|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 05/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Đính
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông RChâm Đương
2. Ông Phan Đình Xiềng
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Từ Minh C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09/11/1984; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn E, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Số định danh cá nhân: 0642084002427; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Từ Minh H và bà Hoàng Thị Kim N; Bị cáo có vợ là Tô Thị Thu H1 và 01 con (sinh năm 2013); Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến nay. Có mặt
- Bị hại:
- Bà Lê Thị N1; Sinh năm: 1974; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Bà Đào Thị Hằng N2; Sinh năm: 1987; Địa chỉ nơi cư trú: Số nhà A P, tổ F, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Ông Vũ Sỹ A; Sinh năm: 1969; Địa chỉ nơi cư trú: Số nhà I N, thôn Đ, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Công ty cổ phần B: Địa chỉ: Số B -B K, phường B, quận D, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng H2; Sinh năm: 1999; Địa chỉ nơi làm việc: Cửa hàng F, số D N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Từ Minh H; Sinh năm: 1953; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn E, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Bà Tô Thị Thu H1; Sinh năm: 1984; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Ông Võ Triệu V; Sinh năm: 1994; Địa chỉ nơi cư trú: Số nhà B P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Võ H3; Sinh năm: 1965; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn H, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thùy D; Sinh năm: 1990; Địa chỉ nơi cư trú: Số nhà C T, tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Bùi Văn Đ; Sinh năm: 1988; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ E, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn T; Sinh năm: 1973; Địa chỉ nơi cư trú: Số nhà A Đ, tổ dân phố E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đình H4; Sinh năm: 1967; Địa chỉ nơi cư trú: Số nhà H D, tổ B, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2023, bị cáo Từ Minh C đã thực hiện thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản và 01 vụ cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn thành phố P và các huyện I, Đ, tỉnh Gia Lai.
Vụ thứ 1: Vào ngày 17/11/2023, Từ Minh C mang theo 01 tuốc nơ vít và 01 xà beng rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng có biển số 81T3-1357 đi tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước nhà bà Đào Thị Hằng N2 ở số nhà A P, tổ F, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai, C nhìn thấy cổng nhà bị khóa và cửa chính nhà không bị khoá khóa nên đã dựng xe mô tô cách nhà bà N2 khoảng 10m rồi dùng xà beng mang theo phá khóa cổng và mở cửa chính vào bên trong nhà. C vào trong phòng ngủ thứ 3 của bà N2 theo hướng từ cửa vào lục tìm đồ và lấy trộm tài sản gồm: 02 nhẫn cưới bằng vàng có đính đá, 01 dây chuyền bạc và 01 mặt dây chuyền vàng có đính đá. Sau đó, C mang số tài sản vừa trộm được tiệm V1 do ông Nguyễn Đình H4 cư trú tại số nhà H D, tổ B, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai làm chủ bán được số tiền 3.300.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 285/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P xác định giá trị tài sản mà bị cáo Từ Minh C đã chiếm đoạt của bà Đào Thị Hằng N2 là: 02 nhẫn bằng vàng, loại 18K, bên trên có đính đá, có giá trị 5.000.000 đồng; 01 mặt dây chuyền vàng, loại 18K, có đính đá, có giá trị 2.500.000 đồng; 01 dây chuyền bằng bạc, trọng lượng 02 chỉ có giá trị 1.000.000 đồng; Tổng giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 8.500.000 đồng
Vụ thứ 2: Khoảng 23 giờ ngày 17/11/2023, Từ Minh C tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 81T3-1357, mang theo đèn pin và xà beng đến cửa hàng F của Công ty cổ phần B chi nhánh F ở số nhà D N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. C dùng xà beng cạy phá cửa cuốn của Cửa hàng rồi mở cửa kính phía sau đi vào bên trong, C đi xung quanh tìm kiếm tài sản có giá trị, thì nghe thấy tiếng chuông điện thoại, sợ bị phát hiện nên C quay lại lối đi vào lúc đầu, trong lúc đi ra ngoài thì C đã lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Oppo Reno 10 màu xanh trên kệ trưng bày của cửa hàng F rồi đi về. Đến ngày 25/11/2023, C đã bán điện thoại trên cho cửa hàng điện thoại Viễn Thông tại số nhà C T, thành phố P, tỉnh Gia Lai do bà Nguyễn Thị T1 làm chủ với giá 5.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 150/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định: 01 điện thoại di động Oppo Reno 10 5G 8GB-256GB màu xanh, có số Imei: 861042060051638, được trưng bày tại cửa hàng F có giá trị 9.990.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 20/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định: 01 cửa cuốn bằng kim loại có kích thước là: (3.7 x 2.9) mét; bị cạy phá ở cạnh dưới làm cong vênh biến dạng phần kim loại lá cuốn trong diện (2.9 x 0.7) mét, mép bản lề bên trái cửa cuốn có vết cạy phá diện (0.2 x 0.02) mét làm lệch ray, bung lá phần dưới cửa cuốn có giá trị: 1.500.000 đồng; 01 cửa cuốn bằng kim loại có kích thước là: (3.7 x 2.9) mét; bị cạy phá ở cạnh dưới làm cong vênh biến dạng phần kim loại lá cuốn trong diện (2.9 x 0.4) mét, làm lệch ray, bung lá phần dưới cửa cuốn có giá trị: 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại: 3.000.000 đồng.
Vụ thứ 3: Vào khoảng 11 giờ ngày 18/11/2023, Từ Minh C tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 81T3-1357 đi tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến trước nhà ông Vũ Sỹ A ở số nhà I N, thôn Đ, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Thấy nhà không có người, cổng khóa nên C đã trèo cổng vào và dùng xà beng phá khóa cửa chính rồi đi vào trong nhà. C vào phòng ngủ thứ hai theo hướng từ cửa vào rồi dùng xà beng phá két sắt lấy trộm 02 nhẫn vàng, nhiều cọc tiền được buộc lại, rồi C tiếp tục lục lọi túi xách để trong phòng ngủ lấy được một số tiền, C bỏ toàn bộ tài sản đã trộm được vào trong túi áo rồi đi về. Sau khi về nhà C đếm được tổng số tiền là 122.000.000 đồng. Đến ngày 19/11/2023 C mang 02 nhẫn vàng đã trộm được bán tại tiệm V1 do ông Nguyễn Đình H4 cư trú tại số nhà H D, tổ B, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai làm chủ bán được số tiền 5.800.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P xác định 01 két sắt, không rõ nhãn hiệu, do công ty Trách nhiệm hữu hạn S sản xuất theo TCCL 924/2004/CBTC-TĐC, mua vào năm 2004, bị hư hỏng vào ngày 18/11/2023. Giá trị tài sản là: 260.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 24/1/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P xác định: 02 nhẫn vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 0,5 chỉ/nhẫn giá trị 5.800.000 đồng.
Vụ thứ 4: Khoảng 9 giờ ngày 12/12/2023, Từ Minh C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ đen có biển số 81P1-153.89 mục đích tìm nhà vắng người trộm cắp, khi đi đến đoạn đường thuộc Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai thì phát hiện nhà của bà Lê Thị N1 không có người ở nhà nên C đã di chuyển ra phía bên hông nhà dùng tuốc nơ vít tháo cửa thông gió để trèo vào bên trong. Vào trong nhà, C lên tầng 2 lục tìm không thấy tài sản nên đi xuống tầng 1 lấy xà beng phá khóa cửa phòng ngủ, vào đập bể 01 con heo đất trộm cắp số tiền bên trong là 7.000.000 đồng, tiếp đó dùng xà beng cạy phá két sắt trộm cắp các tài sản khác gồm: 01 còng cổ bằng vàng 24k khối lượng 2,5 chỉ; 01 vòng tay bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 01 dây chuyền bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 01 vòng tay ngọc trai; 01 đôi bông tai ngọc trai; 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ; 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 01 chỉ; 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 0,5 chỉ/1 nhẫn; 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 01 chỉ; 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 11 nhẫn tròn vàng 24k, khối lượng 0,5 chỉ/1 nhẫn; 07 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 01 chỉ/1 nhẫn; 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 02 chỉ/1 nhẫn; 05 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 1 chỉ/1 nhẫn; 01 miếng vàng SJC 24k khối lượng 01 chỉ. C bỏ tất cả tài sản vào túi ni lông và đi theo lối cũ ra về. Sau khi lấy được tiền và tài sản nói trên C điều khiển xe mô tô bỏ trốn và tiêu thụ ở một số cửa hàng tại nhiều địa phương khác nhau cụ thể như sau:
- Chiều ngày 12/12/2023, C mang 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 0,5 chỉ/01 nhẫn bán cho tiệm V2 tại số nhà A đường W, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai do ông Nguyễn T làm chủ được số tiền 5.880.000 đồng.
- Ngày 14/12/2023, C mang 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ, 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ, 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 0,5 chỉ/01 nhẫn bán cho tiệm V3 tại số C H, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai do ông Bùi Văn Đ mua được số tiền 17.460.000 đồng.
- Sáng ngày 16/12/2023, C mang 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ, 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ/01 nhẫn, 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 0,5 chỉ/01 nhẫn bán cho tiệm V2 tại số nhà A đường W, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai do ông Nguyễn T mua được số tiền 29.200.000 đồng. Chiều cùng ngày, C tiếp tục mang 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 0,5 chỉ/01 nhẫn bán cho tiệm V2 tại số A đường Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai cũng do ông Nguyễn T mua được số tiền 5.880.000 đồng.
- Khoảng 3 - 4 ngày sau, C đi xe khách ra tỉnh Quảng Nam, mang 01 còng cổ bằng vàng 24k khối lượng 2,5 chỉ; 01 vòng tay bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 01 dây chuyền bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 01 vòng tay ngọc trai; 01 đôi bông tai ngọc trai bán cho Trung tâm V4 tại số nhà D đường H, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam do bà Lương Thị Kiều O làm quản lý được số tiền 37.000.000 đồng.
- Khoảng 1- 2 ngày sau, C tiếp tục đi xe khách ra thành phố Đà Nẵng, mang 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ/01 nhẫn, 03 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 0,5 chỉ/01 nhẫn bán cho tiệm V5 tại số nhà B - B đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng do bà Trần Thị T2 làm chủ và mang 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ, 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ/01 nhẫn bán cho tiệm V6 tại số nhà A T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng do bà Hoàng Thị Thanh L mua được tổng số tiền 32.000.000 đồng.
- Khoảng 1- 2 ngày sau, C tiếp tục đi xe khách ra tỉnh Thừa Thiên - Huế, mang 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ, 03 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ/01 nhẫn, 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 0,5 chỉ/01 nhẫn bán cho tiệm V7 tại số nhà A đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên - Huế do ông Trần Duy Hoàng N3 làm chủ được số tiền 35.000.000 đồng.
Ngày 02/01/2024, Từ Minh C đến Công an tỉnh G đầu thú, đồng thời giao nộp lại một phần tài sản đã lấy trộm được trong két sắt trong phòng ngủ nhà bà Lê Thị N1 chưa tiêu thụ gồm: 05 nhẫn vàng 1 chỉ/1 nhẫn và 01 miếng vàng SJC 1 chỉ.
Tại Bản kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận giám định về số tài sản mà C giao nộp cho Cơ quan điều tra kết luận: 01 (một) miếng kim loại màu vàng nêu ở mục 1.1 gửi giám định có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; khối lượng mẫu là 3,75gam; khối lượng kim loại vàng có trong 3,75gam mẫu là 3,74gam; 02 (hai) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng nêu ở mục 1.2 gửi giám định đều có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng trung bình là 99,9%; tổng khối lượng mẫu là 7,50gam; khối lượng kim loại vàng có trong 7,50gam mẫu là 7,49gam; 02 (hai) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng nêu ở mục 1.3 gửi giám định đều có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng trung bình là 99,0%; tổng khối lượng mẫu là 7,49gam; khối lượng kim loại vàng có trong 7,49gam mẫu là 7,41gam; 01 (một) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng nêu ở mục 1.4 gửi giám định có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 98,2%; khối lượng mẫu là 3,74gam; khối lượng kim loại vàng trong 3,74gam mẫu là 3,67gam.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-KTHS ngày 26/2/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện I kết luận: 01 miếng kim loại màu vàng có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; khối lượng là 3,75gam; khối lượng kim loại vàng có trong 3,75gam mẫu là 3,74gam có giá: 6.090.383 đồng; 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,9%; tổng khối lượng là 7,50gam; khối lượng kim loại vàng có trong 7,50gam mẫu là 7,49gam có giá: 12.197.050 đồng; 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,0%; tổng khối lượng là 7,49gam; khối lượng kim loại vàng có trong 7,49gam mẫu là 7,41gam có giá: 12.066.774 đồng; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có kim loại vàng (Au); hàm lượng kim loại vàng là 99,0%; tổng khối lượng là 7,49gam; khối lượng kim loại vàng có trong 7,49gam mẫu là 7,41gam có giá: 5.976.391 đồng. Tổng giá trị: 36.330.598 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 20/2/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện I xác định số trang sức mà Từ Minh C đã trộm cắp gồm: 01 còng cổ bằng vàng, khối lượng 2,5 chỉ, loại vàng 24k có giá: 15.267.000 đồng; 01 vòng tay bằng vàng, khối lượng 2 chỉ, loại vàng 24k có giá: 12.213.000 đồng; 01 dây chuyền bằng vàng, khối lượng 2 chỉ, loại vàng 24k có giá: 12.213.000 đồng; 01 vòng tay ngọc trai, mua vào năm 2013 với giá 2.000.000 đồng (đã qua sử dụng) có giá: 1.500.000 đồng; 01 đôi bông tai ngọc trai, mua vào năm 2013 với giá 1.000.000 đồng (đã qua sử dụng) có giá: 750.000 đồng; 01 nhẫn vuông bằng vàng, khối lượng 01 chỉ, loại vàng 24k có giá: 6.107.000 đồng; 01 nhẫn tròn bằng vàng, khối lượng 01 chỉ, loại vàng 24k có giá: 6.107.000 đồng; 02 nhẫn tròn bằng vàng, khối lượng 0,5 chỉ/1 nhẫn, loại vàng 24k có giá: 6.107.000 đồng; 01 nhẫn vuông bằng vàng, khối lượng 02 chỉ/1 nhẫn, loại vàng 24k có giá: 12.213.000 đồng; 11 nhẫn tròn vàng, khối lượng 0,5 chỉ/1 nhẫn, loại vàng 24k có giá: 33.587.000 đồng; 07 nhẫn tròn bằng vàng, khối lượng 01 chỉ/1 nhẫn, loại vàng 24k có giá: 42.747.000 đồng; 02 nhẫn tròn bằng vàng, khối lượng 02 chỉ/1 nhẫn, loại vàng 24k có giá: 24.427.000 đồng. Tổng cộng: 173.238.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Từ Minh C trộm cắp tại nhà bà Lê Thị N1 có giá trị là 216.568.598 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-KTHS ngày 20/2/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện I xác định giá trị thiệt hại của tài sản Từ Minh C đã làm hư hỏng gồm: 01 két sắt hiệu coffres forts BAUCHE, kích thước 80x55x45 cm, được mua vào năm 2010 với giá 4.000.000 đồng, đã qua sử dụng có giá: 1.767.000 đồng; 01 bộ khoá nắm cửa tròn, được mua vào năm 2000 với giá 100.000 đồng, đã qua sử dụng có giá: 67.000 đồng; 01 heo đất nung kích thước 20x30cm, màu vàng, được mua vào năm 2021 với giá 50.000 đồng, đã qua sử dụng có giá: 33.000 đồng. Tổng cộng: 1.867.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai truy tố bị cáo Từ Minh C về các tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Từ Minh C từ 09 năm – 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Từ Minh C từ 08 - 10 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt đối với bị cáo; không đề nghị áp dụng bổ sung hình phạt bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và các bị hại về việc thống nhất thoả thuận bị cáo dùng số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo đã giao nộp để trả cho ông Vũ Sỹ A 4.000.000 đồng, bà Đào Thị Hằng N2 và bà Lê Thị N1 mỗi người 3.000.000 đồng. Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà Đào Thị Hằng N2 số tiền là 5.500.000 đồng, bồi thường cho ông Vũ Sỹ A số tiền 126.000.000 đồng; Đề nghị Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của bị hại là bà Lê Thị N1, buộc bị cáo bồi thường cho bà N1 giá trị tài sản trộm cắp chưa hoàn trả là 242.776.000 đồng, gồm số tiền mặt là 7.000.000 đồng trong con heo đất, giá trị 28 chỉ vàng 24K là 236.516.000 đồng, 01 vòng tay Ngọc trai là 1.500.000 đồng, 01 bông tai ngọc trai là 750.000 đồng, trừ đi 3.000.000 đồng đã thoả thuận bồi thường từ số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo giao nộp, không chấp nhận phần yêu cầu của bà N1 là 254.224.000 đồng; Công ty B chi nhánh F đã được bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 13.230.000 đồng, không còn yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết; Đối với tài sản bị cáo làm hư hỏng của bị hại là ông Vũ Sỹ A và bà Lê Thị N1, tại phiên toà bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu để tiêu huỷ công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội là 01 xà beng bằng kim loại có hai đầu cong, dài 64cm, có chữ VAS CB4 d22 (đã qua sử dụng); Đối với số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo giao nộp, đề nghị công nhận sự thoả thuận của bị cáo và bị hai, chia ra để trả cho ông Vũ Sỹ A nhận 4.000.000 đồng, bà Đào Thị Hằng N2 và bà Lê Thị N1 mỗi người nhận số tiền 3.000.000 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần nghĩa vụ phải bồi thường; buộc bà Lê Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu đòi bồi thường không được chấp nhận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo công nhận trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2023, bị cáo Từ Minh C đã thực hiện thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản và 01 vụ cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn thành phố P và các huyện I, Đ, tỉnh Gia Lai như Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Vào ngày 17/11/2023, bị cáo Từ Minh C trộm cắp của bà Đào Thị Hằng N2 các tài sản gồm 02 nhẫn bằng vàng, loại 18K, bên trên có đính đá, 01 mặt dây chuyền vàng, loại 18K, có đính đá, 01 dây chuyền bằng bạc, trọng lượng 02 chỉ có giá trị 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được định giá là 8.500.000 đồng
Vụ thứ 2: Khoảng 23 giờ ngày 17/11/2023, bị cáo Từ Minh C trộm cắp tại cửa hàng F của Công ty cổ phần B chi nhánh F 01 chiếc điện thoại di động Oppo Reno 10 5G 8GB-256GB màu xanh, số Imei: 861042060051638, được định giá là 9.990.000 đồng. Đồng thời, bị cáo cạy phá làm hư hỏng 02 cửa cuốn bằng kim loại, mỗi cửa có kích thước là: (3.7 x 2.9) mét, gây thiệt hại được định giá là 3.000.000 đồng.
Vụ thứ 3: Vào khoảng 11 giờ ngày 18/11/2023, bị cáo Từ Minh C trộm cắp của ông Vũ Sỹ A trộm cắp số tiền mặt là 122.000.000 đồng, 02 nhẫn vàng, loại vàng 24K, trọng lượng 0,5 chỉ/nhẫn giá được định giá là 5.800.000 đồng. Tổng cộng là 127.800.000 đồng. Đồng thời, bị cáo cạy phá làm hư hỏng 01 két sắt, không rõ nhãn hiệu, do công ty Trách nhiệm hữu hạn S sản xuất theo TCCL 924/2004/CBTC-TĐC, gây thiệt bại là 260.000 đồng.
Vụ thứ 4: Khoảng 9 giờ ngày 12/12/2023, bị cáo Từ Minh C trộm cắp của bà Lê Thị N1 số tiền mặt bên trong con heo đất là 7.000.000 đồng, tài sản trong két sắt là 01 còng cổ bằng vàng 24k khối lượng 2,5 chỉ; 01 vòng tay bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 01 dây chuyền bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 01 vòng tay ngọc trai; 01 đôi bông tai ngọc trai; 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ; 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 01 chỉ; 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 0,5 chỉ/1 nhẫn; 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 01 chỉ; 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ; 11 nhẫn tròn vàng 24k, khối lượng 0,5 chỉ/1 nhẫn; 07 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 01 chỉ/1 nhẫn; 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 02 chỉ/1 nhẫn; 05 nhẫn tròn bằng vàng 24k, khối lượng 1 chỉ/1 nhẫn; 01 miếng vàng SJC 24k khối lượng 01 chỉ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được định giá là 209.568.598 đồng. Tổng số tiền và tài sản bị cáo chiếm đoạt của bà Lê Thị N1 là 216.568.598 đồng.
Tại phiên toà, bị hại Lê Thị N1 không thống nhất với lời khai của bị cáo, cho rằng bị cáo đã trộm cắp của bà N1 các tài sản gồm số tiền trong con heo đất là khoảng 40.000.000 đồng nhưng không có căn cứ chứng minh nên đồng ý với lời khai của bị cáo là 7.000.000 đồng; tài sản là vàng, đồ trang sức được để trong két sắt và đựng trong 03 gói gồm: Gói 1 có 01 dây chuyền bằng vàng 24k khối lượng 03 chỉ, 01 lắc tay bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ, 01 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ, 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ, 10 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 20 chỉ; Gói 2 có 01 kiềng cổ (còng cổ) bằng vàng 24k khối lượng 05 chỉ, 01 miếng vàng SJC khối lượng 01 chỉ, 01 lắc tay (vòng tay) bằng vàng 24k khối lượng 03 chỉ, 30 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 24 chỉ, 01 dây chuyền bằng vàng 18k khối lượng 02 chỉ; Gói 3 có 01 dây chuyền bằng vàng 24k khối lượng 05 chỉ, 01 đôi bông tai bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ, 01 lắc tay (vòng tay) bằng vàng 24k khối lượng 03 chỉ, 05 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 05 chỉ, 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 02 chỉ, 01 nhẫn vuông bằng vàng 24k khối lượng 01 chỉ, 02 nhẫn tròn bằng vàng 24k khối lượng 04 chỉ, 01 vòng tay ngọc tai, 01 bôi bông tai ngọc trai. Tài sản để trong phòng ngủ là 01 kiềng cổ (còng cổ) bằng vàng 18k khối lượng 03 chỉ. Bà N1 trình bày các tài sản nói trên do bà N1 mua từ lâu, không nhớ rõ thời gian cụ thể mua từng loại tài sản vì giấy tờ mua bán bị thất lạc, bà N1 cứ mở các gói ra và bỏ tài sản là vàng, đồ trang sức vào nên cũng không thường xuyên kiểm kê tài sản.
Hội đồng xét xử thấy rằng, bà N1 khai bị mất nhiều tài sản là vàng, đồ trang sức nhưng không cung cấp chứng cứ để chứng minh nguồn gốc tài sản, bản thân bà N1 cũng công nhận không thường xuyên kiểm kê số lượng tài sản nên không có căn cứ để xác định toàn bộ số lượng tài sản bà N1 kê khai bị mất là đúng và do bị cáo C trộm cắp. Lời khai của bị cáo C về số lượng tài sản trộm cắp của bà N1 đều thống nhất, đầy đủ về số lượng, nơi tiêu thụ, số lượng tài sản còn lại và lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã mua vàng từ bị cáo nên có căn cứ để khẳng định lời khai của bị cáo là sự thật.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định tổng giá trị tài sản mà Từ Minh C trộm cắp 04 lần là 362.858.598 đồng. Tài sản bị cáo cố ý làm hư hỏng có giá trị là 3.000.000 đồng.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Từ Minh C là người đủ 18 tuổi, có đủ năng lực nộp trách nhiệm hình sự. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Từ Minh C đã phạm vào các tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo theo các tội danh và tình tiết định khung nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định của pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm một cách bất hợp pháp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” 04 lần nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm 02 tội cũng đã tự giác ra đầu thú, tích cực tác động gia đình bồi thường, trả lại một phần tài sản cho bị hại, thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo và các bị hại đều thống nhất thoả thuận bị cáo dùng số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo đã giao nộp để trả cho ông Vũ Sỹ A 4.000.000 đồng, bà Đào Thị Hằng N2 và bà Lê Thị N1 mỗi người 3.000.000 đồng. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bà Đào Thị Hằng N2 số tiền là 5.500.000 đồng, bồi thường cho ông Vũ Sỹ A số tiền 126.000.000 đồng. Sự thoả thuận giữa bị cáo và các bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận; Bị cáo và bị hại là bà Lê Thị N1 không thống nhất được việc bồi thường, cụ thể bị cáo đồng ý bồi thường số tiền mặt là 7.000.000 đồng trong con heo đất và giá trị vàng, trang sức bị cáo đã trộm cắp chưa hoàn trả theo giá đã được định giá và giá vàng tại thời điểm xét xử là 28 chỉ vàng 24K x 8.447.000 đồng/1 chỉ = 236.516.000 đồng, 01 vòng tay Ngọc trai là 1.500.000 đồng, 01 bông tai Ngọc trai là 750.000 đồng, trừ đi 3.000.000 đồng đã thoả thuận bồi thường từ số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo giao nộp, tổng cộng số tiền bị cáo bồi thường cho bà N1 là 242.776.000 đồng. Bà N1 không đồng ý với mức bồi thường của bị cáo, yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường tài sản gồm số tiền 7.000.000 đồng trong con heo đất và giá trị vàng, trang sức như bà N1 đã kê khai tổng cộng là 497.000.000 đồng. Hội đồng xét xử đã giải thích, yêu cầu bà N1 chứng minh về số lượng, giá trị tài sản bị mất và mức yêu cầu bồi thường nhưng bà N1 không chứng minh, vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ chứng minh tội phạm như đã phân tích tại mục [1], ý kiến của bị cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, buộc phải bồi thường cho bà N1 các tài sản trộm cắp chưa hoàn trả gồm số tiền mặt là 7.000.000 đồng trong con heo đất, giá trị 28 chỉ vàng 24K là 236.516.000 đồng, 01 vòng tay Ngọc trai là 1.500.000 đồng, 01 bông tai ngọc trai là 750.000 đồng, trừ đi 3.000.000 đồng đã thoả thuận bồi thường từ số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo giao nộp. Tổng cộng số tiền bị cáo bồi thường cho bà N1 là 242.776.000 đồng. Không chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của bà N1 là 497.000.000 đồng -242.776.000 đồng =254.224.000 đồng; Công ty B chi nhánh F đã được bị cáo bồi thường thiệt hại với số tiền 13.230.000 đồng, không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét; Đối với tài sản bị cáo làm hư hỏng của bị hại là ông Vũ Sỹ A và bà Lê Thị N1, tại phiên toà bị hại đều không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử tịch thu để tiêu huỷ công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội là 01 xà beng bằng kim loại có hai đầu cong, dài 64cm, có chữ VAS CB4 d22 (đã qua sử dụng); Đối với số tiền 10.000.000 đồng gia đình bị cáo giao nộp, Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận của bị cáo và bị hại, chia ra để trả cho ông Vũ Sỹ A nhận 4.000.000 đồng, bà Đào Thị Hằng N2 và bà Lê Thị N1 mỗi người nhận số tiền 3.000.000 đồng.
