|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH Bản án số:46/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quang Dũng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lê Văn Nhưng |
| Bà Trần Thị Toàn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Văn M; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày; 18/12/1992, tại xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn C, xã K, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 07/12;Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Trương Văn L; Sinh 1966; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ: Phạm Thị S; Sinh năm 1969; Cả bố và mẹ hiện nay đều trú tại Xóm D, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; A, chị, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Y T; Sinh năm: 1992; Hiện đang cư trú tại thôn C, xã K, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Con: 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 2012, đứa nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Có một tiền án; Ngày 28/3/2024, Trương Văn M bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù, theo Bản án số 21/2024/HSST, về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2024 chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị can Trương Văn M bị tạm giữ từ ngày 25/5/2024, đến ngày 03/6/2024 áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 04/6/2024 chuyển Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay. Bị cáo có mặt điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
- Bị hại:
- Anh Trương Xuân H, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt).
- Anh Võ Đức D, sinh năm 1973, trú tại thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978, trú tại: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1951, trú tại thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1974, trú tại: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Anh Trương Văn C, sinh năm 1994, trú tại: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
- Bà Dương Thị H2, sinh năm 1982, trú tại: thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. (vắng mặt)
- Ông Trần Đình Q, sinh năm 1975, trú tại: thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
Người bào chữa cho bị cáo Trương Văn M:
- Bà Phan Ngọc T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. (có đơn xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Anh T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày ngày 25/5/2024, Trương Văn M, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38AK-034.08 lưu thông trên đường Q để đi vào tỉnh Kon Tum. Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, khi đi đến trước cổng nhà bà Chu Thị Phương N, sinh năm 1957, ở thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì xe mô tô của M có dấu hiệu gần hết xăng, nên M dừng xe lại phát hiện trong sân nhà bà N có xe mô tô biển kiểm soát 38K1-275.00 của anh Trương Xuân H, sinh năm 1972, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, đến chơi và dựng ở sân nhà, chìa khóa xe cắm ở ổ khóa điện, nên M nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này để dùng làm phương tiện tiếp tục đi vào tỉnh Kon Tum. Mậu dựng xe mô tô biển kiểm soát 38AK-034.08 trước cổng nhà bà N rồi đi bộ vào trong sân nhà bà N, quan sát thấy không có người, nên M ngồi lên xe mô tô biển kiểm soát 38K1-275.00, dùng tay mở khóa, nổ máy điều khiển xe đi theo đường Q để vào tỉnh Kon Tum. Một lúc sau anh Trương Xuân H từ trong nhà bà N đi ra lấy xe mô tô đi về thì phát hiện bị mất trộm nên gọi điện cho con trai là Trương Xuân C1, sinh năm 1994, trú tại trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cùng đi tìm kiếm. Anh C1 điều khiển xe mô tô đi theo đường Q hướng vào N cách nhà bà N khoảng 01km đến địa phận thôn T, xã K, huyện K thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 38K1-275.00 đang dựng bên đường còn Trương Văn M đang ngồi ăn cơm bên cạnh, trên tay cầm chìa khóa xe mô tô, nên anh C1 đi đến chỗ M ngồi để hỏi M, thì M phát hiện anh C1 đi đến, nên liền ném chìa khóa xe mô tô về phía anh C1 rồi vùng dậy bỏ chạy. Anh C1 đuổi theo và hô hoán người dân xung quanh giữ Mậu lại, sau đó gọi Công an xã K phối hợp với Công an huyện K đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Văn M.
Theo kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô HONDA, LEAD, màu đỏ, biển kiểm soát 38K1-275.00, số máy JF45E0320388, số khung 4502DY157314, đăng ký ngày 24/03/2015, trị giá 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng).
Xe mô tô biển kiểm soát 38AK-034.08, mà Trương Văn M sử dụng đi sau đó để lại trước cổng nhà bà Chu Thị Phương N, ở thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh rồi trộm cắp xe mô tô 38K1-275.00 của anh H nói trên. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này trước đó Mậu trộm cắp của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn M1 còn khai nhận, ngoài lần phạm tội nói trên trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 16 giờ 13 phút ngày 25/5/2024, Trương Văn M còn thực hiện 02 (Hai) vụ trộm cắp tài sản, chiếm đoạt 02 (Hai) xe mô tô trên địa bàn huyện C, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể như sau:
+ Vụ thứ nhất: Sáng ngày 25/5/2024, Trương Văn M bắt xe ô tô khách, đi từ xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để vào tỉnh Kon Tum. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi xe ô tô khách chạy đến địa phận xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, do Trương Văn M không có tiền trả tiền vé xe, nên nhà xe dừng xe tại nhà hàng D1 của anh Võ Đức D, sinh năm 1973, trú tại, thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh rồi yêu cầu M xuống xe không cho tiếp tục đi vào tỉnh Kon Tum. Sau khi xuống xe, M phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 38C1-008.88 của anh Võ Đức D, dựng ở sân quán, chìa khóa xe cắm ở ổ khóa điện, nên M nảy sinh ý định trộm chiếc xe làm phương tiện đi vào miền N. Mậu đi bộ lại ngồi lên yên dùng tay mở khóa điện, nổ máy xe rồi điều khiển xe đi theo đường Q để vào tỉnh Kon Tum, khi đi đến địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì xe mô tô biển kiểm soát 38C1-008.88 trộm cắp của anh D bị hết xăng, nên M dựng bên đường rồi tiếp tục tìm xe mô tô khác trộm cắp để làm phương tiện tiếp tục đi vào tỉnh Kon Tum. Nghĩ người thân mượn xe đi, nên anh D không trình báo cơ quan chức năng. Đến ngày 25/5/2024, M khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô tại huyện C, nên anh D mới làm đơn trình báo vụ việc.
Theo kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐG ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô HONDA, LEAD, màu đen, bạc, biển kiểm soát 38C1-008.88, số máy: JF27E0589418, số khung: RLHJF1804AY566002, đăng ký ngày 20/7/2021, trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
+ Vụ thứ hai: Vào khoảng 16 giờ 13 ngày 25/5/2024, Trương Văn M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38C1-008.88 trộm cắp của anh Võ Đức D, ở huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trước đó đi đến trước cửa hàng bách hóa tổng hợp của chị Dương Thị H2, sinh năm 1982, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì xe gần hết xăng, nên M dừng bên đường Q, phát hiện trước cửa hàng chị H2 có xe mô tô biển kiểm soát 38AK-034.08 của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đang dựng trước của hàng để vào trong mua hàng, chìa khóa điện cắm ở ổ khóa điện, nên M nảy sinh ý định trộm chiếc xe làm phương tiện đi vào tỉnh Kon Tum. Mậu đi bộ lại ngồi lên yên dùng tay mở khóa điện, nổ máy xe rồi điều khiển xe đi theo đường Q để vào tỉnh Kon Tum, khi đi đến địa phận thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh thì xe mô tô biển kiểm soát 38AK-034.08 trộm cắp của chị H1 bị hết xăng, nên M dựng bên đường rồi tiếp tục trộm cắp xe mô tô 38K1-275.00 của anh Trương Xuân H, ở xã K, huyện K để làm phương tiện tiếp tục đi vào tỉnh Kon Tum, thì bị phát hiện bắt quả tang.
Theo kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐG ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô YAMALLAV, số loại 50S, màu xanh, biển kiểm soát 38AK-034.08, số máy: RNA1P39FMB1S00270, số khung: RL9GCB1UMMBG00270, đăng ký ngày 08/10/2021, trị giá 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng).
Tổng trị giá tài sản Trương Văn M trộm cắp của anh Võ Đức D, anh Trương Xuân H và chị Nguyễn Thị H1 vào ngày 25/5/2024 là: 16.100.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm nghìn đồng).
