|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS -ST Ngày: 24 – 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đinh Thị Hồng Thơm
Bà Vũ Thúy Nga
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Thế Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Phạm Văn M, sinh năm 1982;
Nơi ĐKTT: thôn L, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Nơi tạm trú: Tổ C, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa.Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Bác sỹ nha khoa. Bố: Phạm Văn N, sinh năm 1954. Mẹ: Trần Thị H, sinh năm 1953. Bị cáo có vợ: Phạm Thị Kim O, sinh năm 1986; có hai con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giam ngày 25/01/2024 đến ngày 03/4/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: anh Mai Hữu D, sinh năm 1978 (Đã chết)
Nơi cư trú: xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
* Chị Phạm Thị L, sinh năm 1981, Nơi cư trú: xóm E, xã X huyện X, tỉnh Nam Định- Là vợ anh D
* Ông Mai Văn U, sinh năm 1949, Nơi cư trú: xóm E, xã X huyện X, tỉnh Nam Định – Là bố đẻ anh D
* Bà Bùi Thị C, sinh năm 1950, Nơi cư trú: xóm E, xã X huyện X, tỉnh Nam Định – là mẹ đẻ anh D
* Anh Mai Đức D1, sinh năm 2003, Nơi cư trú: xóm E, xã X huyện X, tỉnh Nam Định – là con trai anh D
* Chị Mai Thị N1, sinh năm 2001, Nơi cư trú: xóm E, xã X huyện X, tỉnh Nam Định- Là con gái anh D
* Cháu Mai Thị Thảo N2, sinh năm 2012, Nơi cư trú: xóm E, xã X huyện X, tỉnh Nam Định- Là con gái anh Dương
Người đại diện hợp pháp của cháu Mai Thị Thảo N2: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1981, Nơi cư trú: xóm E, xã X huyện X, tỉnh Nam Định (mẹ đẻ)
Người đại diện theo ủy quyền của chị L, ông U, bà C, anh D1, chị N1, cháu N2: ông Mai Văn K, sinh năm 1952, Nơi cư trú: xóm F, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.
Người làm chứng:
* chị Phạm Thị Kim O, sinh năm 1986, địa chỉ: tổ C, thị trấn X huyện X, tỉnh Nam Định.
* chị Phạm Thị H1, sinh năm 1971, địa chỉ: tổ E, thị trấn X huyện X, tỉnh Nam Định.
* ông Mai Xuân T, sinh năm 1952, địa chỉ: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
( Tại phiên tòa chị O có mặt, chị L, ông U, bà C, anh D1, chị N1, cháu N2, ông K vắng mặt)
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố về hành vi phạm tội như sau: Phạm Văn M, sinh năm 1982, trú tại: tổ C, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 còn hiệu lực. Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 28/11/2023, M điều khiển xe ô tô loại 5 chỗ, màu sơn trắng, nhãn hiệu Toyota Vios, BKS: 18A-238.64 chở vợ là Phạm Thị Kim O, sinh năm 1986, đi từ nhà ra tỉnh lộ 489 rồi lưu thông theo hướng từ xã X, huyện X đi ngã ba dốc X, thị trấn X. Đây là đoạn đường đôi nằm trong khu đông dân cư, có dải phân cách cứng ở giữa. Đến khoảng 12 giờ 38 phút cùng ngày, xe ô tô do M điều khiển đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa tỉnh lộ 489 với đường huyện (ngã tư Đ) thuộc địa phận tổ C, thị trấn X. Tại lề đường bên phải theo hướng đi của M có biển cảnh báo nguy hiểm đường giao nhau có đèn tín hiệu (đèn đang trong trạng thái không hoạt động), lòng đường ngay trước khi vào ngã tư có gờ giảm tốc và vạch kẻ đường cho người đi bộ. Cùng lúc này, tại ngã tư có anh Mai Hữu D, sinh năm 1978, trú tại: Xóm E, xã X, huyện X điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 18F1-038.31, dung tích xi lanh 110 cm³ lưu thông trên đường huyện theo hướng từ cầu L xã X đi xã X, huyện X. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không chấp hành biển báo giao thông đường bộ và vạch sơn kẻ đường nên khi vào ngã tư thì phần đầu bên trái xe ô tô do M điều khiển đã xô ngang vào phần bên phải theo chiều tiến xe mô tô do anh D điều khiển, hất văng xe mô tô và anh D về phía ngã ba dốc Xuân B khoảng 20 mét. Hậu quả: anh D tử vong trên đường đưa đi cấp cứu. M và chị O không bị thương tích gì, hai phương tiện bị hư hỏng.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi và thu giữ giám định vật chứng liên quan, kết quả như sau.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ TNGT ngã tư giao nhau giữa trục đường huyện và tỉnh lộ 489C thuộc tổ C, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định. Đường huyện và tỉnh lộ 489 là đường đôi, mặt đường được trải nhựa phẳng nhẵn, mỗi làn đường rộng 8,8 mét, được phân chia bởi dãi phân cách cứng rộng 2 mét ở giữa, lề đường các bên rộng 06 mét.
Tại hiện trường để lại: 02 vết dầu; 06 vết cày đánh số (2), (3), (4), (5), (6), (7); 01 đám mảnh nhựa vỡ; 01 vết máu và 02 phương tiện. Vết dầu số (1) có dạng bắn tia có kích thước (20,8x 0,9)mét. Vết cày dài nhất có kích thước 15,6 mét, vết cày ngắn nhất có kích thước (0,32x0,12) mét
Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 xe ô tô BKS: 18A-238.64; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Phạm Văn M cùng các giấy tờ liên quan; 01 xe mô tô BKS: 18F1-038.31 và 03 đoạn video từ camera an ninh ký hiệu (A1), (A2), (A3) tại ngã tư ghi lại nội dung vụ tai nạn lưu trong USB hiệu SanDisk màu đỏ - đen.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu trắng, BKS: 18A-238.64: Mặt ngoài lưới chắn gió có vết trượt xước nhựa kích thước (15x12)cm; Ba đờ sốc trước có bám dính vết trượt màu đen kích thước (13x3,5)cm, mặt dưới ba đờ sốc có vết rách nhựa dài 11cm; Phần khớp nối với ba đờ sốc với tai xe bị bung rời khỏi vị trí liên kết, cạnh của mép khớp nối có vết nứt dài 12cm; Phía trên nắp ca pô có vết trượt, rạn nứt sơn và bám dính chất màu đen kích thước (8x4)cm; Kính chắn gió bị rạn, nứt vỡ theo chiều hướng từ trên xuống dưới kích thước (119x84)cm....
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, BKS: 18F1- 038.31: Chắn bùn bánh xe phía trước có vết nứt nhựa dài 16,5cm; Yếm chắn gió bên phải theo chiều tiến của xe bị gãy vỡ một phần không còn ở vị trí ban đầu; Mặt ngoài càng xe bên phải theo chiều tiến có vết trượt màu trắng – đen kích thước (15x2)cm......
Quá trình khám nghiệm, Cơ quan CSĐT thu giữ 01 đoạn video từ hệ thống Camera hành trình xe ô tô BKS: 18A-238.64 ký hiệu A4 lưu trong USB hiệu SanDisk màu đỏ - đen. Thu giữ chất màu trắng bám dính trên bề mặt càng bên phải xe mô tô BKS: 18F1- 038.31 niêm phong ký hiệu B, thu giữ mẫu sơn màu trắng thu giữ tại mũi xe ô tô BKS: 18A -238.64 niêm phong ký hiệu A. (BL: 92)
Kết quả trưng cầu giám định:
- Ngày 28/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X trưng cầu phòng K1 Công an tỉnh N giám định tử thi, xác định nguyên nhân chết của anh Mai Hữu D. Tại bản kết luận giám định số 1694/KLGĐTT-KTHS ngày 12/12/2023 của P Công an tỉnh N kết luận: Nạn nhân Mai Hữu D chết do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ; Cơ chế: Do va đập và trà sát.
- Ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X trưng cầu phòng K1 Công an tỉnh N: Giám định mẫu chất màu trắng bám dính trên bề mặt càng bên phải xe mô tô BKS: 18F1- 038.31 (ký hiệu B) với mẫu sơn màu trắng thu giữ tại mũi xe ô tô BKS: 18A -238.64 (ký hiệu A) và giám định đối với 04 đoạn video đã thu giữ.
+ Tại bản kết luận giám định số 293/KLGĐTT-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: mẫu chất màu trắng bám dính trên bề mặt càng bên phải của xe mô tô BKS: 18F1- 038.31 được niêm phong ký hiệu B là sơn cùng loại với mẫu sơn màu trắng thu giữ tại mũi xe ô tô BKS: 18A -238.64 niêm phong ký hiệu A.
+ Tại bản kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu gửi giám định (A1, A2, A3, A4). Tốc độ xe ô tô BKS: 18A - 238.64 tại thời điểm 12h38 phút trong mẫu A1 là 60,98km/h (± 2,28km/h); A2 là 56,89km/h (± 2,28km/h); A3 là 59,49km/h (± 2,28km/h); A4 là 58,64 km/h (± 1,95km/h). Tốc độ xe mô tô BKS: 18F1 – 03831 tại thời điểm 12h38 phút trong mẫu A2 là 35,1km/h (± 1,4km/h); A3 là 36,68km/h (± 1,4km/h). Xe mô tô BKS 18F1-038.31 đi vào ngã tư giao nhau trước so với xe ô tô BKS: 18A-238.64.
Tại phiếu đo nồng độ cồn hồi 13 giờ 09 phút ngày 28/11/2023 của lực lượng CSGT Công an huyện X đối với Phạm Văn M là 0,000 mg/lít khí thở. Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 28/11/2023 của Phòng khám đa khoa Đình Cự huyện X xác định Phạm Văn M âm tính với ma túy.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Sau khi tiến hành khám nghiệm phương tiện và thu thập các tài liệu liên quan, Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã trả chiếc xe ô tô BKS: 18A-238.64 và giấy tờ liên quan cho Phạm Văn M; trả chiếc xe mô tô BKS: 18F1-038.31 cho gia đình anh Mai Hữu D. Hiện 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 293/KL-KTHS của Phòng K1 được bảo quản theo quy định chờ xử lý. 01 giấy phép lái xe ô tô số [...] mang tên Phạm Văn M và chiếc USB hiệu SanDisk màu đỏ - đen được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, Phạm Văn M đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Mai Hữu D số tiền 200.000.000 đồng. Hiện người đại diện gia đình anh D không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phạm Văn M.
Cáo trạng số 43/CT - VKSXT ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường,tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Phạm Văn M về tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS xử phạt Phạm Văn M từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm về tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ. Trách nhiệm dân sự không đặt ra. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số [...] mang tên Phạm Văn M.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, gia đình bị hại, người liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 28/11/2023. Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày lập hồi 13 giờ ngày 28/11/2023. Biên bản khám xe mô tô hồi 16 giờ 25 ngày 08/12/2023; Biên bản khám xe ô tô hồi 15 giờ ngày 08/12/2023. Kết luận giám định số 293/KLGĐTT-KTHS ngày 18/01/2024 và bản kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N. Kết luận giám định pháp y tử thi số 1694/KLGĐTT-KTHS ngày 12/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N. Lời khai của người làm chứng Mai Xuân T, Phạm Thị H1, Phạm Thị Kim O.
Như vậy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 38 phút, ngày 28/11/2023 Phạm Văn M có giấy phép lái xe hạng B2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS:18A-238.64 lưu thông trên tỉnh lộ 489 theo hướng từ xã X đi ngã ba dốc X. Khi đi đến ngã tư giao nhau giữa tỉnh lộ 489 và đường huyện thuộc tổ C thị trấn X, là đường nằm trong khu đông dân cư. Phạm Văn M không chú ý quan sát để chấp hành hiệu lệnh biển cảnh báo nguy hiểm, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần đầu xe ô tô BKS: 18A-238.64 do M điều khiển xô vào phần bên phải theo chiều tiến xe mô tô do anh Mai Hữu D điều khiển làm anh D tử vong. Hành vi của Phạm Văn M đã vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ và Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại tới trật tự an toàn giao thông đường bộ. Trong lúc tình hình trật tự an toàn giao thông diễn biến phức tạp, Nhà nước đề ra nhiều chính sách nhằm hạn chế tai nạn giao thông, các cơ quan ban ngành nhiều nỗ lực tuyên truyền vận động mọi người chấp hành luật lệ giao thông nhưng tai nạn vẫn không giảm. Bị cáo thiếu ý thức tuân thủ luật giao thông đường bộ nên gây ra tai nạn trên làm thiệt hại tính mạng của người khác. Do đó cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung ngoài xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Sau khi xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy chỉ cần áp dụng mức án phạt tù có thời hạn cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội cùng sự giám sát của UBND nơi bị cáo cư trú cũng đủ để bị cáo trở thành công dân có ích và răn đe đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và không ai yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét nữa.
Tang vật vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô BKS: 18A-238.64 và giấy tờ liên quan cho Phạm Văn M; trả chiếc xe mô tô BKS: 18F1-038.31 cho gia đình anh Mai Hữu D là phù hợp. Xét thấy không cần tịch thu giấy phép lái xe của bị cáo nên trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số [...] mang tên Phạm Văn M. Chiếc USB hiệu SanDisk màu đỏ - đen được chuyển theo hồ sơ vụ án sẽ tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 293/KL-KTHS của Phòng K1 đang giữ tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện X. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ.
-
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văm M1 18 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(24/6/2024). ( Bị cáo đã bị giam giữ từ ngày 25/01/2024 đến 03/4/2024)
- - Giao bị cáo Phạm Văn M cho UBND thị trấn X giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì việc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách đối với bị cáo được thực hiện theo quy định Điều 68 Luật Thi hành án hình sự 2019.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số [...] mang tên Phạm Văn M. Cho tiêu hủy01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 293/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh N có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2024 tại Cơ quan thi hành án dân sự huyện X.
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người được ủy quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Quỳnh |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn M lái xe không chú ý quan sát đã gây tai nạn chết người
