TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày: 19-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà
Ông Kiêm Việt Hùng
- Thư ký phiên toà:
Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 22-8-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 10-9-2024 đối với bị cáo:
Hà Hữu N,
sinh ngày 01-01-1986; nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp M cá, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Mười M, sinh năm 1964 và bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1962; có vợ tên Đỗ Thị T, sinh năm 1987 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2008 và nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; nhân thân xấu: ngày 05-6-2024, bị Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ sau đó chuyển tạm giam trong vụ án khác từ ngày 13-01-2024 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại:
Ông Phạm Văn H, sinh năm 1990; nơi cư trú tại: Ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1983; nơi cư trú tại: Ấp A, xã B, huyện
- K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thành Â, sinh năm 1974; nơi cư trú tại: Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 31-12-2023, bị cáo Hà Hữu N đi bộ trên các tuyến đường từ nhà đến địa phận thuộc huyện C để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến khu vực thuộc ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thì bị cáo nhìn thấy cửa rào nhà bị hại Phạm Văn H không có khóa, bên trong nhà ở khu vực hàng ba có đậu một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu xanh đen, biển số 83P3-332.40 nhưng không có ai trông coi, đồng thời trên xe còn gắn sẵn chìa khóa xe, nên bị cáo N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Lúc này, bị cáo N mới đi vào khu vực trước nhà ông H rồi giả vờ hỏi liên tiếp 02 - 03 lần “anh, chị ơi, có ai trong nhà không”, nhưng không nghe thấy có ai trả lời, nên bị cáo đi đến chỗ xe mô tô đang đậu và dẫn xe mô tô hướng ra lộ đal, rồi lên xe mở khóa điều khiển xe chạy về hướng thành phố N, tỉnh Hậu Giang để đi tìm chỗ bán. Khi bị cáo N điều khiển xe đến tiệm S tại Khu V, phường H, thành phố N, tỉnh Hậu Giang do ông Nguyễn Thành  làm chủ, bị cáo mới hỏi để bán xe cho ông  nhưng anh  không mua mà điện thoại cho ông Nguyễn Văn H1 đến mua. Do đang cần xe chở dừa và nghe bị cáo N nói xe mô tô trên là xe của vợ bị cáo N nhưng bị mất giấy tờ và đang cần tiền gấp nên bán với giá rẻ thì anh H1 đồng ý mua với giá 2.200.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán xe, bị cáo N đã dùng hết vào việc tiêu xài cá nhân và chơi game bắn cá. Sau khi phát hiện xe mô tô bị mất trộm, ngày 03/4/2024 bị hại Phạm Văn H đã đến Công an xã H trình báo sự việc. Xét thấy, vụ việc có dấu hiệu tội phạm, nên Công an xã H đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng để giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 05/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, đến ngày 24/7/2024 ra quyết định khởi tố bị cáo Hà Hữu N, về “Tội trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐG, ngày 21/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng kết luận: Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2023: xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu xanh đen, biển số 83P3-332.40, số khung 3654GY043161, số máy JA36E0543751, nguyên giá 18.500.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 40%, giá trị còn lại 7.400.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm ngìn đồng).
Vật chứng của vụ án: trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định tạm giữ của ông Nguyễn Văn H1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu xanh đen, biển số 83P3-332.40, số khung 3654GY043161, số máy JA36E0543751. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả
lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bị hại Phạm Văn H xe mô tô nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKS-CT ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Hà Hữu N về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Hữu N phạm tội “ Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hà Hữu N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù của về tội Trộm cắp tài sản của Bản án số 80/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/01/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Văn H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H1 không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự, nên không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án: trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định tạm giữ của ông Nguyễn Văn H1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu xanh đen, biển số 83P3-332.40, số khung 3654GY043161, số máy JA36E0543751. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bị hại Phạm Văn H xe mô tô trên, nên không đặt ra xem xét.
Bị cáo thống nhất theo quan điểm luận tội, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên huyện C trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại ông Phạm Văn H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên ông Nguyễn Văn H1. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử, đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu hoãn phiên toà. Xét thấy,
Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, đồng thời trong quá trình điều tra những người này đã có lời khai đầy đủ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292, 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Hà Hữu H2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 31/12/2023, bị cáo Hà Hữu H2 đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà của bị hại Phạm Văn H, tọa lạc tại ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng rồi chiếm đoạt xe mô tô biển số 83P3-332.40 của bị hại đang đậu tại khu vực hàng ba trước nhà nhằm mục đích bán để có tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị còn lại của xe mô tô biển số 83P3-332.40 qua định giá là 7.400.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm ngìn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Hà Hữu N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[4] Xét về tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có sức khoẻ và vẫn trong độ tuổi lao động, nhưng do lười lao động, thích hưởng thụ, có đủ nhận thức pháp luật nhưng cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Về nhân thân: Ngày 05/6/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đưa ra xét xử sơ thẩm, tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi trên của bị cáo Hà Hữu Nghĩa L1 nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, có mức hình phạt nghiêm minh trước pháp luật, để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị
cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, cho nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Văn H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H1 không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự, nên Hôi đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Vật chứng của vụ án: trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định tạm giữ của ông Nguyễn Văn H1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Blade, màu xanh đen, biển số 83P3-332.40, số khung 3654GY043161, số máy JA36E0543751. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bị hại Phạm Văn H xe mô tô nêu trên, nên Hội Đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H1, Nguyễn Thành Â: trong quá trình điều tra đã chứng minh được, khi ông  giới thiệu cho ông H1 mua xe và khi mua xe mô tô biển số 83P3-332.40 từ bị cáo Hà Hữu N, cả ông H1 và ông  đều không biết xe mô tô trên do bị cáo N trộm cắp mà có, nên hành vi của ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Thành  không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng không đặt ra xem xét.
[9] Ngoài ra, trong quá trình điều tra bị cáo N còn khai nhận, ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 31/12/2023, thì trước và sau đó, bị cáo còn 08 (tám) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố S, huyện K, tỉnh Sóc Trăng và thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Tuy nhiên, các lần trộm cắp tài sản nêu trên đã được Tòa án nhân nhân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng đưa ra xét xử, đến nay bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng không đặt ra xem xét.
[10] Lời đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Hà Hữu Nghĩa L1 người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
- Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự,
Tuyên bố:
Bị cáo Hà Hữu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt bị cáo Hà Hữu N 01(Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-01-2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: buộc bị cáo Hà Hữu Nghĩa L1 người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành  được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Văn Vinh |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Hữu N có hành vi đi loanh quanh khu cân cư tìm kiếm sơ hở quản lý tài sản của người dân để trộm cắp tài sản. Bị cáo đã thực hiện trộm tài sản của bị hại Văn H nhằm mục đích bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan Công an phát hiện.
