (sinh năm 1973, trú tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh). Tuy nhiên, Mai Văn K1 trình bày không sử dụng số điện thoại 0347.517.xxx, không cho ai mượn căn cước công dân để đăng ký số điện thoại này và không quen biết người nào tên B và Nguyễn Văn T. Do vậy, cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ đối với B và không đề cập hình thức xử lý đối với Mai Văn K1 là có căn cứ.
- - Đối với nhóm 07 người đàn ông Quảng Bình đã cho Nguyễn Văn Q 20kg thuốc nổ khi 07 người này rà phế liệu tại khu vực bãi đất trống thuộc xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, do thông tin Q cung cấp không đầy đủ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
- - Đối với Phan Đình T3 là người đi cùng với Nguyễn Văn Q đến nhà Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 vào tháng 6/2023 để bán thuốc nổ. Tuy nhiên, Phan Đình T3 không biết Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị T1 giao dịch mua bán thuốc nổ, nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Phan Đình T3 là có căn cứ.
- - Đối với Nguyễn Văn Q1 là con trai của Nguyễn Văn Q, đã cho Nguyễn Văn Q mượn tài khoản số 22227895555 ngân hàng TMCP Q2 để Nguyễn Thị T1 chuyển 1.000.000 đồng tiền thuốc nổ cho Nguyễn Văn Q. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Q1 không có mặt tại địa phương, Nguyễn Văn Q khai nhận Q1 không biết Q mượn tài khoản ngân hàng để nhận tiền thuốc nổ nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với Nguyễn Văn Q1 là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng:
8
- - Đối với chiếc xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu SH 125i, BKS: 38M1 - 251.20 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn T4 (sinh ngày 19/10/1981, trú tại tổ A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, anh trai bị cáo Nguyễn Văn T). Do anh Nguyễn Văn T4 không biết Nguyễn Văn T sử dụng xe để chở thuốc nổ, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 89/QĐ-ANĐT ngày 10/4/2024 trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là có căn cứ.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357289093796819, bên trong lắp 01 sim số điện thoại 0366.321.xxx, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu SH 125i, biển kiểm soát 38M1 - 251.20 (thu của Nguyễn Văn T); 01 điện thoại Oppo, màu đỏ, số IMEI 1: 867178043604079; IMEI 2: 8984048000383914998, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô màu đen bạc, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 38M1 – 0366 (thu của Nguyễn Thị T1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1915, màu xanh đen. IMEI 1: 868797407049612692, IMEI 2: 868797049612684, bên trong lắp 02 sim: sim thứ nhất số: 0372745291, sim thứ hai sim mạng 4G V1 (thu của Nguyễn Văn Q). Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 19,9 kg thuốc nổ là vật cấm tàng trữ, lưu hành, Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[7] Về biện pháp tư pháp: Đối số tiền 8.000.000đ bị cáo Nguyễn Văn Q thu lợi bất chính, căn cứ quy định tại Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự đối bị cáo Nguyễn Văn T; điểm b khoản 2 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự đối bị cáo Nguyễn Văn Q; Điểm b khoản 2 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối bị cáo Nguyễn Thị T1.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép vật liệu nổ”; Các bị cáo cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị T1 phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ”.
2. Về hình phạt:
9
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/01/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách những người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 và điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357289093796819, bên trong lắp 01 sim số điện thoại 0366.321.xxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Oppo, màu đỏ, số IMEI 1: 867178043604079; IMEI 2: 8984048000383914998, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô màu đen bạc, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 38M1 – 0366; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1915, màu xanh đen. IMEI 1: 868797407049612692, IMEI 2: 868797049612684, bên trong lắp 02 sim: sim thứ nhất số: 0372745291, sim thứ hai sim mạng 4G V1.
- Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H tiêu hủy theo quy định 19,9 kg thuốc nổ đựng trong 01 thùng cát tông, bên trong đựng 01 bì xác rắn màu trắng, bên trong bì xác rắn lót 01 túi nilon trong suốt.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 01/02/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh H và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ quy định tại Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 8.000.000₫ bị cáo Nguyễn Văn Q thu lợi bất chính. Bị cáo đã nộp theo biên lai số 0000980 ngày 19/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
10
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp theo biên lai số 0000980 ngày 19/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Nguyệt Thu |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
11
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tội mua bán, tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội mua bán, tàng trữ trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm phạm tội "Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ"
