Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST.

Ngày: 28/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tấn Sinh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Nam Tiến

+ Bà Nguyễn Thị Bích Lam

-Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà, số: 13/2024/HSST-QĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Quốc C, sinh ngày 26/02/1999 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tích T, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Trương Thị N, sinh năm 1960; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Lê Quốc C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/01/2024 đến ngày 24/4/2024, hiện đang tại ngoại tại thôn H 02, tại xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quốc C - sinh năm 1999, trú tại: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên vào khoảng 21 giờ ngày 19/12/2023, C đi đến khu vực Xóm C thuộc thị trấn P, huyện T gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy đá, người thanh niên nhận tiền và đưa cho C 01 gói nylon ma túy đá. Sau đó, C cất giấu gói ma túy đá trong túi quần phía trước bên phải của C đang mặc đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày 19/12/2023 Công an huyện T phối hợp Công an xã C tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự, khi tổ công tác đi đến khu vực thôn H, xã C, huyện T phát hiện bắt quả tang Lê Quốc C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của C đang mặc có 01 gói nylon không màu, hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu trắng kích thước khoảng 03cm x 01cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, C khai nhận chất tinh thể trắng chứa trong gói nylon thu giữ của C là ma túy đá của C cất giấu để đi tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Tại bản kết luận giám định về ma túy số 1477/KL-KTHS ngày 27.12.2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 0,2932 gam là Methamphetamine.

Lời khai của Lê Quốc C phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy có đủ cơ sở xác định: Lê Quốc C đang cất giấu 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,2932 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Về tang vật chứng: Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm:

01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng 03cm x 01 cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,2217 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1477 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Đối với người thanh niên tại khu vực xóm C thuộc thị trấn P đã bán ma túy đá cho Lê Quốc C do chưa rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại Bản Cáo trạng số 36/CT-VKSTP-HS, ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Lê Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Quốc C từ 01 (một) năm đến 01(một) 03(ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng 03cm x 01 cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,2217 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1477 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B.

- Bị cáo Lê Quốc C thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc C không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản phạm tội quả tang, đã làm rõ: Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 19/12/2023 tại thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận, do bị cáo Lê Quốc C đang cất giấu 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,2932 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang (Tại Bản kết luận giám định về ma túy số: 1477/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B). Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Bị cáo Lê Quốc C là người đã trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút cất giấu ma túy là xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do bị nghiện nên đã thực hiện hành vi này. Methamphetamine là chất ma túy, gây ức chế làm giảm hoạt động của não bộ và hệ thống thần kinh trung ương, vì thế nó ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những tiếp tay cho các tệ nạn xã hội, làm phát sinh các loại tội phạm khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo có thời gian tu dưỡng, học tập, lao động và rèn luyện bản thân, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Về tang, vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng 03cm x 01 cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,2217 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1477 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B vì đây là vật cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng.

[6] Đối với người thanh niên tại khu vực xóm C thuộc thị trấn P đã bán ma túy đá cho Lê Quốc C do chưa rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Bị cáo Lê Quốc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc C 01(một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng 03cm x 01 cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,2217 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1477 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T1 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K- Công an tỉnh B. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 15/4/2024).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Quốc C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/5/2024).

Nơi nhận:

- VKSND huyện Tuy Phong;

- CA huyện Tuy Phong;

- THADS huyện Tuy Phong;

- Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Tấn Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc Cảnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger