Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG NGUYÊN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 30/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đức Hạnh và bà Dương Thị Hoàn.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phi Thăng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thị S, tên gọi khác: không; sinh ngày: 20 tháng 11 năm 1974, tại: Huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Đình K (Đã chết); con bà: Hồ Thị P (Đã chết); chồng: Lê Văn T (Đã ly hôn); con: Có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 1999); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/5/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 10 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2008/HSST). Do bị cáo kháng cáo nên ngày 21/8/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phúc thẩm, tuyên y án sơ thẩm đối với Trần Thị S (Bản án số 125/2008/HSPT) - Chấp hành xong hình phạt bản án vào ngày 07/02/2015. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị T1; sinh năm: 1979; nơi cư trú: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. (có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong quá trình sinh sống tại nước Thái Lan, chị Đinh Thị T1 quen biết Trần Thị S. Chị T1 đã vay S 02 lần, lần 1 cho vay số tiền 60.000.000đ; lần 2 cho vay số tiền 30.000.000đ. Cả 02 lần S đều cho vay với lãi suất 15%/01 tháng (tương ứng 180%/01 năm), cụ thể như sau:

Lần cho vay thứ nhất: Khoảng tháng 02/2023, do cần tiền để lo cho con đi nước ngoài nên chị T1 đã sử dụng ứng dụng mạng xã hội messenger tài khoản tên hiển thị “Thanh Lê” gọi cho S qua tài khoản tên hiển thị “Tran Thao U” để hỏi vay số tiền 60.000.000đ thì S đồng ý. Đến ngày 21/02/2023, S đến nhà chị T1 tại xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An với mục đích cho chị T1 vay số tiền 60.000.000đ. Hàng tháng chị T1 phải trả tiền lãi cho S là 9.000.000 đồng/01 tháng (tương ứng lãi suất là 15% / 1 tháng); thời gian vay từ ngày 21/02/2023 đến ngày 21/6/2023; ngày trả lãi hàng tháng là ngày 21 hoặc ngày 22 (một tháng được tính là 30 ngày). Chị T1 đồng ý. Theo yêu cầu của S, chị T1 đã viết giấy vay tiền, ký xác nhận và đưa cho S cầm. S đưa 60.000.000đ cho chị T1 vay. Đến hạn trả tiền gốc (ngày 21/6/2023) nhưng chị T1 vẫn chưa có tiền để trả nên S và chị T1 đã thống nhất: Hàng tháng chị T1 vẫn phải trả lãi như đã cam kết cho đến khi nào trả hết tiền gốc.

Quá trình trả tiền lãi, chị T1 đã trả cho S như sau: Từ ngày 21/02/2023 đến ngày 23/02/2024, chị T1 sử dụng tài khoản 01207197999 của Ngân hàng M1 (tên chủ tài khoản là Đinh Thị T1) chuyển 12 lần tiền đến số tài khoản Trần Thị S có số: 9074237 của Ngân hàng Á với tổng số tiền lãi của 12 tháng là 109.000.000đ (trong đó tháng 01/2024, do chị T1 trả lãi chậm nên đến ngày 08/02/2024, chị T1 chuyển cho S 10.000.000đ trong đó 9.000.000 đồng là tiền lãi tháng 01/2024 và trả thêm 1.000.000 đồng tiền lãi do chậm trả).

Từ ngày 22/02/2024 cho đến ngày 01/4/2024 (ngày 02/4/2024 là ngày chị T1 tố cáo S) là 01 tháng 10 ngày, chị T1 chưa trả tiền lãi cho S với số tiền đồng.

Như vậy, kể từ ngày 21/02/2023 đến ngày 01/4/2024 là 13 tháng 10 ngày thì: Số tiền lãi chị T1 phải trả cho S là: (13 tháng + 1/3 tháng) x 9.000.000 đồng/01 tháng = 120.000.000 đồng.

Tiền lãi thực tế chị T1 đã trả cho S từ ngày 21/02/2023 đến ngày 21/02/2024 (12 tháng) là: (12 tháng x 9.000.000 đồng/01 tháng) + 1.000.000 đồng (tiền lãi tháng 01/2024 trả chậm) = 109.000.000 đồng (Một trăm linh chín triệu đồng).

Theo quy định của pháp luật (Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015), tiền lãi cao nhất mà S được phép thu của chị T1 là 20% năm tương đương 1,666% tháng. Như vậy, số tiền lãi được phép thu cho khoản vay 60.000.000đ tính theo tháng là 60.000.000 đồng x 1,666% = 999.600 đồng/1 tháng. Nên tiền lãi được phép thu của khoản vay này là: (13 tháng +1/3 tháng) x 999.600đ/ tháng = 13.328.000₫ đồng (Mười ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng).

- Số tiền lãi thu lợi bất chính từ việc S cho chị T1 vay là: 120.000.000 đồng + 1.000.000 đồng (tiền lãi tháng 01/2024 trả chậm) - 13.328.000₫ đồng = 107.672.000 đồng (Một trăm linh bảy triệu sáu trăm bảy mươi hai đồng)

- Tổng số tiền thực tế đã thu lợi bất chính là: 109.000.000 đồng - 13.328.000₫ đồng = 95.672.000 đồng (Chín mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi hai đồng).

Lần cho vay thứ 2: Ngày 26/7/2023, chị T1 tiếp tục gọi điện qua ứng dụng M cho Trần Thị S vay số tiền 30.000.000 đồng. S đồng ý và yêu cầu hàng tháng chị T1 phải trả lãi cho S với số tiền là 4.500.000 đồng/01 tháng (Tương ứng lãi suất là 15%/ 1 tháng); thời gian vay từ ngày 26/7/2023 đến ngày 26/10/2023; ngày trả lãi hàng tháng là ngày 26 hoặc ngày 27 (một tháng được tính là 30 ngày). Chị T1 đồng ý. Sau đó, S sử dụng tài khoản ngân hàng của S chuyển vào tài khoản ngân hàng của chị T1 số tiền 30.000.000 đồng. Đến ngày 27/10/2023, do chị T1 chưa có tiền để trả tiền gốc nên đã thống nhất với S, hàng tháng trả lãi đến khi nào có tiền thì trả tiền gốc.

Từ ngày 26/8/2023 đến ngày 26/02/2024 (07 tháng), theo yêu cầu của S, chị T1 đã sử dụng tài khoản ngân hàng của chị T1 chuyển 07 lần tiền vào tài khoản ngân hàng của S với tổng số tiền tiền lãi của 07 tháng là 30.000.000 đồng (trong đó tháng 02/2024, chị T1 đang nợ Sỹ 1.500.000 đồng tiền lãi) và cùng ngày 26/02/2024 chị T1 đã trả cho S được 10.000.000 đồng tiền vay gốc. Nên từ ngày 27/02/2024 chị T1 chị nợ S 20.000.000₫ tiền gốc.

Kể từ ngày 27/02/2024 đến ngày 01/4/2024 (ngày 02/4/2024, chị Thanh tố cáo S) là 01 tháng 05 ngày, chị T1 chưa trả tiền lãi của khoản vay 20.000.000₫ này cho S, với số tiền 3.500.000 đồng.

Theo quy định của pháp luật (Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015), tiền lãi cao nhất mà S được phép thu của chị T1 là 20% năm tương đương 1,666% tháng. Như vậy, số tiền lãi được phép thu cho số tiền cho vay 30.000.000đ tính theo tháng là 30.000.000 đồng x 1,666% = 499.800 đồng/1 tháng; số tiền lãi được phép thu của số tiền cho vay 20.000.000đ tính theo tháng là 20.000.000 đồng x 1,666% = 333.200 đồng/1 tháng.

- Tiền lãi được phép thu của số tiền gốc 30.000.000 đồng là: 07 tháng x 499.800 đồng/1 tháng = 3.498.600 đồng; Tiền lãi được phép thu của số tiền gốc 20.000.000 đồng: (01 tháng + 1/6 tháng) x 333.200 đồng/1 tháng = 388.700 đồng.

- Số tiền lãi thu bất chính tính đến ngày 01/4/2024 là: (07 tháng x 4.500.000 đồng/01 tháng) x 30.000.000đ = 31.500.000 đồng - 3.498.600 đồng (lãi được phép thu) = 28.001.400 đồng; tiền lãi được phép thu của số tiền gốc là 20.000.000 đồng là: (01 tháng + 1/6 tháng) X 3.000.000 đồng/ tháng X 20.000.000₫ = 3.500.000 đồng – 388.700₫ đồng (lãi được phép thu) = 3.111.300 đồng.

Như vậy: Tổng số tiền lãi thu lợi bất chính là 28.001.400đ. Tổng số tiền lãi thực tế đã thu lợi bất chính: 30.000.000₫ – 3.498.600 đồng = 26.501.400 đồng.

Cáo trạng số 44/CT-VKS-HS ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Thị S về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa Trần Thị S đã khai nhận hành vi mà bị cáo thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị S phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"; về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Trần Thị S từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 08/4/2024; Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tại bị cáo số tiền 26.826.600 đồng và tịch thu tại chị Đinh Thị Thanh S1 tiền: 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) để sung quỹ nhà nước. Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Đinh Thị T1 số tiền 122.173.400 đồng; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với chứng cứ (là giấy vay tiền) do Cơ quan điều tra thu thập được; phù hợp với các bản sao kê giao dịch của chị Đinh Thị T1 do Ngân hàng TMCP Q chi nhánh N1 cung cấp và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian từ ngày 21/02/2023 đến ngày 26/7/2023, Trần Thị S đã 02 lần cho chị Đinh Thị T1 vay với mức lãi suất là 15%/01 tháng = 180%/01 năm. Cụ thể:

Ngày 21/02/2023, S có cho chị T1 vay số tiền 60.000.000 đồng; thời hạn vay từ ngày 21/02/2023 đến ngày 21/6/2023. Từ tháng 02/2023 đến tháng 02/2024, chị T1 đã trả cho S số tiền 109.000.000 đồng tiền lãi.

Ngày 26/7/2023, S tiếp tục cho chị T1 vay số tiền 30.000.000 đồng; thời hạn vay từ ngày 26/7/2023 đến ngày 26/02/2024. Số tiền lãi chị T1 đã trả cho S từ 26/8/2023 đến ngày 26/02/2024 là 30.000.000 đồng. Ngày 26/02/2024, chị T1 đã trả cho S 10.000.000 đồng tiền gốc.

Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính của cả 02 khoản vay tính đến ngày 01/4/2024 là: 107.672.000đ + 28.001.400đ = 135.673.400 đồng.

Tổng số tiền thu lợi bất chính thực tế của 02 khoản vay mà Trần Thị S cho Đinh Thị T1 vay là: 95.672.000đ + 26.501.400đ = 122.173.400 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nên hành vi của bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Vụ án trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý tín dụng của Nhà nước, gây thiệt hại đến lợi ích của người đi vay. Do tham lam nên bị cáo đã đưa ra mức lãi quá cao để bóc lột tiền của người đi vay. Bị cáo cho chị T1 vay 02 lần với tổng số tiền 90.000.000 đồng để thu tiền lãi với mức lãi suất cao gấp 9 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân năm 2015 nhằm thu lợi bất chính số tiền: 135.673.400₫ và thực tế bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền: 122.173.400 đồng. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Nên bị cáo sẽ được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét thấy, bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ, lại có nhân thân xấu (năm 2008 đã bị xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe bị cáo.

Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Bị cáo đã cho chị T1 vay lần 1 số tiền 60.000.000 đồng; lần 2 số tiền: 30.000.000 đồng. Thực tế bị cáo đã thu lãi của chị T1 số tiền: 109.000.000₫ + 30.000.000₫ = 139.000.000 đồng trong đó lãi được phép thu là: 13.328.000đ + 3.498.600đ = 16.826.600 đồng; lãi thu vượt quá là: 122.173.400 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với số tiền 90.000.000đ mà bị cáo sử dụng để cho vay được xác định là phương tiện dùng vào việc phạm tội (hiện tại chị T1 chỉ mới trả cho bị cáo 10.000.000 đồng, số tiền còn lại là 80.000.000 đồng hiện chị T1 chưa trả) và số tiền = 16.826.600 đồng (Tiền lãi hợp pháp được phép thu) là khoản thu phát sinh từ tiền phương tiện phạm tội (tiền cho vay) nên cần phải tịch thu để sung quỹ theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS (trong đó tịch thu tại bị cáo số tiền: 10.000.000đ + 16.826.600đ = 26.826.600 đồng; tịch thu tại chị T1 số tiền: 80.000.000đ (số tiền gốc mà chị T1 vay chưa trả cho bị cáo) theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS; điểm a, b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Đối với số tiền 122.173.400 đồng mà bị cáo đã thu của người vay do chị Đinh Thị T1 xin được nhận lại. Xét thấy: Đây là khoản tiền lãi mà bị cáo thu vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật Dân là khoản tiền không được phép thu nên cần buộc bị cáo trả lại cho người vay tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[6]. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã thu giữ: 01 giấy vay tiền đề ngày 21/02/2023.

Xét thấy: Giấy vay tiền là chứng cứ có liên quan đến việc phạm tội của bị cáo (hiện đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

[7]. Trong vụ án này bị cáo S có khai: Số tiền mà bị cáo cho chị T1 vay có nguồn gốc là của 02 người đàn ông tên người Thái Lan tên là Bá N và Bá K1. Bị cáo đã vay của các với lãi suất là 10%/ tháng sau đó bị cáo cho chị T1 vay lại với lãi suất là 15%/ tháng. Do bị cáo không cung cấp được lý lịch cụ thể của 02 người này nên Cơ quan CSĐT không chấp nhận lời khai này của bị cáo.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Trần Thị S phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 08/4/2024.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tại bị cáo số tiền 26.826.600đ (hai mươi sáu triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm đồng) và tịch thu tại chị Đinh Thị Thanh S1 tiền: 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Đinh Thị T1 số tiền 122.173.400đ (một trăm hai mươi hai triệu một trăm bảy mươi ba nghìn bốn trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi phải thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Thị S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.108.670 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Cộng 6.308.670đ (sáu triệu ba trăm linh tám nghìn sáu mươi bảy đồng)

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp, TAND tỉnh Nghệ An.
  • - VKSND, Công an huyện Hưng Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên;
  • - Bị cáo, người LQ; Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Hạnh Dương Thị H

Nguyễn Thị Kim T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án cho vay lãi nặng Trần Thị Sỹ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger