Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 22 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Trần Văn Thanh
  • 2. Ông Võ Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

- Lý Vũ A, sinh ngày 02/11/1997 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Khmer (K-me); giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Thành T và bà Mai Thị Thanh T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: theo bản án số 33/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị cáo bị xử phạt 02 năm 06 tháng tù tội cố ý gây thương tích do thực hiện hành vi gây thương tích ngày 19/02/2023; bị cáo bị tạm giam trong vụ án xảy ra ngày 19/02/2023, xét xử ngày 31/5/2024, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Võ Mạnh K, sinh ngày 22/5/1990, địa chỉ: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Trần Hoài N, sinh năm: 1989, địa chỉ: Số B, Khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ (có mặt).
  2. Lý Vũ K1, sinh năm: 2004, địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  3. Lê Thị S, sinh năm: 1951, ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Bùi Quang T2 (có mặt), Lê Văn G (có mặt), Nguyễn Thị Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 06/12/2023, Võ Mạnh KBùi Quang T2, sinh ngày 11/10/1999, nơi cư trú: 307/94, khu vực A, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ đều là công nhân của Công ty L 2 xảy ra mâu thuẫn trong công việc dẫn đến cự cãi với nhau, K có thái độ khiêu khích và rủ T2 hết giờ làm việc ra ngoài cổng công ty đánh nhau. Lúc này, chị Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 09/6/1986, nơi cư trú: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là nhân viên quản lý kho dao của Công ty L nghe thấy nên can ngăn, KT2 không nói gì. Sau đó, chị Đ kể lại sự việc cho Trần Hoài N, sinh ngày 24/11/1989, nơi cư trú: Số B, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ là nhân viên kho phom của Công ty L. Khi nghe chị Đ kể, do N có quen biết với T2 và muốn bảo vệ T2 nên N đã gọi KT2 đến kho phom xưởng E Công ty L để nói chuyện nhằm giải quyết mâu thuẫn cho hai bên. Sau đó, N gọi điện thoại cho Lý Vũ A kêu lên kho phom xưởng E Công ty L, khi gọi N nói với Vũ A “lên anh công chuyện xíu”.

Khoảng hơn 10 giờ cùng ngày Võ Mạnh KBùi Quang T2 đi đến kho phom gặp N. Khi K đang đứng kể lại sự việc cãi nhau với T2 cho N nghe thì Lý Vũ A đi tới kho phom. Lúc này, Vũ A đứng chếch sau bên phải của K và đứng nghe Khương nói chuyện, trong lúc K nói chuyện có thái độ dùng tay chỉ trỏ T2, Lý Vũ A nổi tính côn đồ, bất người dùng tay phải đánh theo hướng ngang từ phải sang trái 02 cái, trong đó 01 cái trúng vào vùng mặt phải và 01 cái trúng vào vùng mũi của K làm K té ngã xuống nền xi măng, rồi Lý Vũ A bỏ đi. Võ Mạnh K sau khi bị Lý Vũ A đánh gây thương tích được những người xung quanh đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1 đến ngày 15/12/2023 thì xuất viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 15/KLTTCT-TTPY ngày 11/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh H đối với Võ Mạnh K kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • Đa chấn thương phần mềm đã hồi phục không để lại dấu vết.
  • Gãy xương mũi và mỏm trán xương hàm trên bên phải; Gãy bán phần xương hàm trên bên phải.
  • Xuất huyết khoang dưới nhện.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Mạnh K tại thời điểm giảm định: 23% (Hai mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Cơ chế hình thành vết thương:

  • Gãy xương mũi và mỏm trán xương hàm trên bên phải, gãy bán phần xương hàm trên bên phải do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
  • Xuất huyết khoang dưới nhện do vật tày tác động gián tiếp gây nên.

2.3. Vật gây thương tích: Gãy xương mũi và mỏm trán xương hàm trên bên phải, gãy bán phần xương hàm trên bên phải và xuất huyết khoang dưới nhện do vật tày gây nên."

Về vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen đã qua sử dụng hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng theo quy định.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKS-HCTA, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố Lý Vũ A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Vũ A phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự xử phạt Lý Vũ A mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù và tổng hợp với bản án số 33/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tổng hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 05 năm đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Võ Vũ K2 số tiền 15.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ bồi thường của anh Trần Hoài N, anh N tự nguyện hỗ trợ bồi thường thay cho bị hại Võ Vũ K2 số tiền 20.000.000 đồng/tổng số 35.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen đã qua sử dụng.

Tại phiên toà bị hại K2 đề nghị: về trách nhiệm hình sự đề nghị xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự đã nhận trước 5.000.000 đồng đề nghị bị cáo Lý Vũ A bồi thường thêm 35.000.000 đồng. Nếu anh Trần Hoài N tự nguyện hỗ trợ bồi thường 20.000.000 đồng bị hại đồng ý nhận. Còn lại 15.000.000 đồng đồng ý sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.

Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trần Hoài N tự nguyện hỗ trợ bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng/35.000.000 đồng còn lại.

Tại phiên tòa bị cáo Lý Vũ A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự đồng ý với sự tự nguyện hỗ trợ bồi thường một phần nghĩa vụ của anh Trần Hoài N cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng và bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, về án phí dân sự bị cáo đồng ý chịu toàn bộ, kể cả phần anh N hỗ trợ bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xem hợp pháp.

[2] Xét về tố tụng: tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng Nguyễn Thị Đ. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra người này đã có cung cấp lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào các Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo Lý Vũ A:

Tại phiên tòa bị cáo Lý Vũ A thừa nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với các tình tiết chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại; của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 07 giờ ngày 06/12/2023 Bùi Quang T2 với Võ Mạnh K làm công nhân chung Công ty L thuộc Khu Công nghiệp T, xã T, huyện C có mâu thuẫn cá nhân với nhau. Biết được mâu thuẫn giữa T2K nên khoảng 10 giờ cùng ngày Trần Hoài N cũng làm Kho phom chung Công ty Lạc Tỷ 2 muốn đứng ra giải hòa. Do N cũng có quen biết T2 nên N có điện thoại cho Lý Vũ A nói “lên anh công chuyện xíu”, mục đích nói chuyện công việc riêng với Lý Vũ A. Tuy nhiên, khi Lý Vũ A đến đứng chếch sau K nghe K nói chuyện với thái độ chỉ trỏ nên Lý Vũ A nổi tính côn đồ đã dùng tay phải (tay không) đánh theo hướng ngang từ phải sang trái 02 cái, trong đó 01 cái trúng vào vùng mặt phải và 01 cái trúng vào vùng mũi của K làm K té ngã xuống nền xi măng, rồi Lý Vũ A bỏ đi, K được người xung quanh đưa đi khám và điều trị. Theo kết luận giám định định tổn thương cơ thể trên người sống số 15/KLTTCT-TTPY ngày 11/01/2024 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh H đối với Võ Mạnh K kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • Đa chấn thương phần mềm đã hồi phục không để lại dấu vết.
  • Gãy xương mũi và mỏm trán xương hàm trên bên phải; Gãy bán phần xương hàm trên bên phải.
  • Xuất huyết khoang dưới nhện.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Mạnh K tại thời điểm giảm định: 23% (Hai mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Cơ chế hình thành vết thương:

  • Gãy xương mũi và mỏm trán xương hàm trên bên phải, gãy bán phần xương hàm trên bên phải do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
  • Xuất huyết khoang dưới nhện do vật tày tác động gián tiếp gây nên.

2.3. Vật gây thương tích: Gãy xương mũi và mỏm trán xương hàm trên bên phải, gãy bán phần xương hàm trên bên phải và xuất huyết khoang dưới nhện do vật tày gây nên.”

Hành vi nêu trên của bị cáo Lý Vũ A thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, có tính chất côn đồ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự vì giữa Lý Vũ AVõ Mạnh K trước đó không có mâu thuẫn gì với nhau, thương tích gây nên cho bị hại K là 23%. Căn cứ vào hành vi có tính chất côn đồ và tỷ lệ tổn thương cơ thể gây nên cho bị hại đã thoả mãn định khung hình phạt tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Cụ thể, điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định “đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố bị cáo để xét xử về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo nhận thức được hành vi sai trái nên đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả trước 5.000.000 đồng cho bị hại; quá trình điều tra, xét xử đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vào ngày 19/02/2023 bị cáo cũng đã hiện hành vi cố ý gây thương tích, trước hành vi thực hiện trong vụ án này và bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử vào ngày 31/5/2024, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thuộc trường hợp được xem là tiền án, không thuộc trường hợp được xem là tái phạm nhưng vẫn xem là cơ sở để đánh giá về nhân thân của bị cáo là không tốt. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi gây nên cho sức khỏe người khác, tính nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải nghiêm trị, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điền kiện, giám sát, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[7] Xét về trách nhiệm dân sự: tại phiên toà bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường trước 5.000.000 đồng; còn lại là 35.000.000 đồng, trong đó bị cáo tự nguyện bồi thường 15.000.000 đồng, anh Trần Hoài N tự nguyện hỗ trợ bồi thường 20.000.000 đồng là phù hợp pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

[8] Về xử lý vật chứng: đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen, có lắp sim số 0908732925, số Imell: 353996323255655, số Imel 2: 354281443255651 đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Lý Vũ A.

[9] Đối với Trần Hoài N có kêu Lý Vũ A lên gặp mục đích hỏi công việc. Tại phiên tòa Lý Vũ A khai việc đánh Võ Mạnh K là do tự ý thực hiện, N không có kêu hay gợi ý, bàn bạc gì là phù hợp với lời khai của Trần Hoài N nên không truy cứu trách nhiệm Trần Hoài N là phù hợp.

[10] Đối với người nuôi bệnh bị hại K là mẹ ruột tên Lê Thị S không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì nên không giải quyết. Đối với số tiền 5.000.000 đồng Lý Vũ K1 (em ruột bị cáo) nộp khắc phục thay cho bị cáo, K1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét.

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự, về án phí dân sự sơ thẩm do bị cáo là người có nghĩa vụ bồi thường dân sự nên việc bị cáo đồng ý chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm kể cả phẩn hỗ trợ bồi thường của anh N là phù hợp nên buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[12] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều khoản áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Lý Vũ A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào các Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  1. Xử phạt: Lý Vũ A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 33/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 05 (năm) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 07/12/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lý Vũ A có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Võ Mạnh K số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

    Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Hoài N hỗ trợ bị cáo Lý Vũ A bồi thường bị hại Võ Vũ K2 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày bị hại Võ Mạnh K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Lý Vũ A, và anh Trần Hoài N chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng bị cáo Lý Vũ A, anh Trần Hoài N còn phải trả cho bị hại K số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trả lại cho bị cáo Lý Vũ A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen, có lắp sim số 0908732925, số Imell: 353996323255655, số I: 354281443255651.

  4. Về án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lý Vũ A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 22/7/2024; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này đối với những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 22/7/2024.

Trường hợp, bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

*Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Viện KSND huyện Châu Thành A;
  • - Công an huyện Châu Thành A;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger