Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 16-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đồng Mạnh Linh, bà Nguyễn Ngọc Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 10-6-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/QĐXXST- HS ngày 02-8-2024 đối với các bị cáo:

1. Cao Bá H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 06 tháng 5 năm 1969 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Xuân N, sinh năm: 1935 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1934; vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970 (đã ly hôn); con: Chưa có; tiền án: 01. Năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 49/2015/HSST ngày 06-8-2015; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1997, bị Tòa án nhân dân thị xã Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” tại Bản án số 29/HS ngày 29-3-1997. Năm 2001, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Y, tỉnh Yên Bái ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh (Trung tâm cai nghiện và lao động tỉnh Y) thời hạn 12 tháng tại Quyết định số 349/QĐ-UB ngày 21-6-2001. Năm 2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 04 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 80/HSST ngày 07-12-2004. Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 73/2009/ HSST ngày 30-6-2009. Bị cáo bị tạm giữ ngày 16-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

2. Kiều Thanh S; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 14 tháng 11 năm 1979 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Kiều Trọng L, sinh năm 1933 (đã chết) và bà: Phùng Thị C, sinh năm: 1937; vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1981 (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010, bị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 73/2010/HSST ngày 16-11-2010. Bị cáo bị tạm giữ ngày 16-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Duy T2; sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn X, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

* Người chứng kiến:

- Chị Cao Thị Kim H1; sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn M; sinh năm 1952; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 ngày 16-4-2024, khi Kiều Thanh S và Đặng Duy T2 đang ngồi uống nước chè tại khu vực cổng bến xe khách Yên Bái thì có 1 người nam giới đến ngồi cạnh Sâm, chủ động nói chuyện và tự giới thiệu tên là H2 rồi mời S hút thuốc lá và đưa cho S 01 bao thuốc lá. Khi Sâm cầm thì thấy ở phía sau bao thuốc có 01 túi nilon màu trắng có khoá kẹp, viền màu đỏ, bên trong có 03 viên ma tuý "Ngựa", H2 hỏi S: "Anh có chơi đồ không", S trả lời: "Có", H2 nói: "Cho anh mấy con ngựa để chơi". Do là người từng sử dụng ma tuý "Ngựa" nên S đồng ý và cầm túi nilon có 03 viên ma tuý "Ngựa" cho luôn vào túi quần đùi bên phải đang mặc với mục đích để sử dụng, H2 cũng đứng dậy đi luôn. Sau đó thì Cao Bá H đến cùng với S và T2 uống nước chè. T2 nói muốn về nhà H chơi mục đích thăm mẹ H. H bảo S và T2 cứ về nhà mình trước còn H đi mua cám cho chim cảnh ăn rồi sẽ về sau.

Ngay sau đó, S và T2 cùng nhau đi về nhà H tại tổ dân phố P, phường N, thành phố Y thăm mẹ của H ở tầng 1. Khoảng 5 phút sau, H đi mua cám chim về nhà và mang theo cám, lồng chim cùng S, T2 đi lên tầng hai nhà H, lúc này là khoảng 9 giờ. S và T2 cùng đi vào phòng ngủ của H (phòng bên trái, giáp cầu thang), còn H chăm chim cảnh tại khu vực sảnh phòng khách, trước cửa phòng ngủ của mình. Khi vào phòng, S và T2 ngồi tại nền phòng gần giường ngủ chơi. Tại đây S rủ T2: "Có ba con ngựa anh chơi không", T2 hiểu S rủ mình sử dụng ma tuý tổng hợp "Ngựa" nên T2 đồng ý và không nói gì. Sâm lấy 03 viên ma túy tổng hợp "Ngựa" ở trong túi nilon từ túi quần đang mặc ra để trên nền phòng. Lúc này H đang chăm chim ở khu vực phòng khách gần cửa phòng nơi S và T2 ngồi. S đi ra chỗ H và bảo: "Em có ba con ngựa, anh em mình chơi", H nói: "Chúng mày cứ chơi đi, tí anh vào sau", S hỏi tiếp: "Anh có chai nhựa, ống hút, giấy bạc không", H trả lời: "Ở trong nhà vệ sinh ý". Sâm đi vào tìm nhưng không thấy nên lại quay ra hỏi H, H chỉ tay về phía nhà vệ sinh và bảo S: "Ở trong túi nilon màu xanh phía sau cửa ý". Sâm đi vào nhà vệ sinh lần thứ hai tìm và lấy được trên móc áo phía sau cửa một túi nilon màu xanh treo sau cánh cửa có các dụng cụ sử dụng ma túy "Ngựa". Sâm cầm túi nilon về phòng của H, mở ra thấy có 01 chai nhựa màu trắng đã được đục sẵn hai lỗ trên nắp, ống hút nhựa, cuộn giấy bạc, bật lửa rồi để toàn bộ số dụng cụ này ra nền phòng. Sau đó, S mang chai nhựa ra nhà vệ sinh đổ nước vào chai và mang vào phòng, S đậy nắp chai và cắm hai ống hút nhựa vào hai lỗ ở nắp chai, xé một mảnh giấy bạc dài khoảng 30 cm gập thành dạng "Máng", chuẩn bị xong dụng cụ, S lấy từ túi nilon ra 01 viên ma túy tổng hợp thứ nhất cho vào "Máng" rồi dùng bật lửa đốt thành khói, S tự hút một hơi đầu tiên, sau đó Sâm cầm máng và đốt ma tuý để mời T2, T2 tự cầm ống hút và hút một hơi xong bỏ ống hút ra, sau đó S tự cầm và tự hút rồi lại tiếp tục bê “Máng” cho T2 sử dụng, hai người thay nhau sử dụng tiếp cho đến khi hết viên ma tuý "Ngựa" thứ nhất, sau đó S và T2 ngồi chơi điện thoại.

Viên thứ hai: Sau khi sử dụng hết viên ma tuý "Ngựa" thứ nhất khoảng 5-10 phút, S lại lấy từ túi nilon ra một viên ma tuý thứ hai cho vào “Máng”, dùng bật lửa đốt, S sử dụng hơi đầu tiên, sau đó S bê máng đốt cho T2 tự cầm ống hút sử dụng. Sau khi cho chim ăn, H ra ngoài mua 01 bao thuốc lá Thăng Long rồi quay về phòng thì thấy S, T2 đang ngồi ở nền phòng sử dụng ma tuý, S bảo H: "Anh vào làm khói", H không nói gì thì ngay lúc đó Nguyễn Việt T3 (Sinh năm: 1975; trú tại: Tổ E, phường N, thành phố Y) đến nhờ H chở về, T3 đứng ở khu vực đầu cầu thang và gọi bảo H: “Anh chở em về với” nên H nói với S: “để anh chở T3 toác về đã”, sau đó H lấy xe mô tô chở T3 về nhà tại phường N, còn S tiếp tục đốt ma tuý để S và T2 sử dụng hết viên ma tuý này.

Viên thứ ba: Khoảng 10-15 phút, S lại cho viên ma tuý thứ ba vào "Máng" giấy bạc đốt và tự hút một khói thì lúc này H trở về phòng, H ngồi xuống nền phòng, quay lưng vào tủ quần áo, bên tay phải S. S bảo H: "Anh ngồi chơi", đồng thời tay trái Sâm cầm “máng” có chứa viên ma tuý, tay phải cầm bật lửa đốt dưới “máng” bê cho H, H tự cầm ống nhựa hút 02 hơi ma túy, sau đó S để máng xuống nền nhà rồi cả ba người ngồi chơi điện thoại. Ngay lúc đó bị Công an thành phố Y kiểm tra, lập biên bản thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Thu giữ tại nền phòng: 01 chai nhựa màu trắng, nắp bằng nhựa màu trắng, đục 02 lỗ hình tròn (một lỗ cắm đoạn ống nhựa màu trắng, đầu ống quận giấy bạc; một lỗ được cắm đoạn ống nhựa màu hồng và màu vàng); 01 mảnh giấy bạc (dạng "máng"), trên mặt giấy bạc có bám dính chất màu đen; 04 bật lửa ga bằng nhựa (03 chiếc màu đỏ, 01 chiếc màu xanh); 01 quận giấy bạc dài khoảng 30cm, lõi hình tròn; 01 vỏ túi nilon màu trắng miệng túi có khoá kẹp, viền màu đỏ kích thước khoảng (5x8)cm.

Tạm giữ của H 02 điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: 01 điện thoại màu đen có chữ “VSMART” màn hình cảm ứng, lắp 02 sim 0858.396.296 và 0973.866.765 và 01 điện thoại NOKIA màu đen lắp sim số 0973.406.065; 01 căn cước công dân mang tên Cao Bá H và số tiền 1.580.000 đồng.

Tạm giữ của S 01 điện thoại di động OPPO màu xám đã qua sử dụng, lắp sim số 0976.862.311 và 01 căn cước công dân mang tên Kiều Thanh S.

Tạm giữ của T2 01 điện thoại di động loại IPHONE màu bạc, qua sử dụng, lắp sim số 0988.857.890 và số tiền 4.400.000 đồng.

Thu giữ tại ngăn tủ gỗ bàn trang điểm kê giáp giường ngủ trong phòng của Cao Bá H: 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có khoá kẹp, viền màu đỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng tại 01 chiếc hộp giấy màu xanh có chữ FUN&BEAUTY; 05 vỏ túi nilon màu trắng miệng túi có khoá kẹp, viền màu đỏ; 01 hộp giấy có chữ EURO CAKE, bên trong có 01 ống thuỷ tinh, một đầu được uốn cong, phần uốn cong có hình phễu tròn.

Tại Bản Kết luận giám định số: 223/KL-KTHS ngày 24 tháng 04 năm 2024 của Phòng K - công an tỉnh Y kết luận:

- Chất màu đen bám dính trên mảnh giấy bạc kích thước (28x1,8) cm, một mặt bị đốt đen thu giữ tại nền phòng ngủ của Cao Bá H không xác định được khối lượng, gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

- Chất bột nén màu trắng thu giữ trong hộp giấy màu xanh có khối lượng là 4,7g không tìm thấy thành phần của chất ma túy.

Cáo trạng số 44 /CT- VKSTP ngày 08-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Cao Bá H về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Kiều Thanh S về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cao Bá H và Kiều Thanh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Bá H từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Kiều Thanh S từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh giấy bạc bị đốt đen; 4,5g chất bột nén màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng, cao khoảng 20cm; 04 bật lửa ga bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 quận giấy bạc dài khoảng 30cm, lõi hình tròn; 01 vỏ túi nilon màu trắng miệng túi có khoá kẹp, viền màu đỏ kích thước khoảng 5cm x8cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp, viền màu đỏ; 01 hộp giấy cattong có chữ EURO CAKE; 01 ống thủy tinh, một đầu được uốn cong, phần uốn cong có hình phễu tròn; 07 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp, viền màu đỏ; 01 hộp giấy cattong màu xanh có chữ FUN&BEATY.

+ Trả lại cho bị cáo Cao Bá H 02 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: 01 điện thoại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, có chữ "VS MART”; 01 điện thoại NOKIA màu đen; 01 căn cước công dân mang tên Cao Bá H và số tiền 1.580.000 đồng. Trả lại cho bị cáo Kiều Thanh S 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng loại OPPO và 01 căn cước công dân mang tên Kiều Thanh S.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không bổ sung gì, không tranh luận gì và đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian hơn 9 giờ đến 10 giờ 35 phút ngày 16-4-2024, tại số nhà I, thuộc tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, Kiều Thanh S và Cao Bá H đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, Kiều Thanh S là người rủ rê, cung cấp ma túy, trong quá trình tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, S là người chuẩn bị công cụ (chai nhựa, ống hút, giấy bạc, bật lửa); là người "chế biến" 03 viên ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine để cung cấp cho Đặng Duy T2, Cao Bá H và bản thân Kiều Thanh S sử dụng. Hành vi của bị cáo Kiều Thanh S thuộc trường hợp “đối với hai người trở lên”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố đối với bị cáo Kiều Thanh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với Cao Bá H: Bị cáo đã sử dụng phòng ngủ thuộc quyền quản lý của của mình làm địa điểm, đã cung cấp công cụ gồm: chai nhựa, ống hút, giấy bạc, bật lửa để cho Kiều Thanh S “chế biến” 03 viên ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine cung cấp cho Đặng Duy T2, Kiều Thanh S và bản thân bị cáo cùng sử dụng. Hành vi của bị cáo Cao Bá H thuộc trường hợp “đối với hai người trở lên”. Do bị cáo Cao Bá H có 1 tiền án đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố đối với bị cáo Cao Bá H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh thêm các tội phạm khác, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đủ nhận thức để biết được tác hại và sự nguy hiểm của ma túy đối với sức khỏe bản thân, thấy trước được tác hại của việc đưa ma túy vào cơ thể người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Đánh giá vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Các bị cáo đều có vị trí, vai trò nhất định và đều thực hiện hành vi phạm tội là đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác, đồng thời tự đưa ma túy vào cơ thể của chính mình.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Kiều Thanh S không có tiền án, tiền sự; có 01 tiền án đã được xóa án tích về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Cao Bá H có 01 tiền án chưa được xóa án tích vào năm 2015 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Trong các năm 1997, 2004 và 2009, bị cáo đã 03 lần bị xử phạt tù về các hành vi xâm phạm sở hữu; mua bán; tàng trữ trái phép chất ma túy và 01 lần bị đưa vào Trung tâm cai nghiện và lao động tỉnh Y, tuy đều đã được xóa án tích và xóa tiền sự nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố, mẹ đẻ là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhì và hạng Ba nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội. Do bị cáo Cao Bá H có nhân thân rất xấu, có 02 tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Kiều Thanh S.