Trong quá trình điều tra bị cáo Trương Văn M xuất trình Kết luận giám định pháp y tâm thần của Viện pháp y tâm thần B miền trung vào năm 2023, nên ngày 24/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, ra Quyết định trưng cầu giám định số 479/QĐ-CSĐT gửi đến Viện pháp y tâm thần B miền trung để giám định về tâm thần đối với Trương Văn M. Theo kết luận giám định số 26/KLGĐ, ngày 21/8/2024, của Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền trung thuộc V kết luận: Tại thời điểm trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” (Vào ngày 25/5/2024) và tại thời điểm giám định, bị cáo Trương Văn M bị bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác, với trạng thái loạn thần di chứng và khởi phát muộn, theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là F16.7. (Bệnh đã có biến đổi nhân cách, hành vi và các rối loạn tâm thần mức độ vừa). Tại tất cả các thời điểm nêu trên, bị cáo Trương Văn M hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
* Về vật chứng:
Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu, gồm: 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38AK-034.08, trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị H1; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38K1-275.00 trả lại cho chủ sở hữu anh Trương Xuân H; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38C1-008.88 trả lại cho anh Võ Đức D là có căn cứ.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Các bị hại anh Võ Đức D, anh Trương Xuân H và chị Nguyễn Thị H1 sau khi nhận lại xe mô tô có đơn không yêu cầu bị cáo Trương Văn M bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số 43/CT-VKS-KA ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Cao Văn T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm q, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Cao văn T3 từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 25/5/2024 Hình phạt bổ sung: Không; Về dân sự: Không; Về vật chứng: Không
Tại phần tranh luận, bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa tranh luận: Đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, là người có bệnh, bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, bị cáo tự thú và là người dân tộc sống tại địa bàn thuộc vùng dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2025 theo quy định tại điểm q, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự để giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất có thể cho bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 25/5/2024, do không có tiền để mua vé xe ô tô khách đi vào tỉnh Kon Tum, Trương Văn M có hành vi lén lút lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sỡ hữu thực hiện 03 (Ba) vụ trộm cắp 03 (Ba) chiếc xe mô tô, với tổng trị giá tài sản 16.100.000 đồng (Mười sáu triệu một trăm nghìn đồng), cụ thể như sau: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, LEAD, màu đen, bạc, biển kiểm soát 38C1-008.88, trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), của anh Võ Đức D, sinh năm 1973, trú tại, thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Xe mô tô nhãn hiệu YAMALLAV, số loại 50S, màu xanh, biển kiểm soát 38AK-034.08, trị giá 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng), của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978, trú tại thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh và xe mô tô nhãn hiệu HONDA, LEAD, màu đỏ, biển kiểm soát 38K1-275.00, trị giá 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có 1 tiền án, cụ thể : Ngày 28/3/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù, theo Bản án số 21/2024/HSST, về tội “Cố ý gây thương tích”, Trong vụ án này bị cáo đã thực hiện 03 hành vi trộm cắp nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm và Phạm tội 02 lần trở lên, theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, là người có bệnh, bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, bị cáo tự thú và là người dân tộc sống tại địa bàn thuộc vùng dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2025. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm q, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, bị cáo là là người dân tộc sống tại địa bàn thuộc vùng dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn giai đoạn 2021-2025. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Võ Đức D, anh Trương Xuân H và chị Nguyễn Thị H1 sau khi nhận lại xe mô tô có đơn không yêu cầu bị cáo Trương Văn M bồi thường thiệt hại. Nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[7] Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu, gồm: 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38AK-034.08, trả lại cho chị Nguyễn Thị H1; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38K1-275.00 trả lại cho anh Trương Xuân H; 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 38C1-008.88 trả lại cho anh Võ Đức D là có căn cứ.
[9] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Bị cáo, người bao chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm q, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Trần Văn M2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt Trần Văn M2 12 (Mười hai) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giam, ngày (25/5/2024)
Về án phí: Bị cáo Trần Văn M2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người bào chữa cho bị cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Dũng |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
