|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 21 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Hồng Thái
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tất Dũng
- 2. Ông Lê Thanh Hải
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái- Thư ký - Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Ngô Lê Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Nhà Văn hóa xóm L1, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST- HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo: Họ và tên Hoàng Đức Q tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;
sinh ngày: 03/02/2006; Nơi cư trú và đăng ký thường trú: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông: Hoàng Văn N, sinh năm 1970 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; Vợ, con: Không có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa)
2. Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1930 (đã chết);
Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện hợp pháp của bị hại:
2.1 Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1960;
Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2.2 Chị Trần Thị H1,sinh năm 1963;
Nơi cư trú: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2.3 Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972;
Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
2.4 Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975;
Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người đại diện theo ủy quyền của những đại diện hợp pháp cho bị hại:
Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975;
Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973(Mẹ đẻ của bị cáo Q); Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
(Có mặt tại phiên tòa)
4. Người làm chứng: Chị Nguyễn Bảo V, sinh năm 2006;
Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 04/02/2024, Hoàng Đức Q (Không có giấy phép lái xe theo quy định) một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20B2-479.20 đi trên Quốc lộ A theo hướng Lạng Sơn - Thái Nguyên, trong điều kiện trời tối, không có đèn đường chiếu sáng. Khi đi qua biển cảnh báo nguy hiểm W202b ở bên phải đường theo hướng đi được khoảng 363,3m (là đoạn đường cong cua sang trái theo chiều Q di chuyển) đến khu vực Km 137 + 50, địa phận xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Lúc này, có 01 xe ô tô di chuyển ngược chiều với Q, Q điều khiển xe mô tô đi sát mép đường bên phải chiều đi. Khi đi qua xe ô tô này thì Q quan sát thấy cách xe mô tô của mình khoảng 1m, có bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1930 trú tại xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang đi bộ theo hướng ngược chiều với Q, sát mép đường bên phải (hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên). Do khoảng cách gần và không làm chủ tốc độ nên Q đã đâm va vào bà T gây tai nạn. Hậu quả: Bà T tử vong, Q bị thương nhẹ, xe môtô BKS: 20B2-479.20 bị hư hỏng.
Sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi, kết quả:
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 01 giờ 00 phút ngày 05/02/2024, tại Km 137+50 Quốc lộ A B, thuộc địa phận xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xác định:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng hai chiều, mặt đường trải nhựa phẳng rộng 6,8m, hai bên lề đường rộng 0,9m, giữa đường có kẻ vạch sơn đứt đoạn mầu vàng. Lề đường phải hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên rộng 1m, tiếp giáp là cống thoát nước rộng 0,85m. Phía bên phải đường theo chiều Lạng Sơn - Thái Nguyên có đường rẽ vào tổ dân phố số A xóm N, độ mở là 7,2m. Cách vị trí xảy ra tai nạn lần lượt 86,6m và 363,3m ở trên lề đường bên phải hướng Lạng Sơn - Thái Nguyên có đặt biển báo giao thông ký hiệu W.207b (Giao nhau với đường không ưu tiên) và biển báo giao thông ký hiệu W.202b (báo hiệu nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp), mặt hai biển báo đều quay hướng Lạng Sơn. Lấy mép đường phải hướng Lạng Sơn – Thái Nguyên làm chuẩn để đo các dấu vết. Xác định cột điện số 2.18 TBA NALONG trên lề đường chuẩn làm mốc cố định.
Xe môtô BKS: 20B2-479.20 đổ nghiêng bên trái, đuôi xe nằm trên mặt đường, đầu xe nằm ở lề đường chuẩn và cống thoát nước. Đo từ tâm trục bánh lốp trước vào mép đường chuẩn là 1,1m và cách cột mốc 28.7m. Trên mặt đường có vết cầy trượt mặt đường dài 4,9m chếch chéo vào mép đường chuẩn, điểm đầu của vết cách mép đường chuẩn là 0,4m và điểm cuối của vết trùng với giá để chân trước bên trái của xe môtô, vết có chiều Lạng Sơn - Thái Nguyên. Tại vị trí đuôi xe môtô đổ trên mặt đường có hai vết máu lần lượt có KT (0,15x0,1) m, tâm vết cách mép đường chuẩn là 0,1m và vết máu có KT (0,2x0,7) m, cách mép đường chuẩn 0,7m. Cách tâm trục bánh lốp trước xe môtô 0,4m hướng đi Lạng Sơn có một vùng gậy gỗ gãy rơi tạo thành một vùng có KT (2,5x1)m, đo từ đến mép đường chuẩn là 0,9m.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lập hồi 08 giờ 30 phút ngày 07/02/2024 tại Công an huyện Đ, xác định:
Xe môtô BKS: 20B2-479.20: Đầu tay lái bên trái có vết trượt xước kim loại KT (0,2x 0,2)cm bám dính bụi đất. Đầu phía trước chắn bùn bánh lốp trước có vết mài xước nhựa KT (3x2)cm, vết có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên. Cạnh ngoài cánh yếm bên trái có khoảng vết chùi sạch bụi bẩn KT (30x12,5)cm, điểm thấp nhất của vết cao cách mặt đất 32cm; liền kề với vết chùi sạch bụi bẩn tại vị trí cạnh phía trước cánh yếm bên trái có vết nứt vỡ nhựa KT (8x1)cm. Để chân trước bên trái bị cong đẩy theo chiều từ dưới lên trên; Đầu ngoài để chân trước bên trái có vết trượt xước kim loại KT (1,5x1,5)cm, bề mặt bám dính bụi đất, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 26cm. Cao su bọc ngoài để chân trước bên trái bị rách, thủng hở lõi kim loại, điểm thấp nhất cao cách mặt đất 15cm.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 391/KLGĐTT-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị T bị đa chấn thương: Gãy xương cẳng chân phải; chấn thương ngực kín, gãy xương sườn, dập rách phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp đến chết.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 136/ KLTTCT-TTPY ngày 06/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Hoàng Đức Q là 4%( Bốn phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định AND số 08/KLGDADN-TTPY ngày 01/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Mẫu niêm phong ký hiệu A( mẫu máu thu giữ tại hiện trường) trùng khớp với AND của mẫu niêm phong ký hiệu B( mẫu máu của tử thi bà Nguyễn Thị T).
Tại phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa máu ngày 05/02/2024 của K sinh hóa Bệnh viện T5 đã xác định: Định lượng cồn trong máu của Hoàng Đức Q là 0,57mmol/L( Nằm trong ngưỡng bình thường).
Tại phiếu xét nghiệm ma túy ngày 05/02/2024 của K sinh hóa Bệnh viện T5 xét nghiệm đối với Hoàng Đức Q có kết quả: Âm tính.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Hoàng Đức Q đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình như nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
* Về phần dân sự: Bà Nguyễn Thị L và Bị cáo Hoàng Đức Q đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Hai bên đã thoả thuận xong về phần dân sự.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 20013856 do Phòng CSGT Công an tỉnh T cấp ngày 01/11/2021;
- - 01 (một) GCN bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô xe máy (được chuyển theo hồ sơ vụ án).
- - 01 (Một) xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave, BKS: 20B2 – 479.20, hiện được bảo quản theo quy định, chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 43/CT- VKSĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Hoàng Đức Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Đức Q khai nhận rõ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mô tả về hành vi của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Đề nghị Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Đức Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thống nhất tự thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì thêm đề nghị không xem xét, giải quyết.
+ Về vật chứng của vụ án gồm:
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 20013856 do Phòng CSGT Công an tỉnh T cấp ngày 01/11/2021mang tên chủ xe Hoàng Đức Q; 01(một) Giấy chứng nhận Bảo hiểm bắt buộc TNDS và tự nguyện của chủ xe mô tô- xe máy số 21 XM – 212247160 do Tổng Công ty cổ phần B cấp ngày 30/12/2023 mang tên Hoàng Đức Q được chuyển theo hồ sơ, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã trả cho bị cáo nên không xem xét.
- - Đối với 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave, BKS: 20B2 – 479.20 mang tên chủ xe: Hoàng Đức Q đề nghị trả lại cho bị cáo.
+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; Những người đại diện hợp pháp của bị hại (anh T2 được ủy quyền) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, về phần dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường xong nên không có yêu cầu gì khác; Về trách nhiệm hình sự: Xin HĐXX giảm hình phạt cho bị cáo Hoàng Đức Q; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà L) xác định số tiền 80.000.000 đồng là của bà cho Hoàng Đức Q để bồi thường cho gia đình bị hại. Bà không yêu cầu bị cáo Q phải trả bà số tiền 80.000.000 đồng mà bà đưa cho bị cáo bồi thường.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Đức Q rất hối hận về hành vi của bị cáo, bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, gia đình bị cáo có bố mất sớm, mẹ làm ruộng lại thường xuyên bị ốm đau bệnh tật, phải nuôi bị cáo và bà nội ngoài 90 tuổi, kinh tế khó khăn rất vất vả, bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, bị cáo đã có giấy báo nhập học của Trường Cao đẳng FPT POLY TECHNIC cơ sở T6 nên bị cáo xin HĐXX xem xét tạo điều kiện cho bị cáo được đi học để trở thành người có ích cho xã hội đồng thời có thời gian hỗ trợ lao động phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử bị cáo Hoàng Đức Q không yêu cầu được nhờ người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Đại diện hợp pháp của bị hại, Người làm chứng vắng mặt nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến tình tiết khách quan của vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2]. Về tội danh: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 04/02/2024, Hoàng Đức Q (không có giấy phép lái xe theo quy định) một mình điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-479.20 di chuyển trên Quốc lộ A, hướng Lạng Sơn đi Thái Nguyên, trong điều kiện trời tối, không có đèn đường chiếu sáng. Khi đi qua biển cảnh báo nguy hiểm W202b ở bên phải đường theo hướng đi được khoảng 363,3 m (là đoạn đường nhiều chỗ ngoặt cong cua sang trái theo chiều đi của Q) đến Km 137 + 50, thuộc xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do không làm chủ tốc độ, Q đã điều khiển xe môtô đâm va vào bà Nguyễn Thị T đang đi bộ di chuyển theo hướng ngược chiều sát mép đường bên phải gây tai nạn. Hậu quả: Bà T tử vong.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và làm mất trật tự an toàn công cộng.
Hành vi của bị cáo Hoàng Đức Q đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, 2 Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ trưởng Bộ G vận tải quy định về tốc độ và
khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Điều luật quy định cụ thể như sau:
Luật giao thông đường bộ quy định: Điều 8: Các hành vi bị nghiêm cấm
“9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.”
Điều 9. Quy tắc chung
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, ... phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ....”
Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
“1. Người tham gia giao thông phải chấp hành ... chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ....”
Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe
“1. Người lái xe ...phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường...”
Điều 5 Thông tư 31 quy định:
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
“1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm...
2. ... tầm nhìn hạn chế”
Bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe theo quy định, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, đi với tốc độ cao, thiếu quan sát biển báo hiệu đường bộ để gây ra vụ tai nạn giao thông làm chết người, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây thiệt hại về vật chất và tinh thần cho gia đình bị hại. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định ...;”
Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, tuy nhiên bị hại(bà T) cũng có 1 phần lỗi là đi ngược chiều, đã 94 tuổi ra đường không có người trông nom nên mới dẫn đến vụ án tai nạn giao thông gây hậu quả chết người. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại đồng thời đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Ông nội của bị cáo là Hoàng Văn V1 được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; ông N1 là Nguyễn Tiến D thương binh hạng hai; bà N1 là Lý Thị T4 được Hội đồng Bộ trưởng tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong đơn xin được cải tạo tại địa phương xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, đơn xin cải tạo tại địa phương được địa phương xác nhận do đó, khi lượng hình HĐXX xem xét mở lượng khoan hồng của pháp luật, chấp nhận lời thỉnh cầu của bị cáo để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung, xét đến hoàn cảnh gia đình tạo điều kiện cho bị cáo được đi học nghề để sau này trở thành công dân có ích cho xã hội, có thời gian lao động hỗ trợ giúp đỡ gia đình.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[4]. Về vật chứng của vụ án:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ngày 31/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã trả lại cho bị cáo là chủ sở hữu tài sản được quản lý, sử dụng các giấy tờ bản gốc có trong hồ sơ vụ án gồm:
- - 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 20013856 do Phòng CSGT Công an tỉnh T cấp ngày 01/11/2021mang tên chủ xe Hoàng Đức Q;
- - 01(một) Giấy chứng nhận Bảo hiểm bắt buộc TNDS và tự nguyện của chủ xe mô tô- xe máy số 21 XM – 212247160 do Tổng Công ty cổ phần B cấp ngày 30/12/2023 mang tên Hoàng Đức Q.
- - Đối với 01 (Một) xe môtô nhãn hiệu Honda loại Wave, BKS: 20B2 – 479.20 mang tên chủ xe: Hoàng Đức Q đang được quản lý tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị L (là mẹ đẻ của bị cáo) và bị cáo
đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường mai táng phí và tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại (anh Nguyễn Văn T2) đã nhận đủ số tiền bồi thường 80.000.000 đồng (T3 mươi triệu đồng), bà L không yêu cầu bị cáo phải trả cho bà số tiền đã bồi thường hỗ trợ cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên HĐXX không xem xét phần trách nhiệm dân sự.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[7]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46; Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Điều 106; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Hoàng Đức Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt: Hoàng Đức Q 36( Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Đức Q cho UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tự thỏa thuận bồi thường xong, HĐXX không giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Trả bị cáo Hoàng Đức Q 01 (Một) xe môtô nhãn hiệu Honda; số loại Wave mang biển kiểm soát: 20B2 – 479.20; Số khung
RLHJA3923MY267650; Số máy: JA 39 E – 2387928 màu sơn Đen bạc; bên ngoài dán D1 màu trắng; xe đã qua sử dụng; không có gương chiếu hậu và không có chìa khóa xe; không có đăng ký xe kèm theo.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2024 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).
5. Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Đức Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Hoàng Đức Q, có mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan(bà L), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xe theo quy định) một mình điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-479.20 di chuyển trên Quốc lộ A, hướng Lạng Sơn đi Thái Nguyên, trong điều kiện trời tối, không có đèn đường chiếu sáng. Khi đi qua biển cảnh báo nguy hiểm W202b ở bên phải đường theo hướng đi được khoảng 363,3 m (là đoạn đường nhiều chỗ ngoặt cong cua sang trái theo chiều đi của Q) đến Km 137 + 50, thuộc xóm N, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do không làm chủ tốc độ, Q đã điều khiển xe môtô đâm va vào bà Nguyễn Thị T đang đi bộ di chuyển theo hướng ngược chiều sát mép đường bên phải gây tai nạn. Hậu quả: Bà T tử vong.