[9] Về các vấn đề liên quan khác: Trong khi thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo Từ Minh C có hành vi hủy hoại tài sản của ông Vũ Thế A1 là 01 két sắt, gây thiệt hại là 260.000 đồng và hủy hoại tài sản của bà Lê Thị N1 là 01 két sắt, 01 bộ khoá nắm cửa tròn, 01 heo đất nung gây tổng thiệt hại là 1.867.000 đồng. Hành vi này chưa đến mức truy cứu trách mhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I đã chuyển xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật; Đối với ông Bùi Văn Đ, Nguyễn T, Nguyễn Đình H4, Trần Duy Hoàng N3, bà Trần Thị T2, Lương Thị Kiều O, Hoàng Thị Thanh L và Nguyễn Thị Thùy D là những người đã trực tiếp mua số tài sản là vàng, đồ trang sức mà Từ Minh C đã trộm cắp được. Tuy nhiên, những người này đều kinh doanh hợp pháp, không biết nguồn gốc tài sản mình mua là do bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp mà có nên hành vi đều không cấu thành tội phạm và cũng không phải là đồng phạm với bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo Từ Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần nghĩa vụ phải bồi thường; Bà Lê Thị N1 có yêu cầu bồi thường thiệt hại về những khoản không phù hợp với pháp luật, Tòa án đã giải thích về việc phải chịu án phí nếu yêu cầu bồi thường thiệt hại đó không được Tòa án chấp nhận, nhưng bà Lê Thị N1 vẫn yêu cầu nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu đòi bồi thường không được chấp nhận theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Từ Minh C phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Từ Minh C 09 (chín) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Từ Minh C 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Từ Minh C phải chấp hành hình phạt chung của tội “Trộm cắp tài sản” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 02/01/2024).
- Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Từ Minh C để bảo đảm thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 164, Điều 584, Điều 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Từ Minh C phải bồi thường cho bà Đào Thị Hằng N2 số tiền là 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng), bồi thường cho ông Vũ Sỹ A số tiền là 126.000.000 đồng (một trăm hai mươi sáu triệu đồng), bồi thường cho bà Lê Thị N1 số tiền là 242.776.000 đồng (hai trăm bốn mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải nộp khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tịch thu để tiêu hủy 01 (một) xà beng bằng kim loại có hai đầu cong, dài 64cm, có chữ VAS CB4 d22 (đã qua sử dụng).
Trả cho ông Vũ Sỹ A số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), trả cho bà Đào Thị Hằng N2 và bà Lê Thị N1 mỗi người số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) trong sô tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
(Các vật chứng nói trên có đặc điểm như nội dung biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai).
- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án, buộc bị cáo Từ Minh C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 18.713.800 đồng (mười tám triệu bảy trăm mười ba nghìn tám trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào công quỹ Nhà nước; buộc bà Lê Thị N1 phải nộp 12.711.200 đồng (mười hai triệu bảy trăm mười một nghìn hai trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào công quỹ Nhà nước
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Lê Văn Đính |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM NHIỀU LẦN