[6.2] Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các biên bản xác minh do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Y tiến hành lập tại Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố Y và Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Y ngày 16-5-2024 về tài sản, thu nhập của Kiều Thanh S và Cao Bá H. Xét thấy, các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình và không có tài sản gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về các hành vi, người và các đồ vật liên quan khác:

- Đối với Đặng Duy T2: Quá trình điều tra, T2 khai nhận bản thân có hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy", kết quả xét nghiệm Tiệp dương tính với chất ma túy. Trong quá trình sử dụng ma túy tại phòng ngủ của H vào ngày 16-4-2024, T2 không tham gia vào việc cung cấp, chuẩn bị ma túy, chuẩn bị công cụ hay có hành vi khách quan nào khác liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31-12-2021 của Chính phủ, đồng thời thông báo về chính quyền địa phương nơi cư trú biết để quản lý, giáo dục là phù hợp. Các tài sản, đồ vật Đặng Duy T2 bị tạm giữ trong quá trình kiểm tra gồm: 01 điện thoại di động loại Iphone màu bạc, đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao: 0988.857.890 và số tiền 4.400.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 09-5-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đã trả lại cho Đặng Duy T2 là chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 410/QĐ-ĐCSMT là phù hợp.

- Đối với bà Nguyễn Thị T (mẹ bị cáo H) là chủ sở hữu hợp pháp ngôi nhà số I, tổ dân phố P, phường N, thành phố Y: Quá trình điều tra xác định bà T đã già yếu, chỉ ăn ở, sinh hoạt ở tầng một của ngôi nhà, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đã phối hợp với gia đình, tổ nhân dân đến làm việc với bà T. Tuy nhiên, do tuổi cao, sức yếu, dấu hiệu bị nặng tai, trạng thái tinh thần có dấu hiệu không còn được minh mẫn, tiếp xúc kém, không thể trả lời các câu hỏi của cơ quan điều tra, không thể đọc, viết như bình thường nên không tiến hành hoạt động điều tra được. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y không đề nghị xử lý trong vụ án này là phù hợp.

- Đối với chị Cao Thị Kim H1 (em gái bị cáo H), tại thời điểm sáng ngày 16-4-2024, chị H1 có mặt tại số nhà I mục đích để chăm mẹ, chị H1 không biết việc anh trai là Cao Bá H thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ở trên tầng hai của ngôi nhà này, do vậy không xem xét trách nhiệm đối với chị H1 trong vụ án này là phù hợp.

- Đối với Nguyễn Việt T3, tại thời điểm sáng ngày 16-4-2024, T3 cũng có mặt tại nhà Cao Bá H, mục đích đến để nhờ H chở về nhà. Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đã tiến hành xác minh, xác định Nguyễn Việt T3 vắng mặt tại địa phương. Quá trình điều tra, bị cáo Kiều Thanh S, bị cáo Cao Bá H và Đặng Duy T2 đều khai T3 không nhìn thấy, không biết, không tham gia sử dụng trái phép chất ma túy và không liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y không xem xét trách nhiệm với T3 trong vụ án này là phù hợp.

- Về nguồn gốc 03 viên ma túy, loại Menthamphetamie có để sử dụng trái phép vào ngày 16-4-2024: Quá trình điều tra, Kiều Thanh S khai nhận là được một người đàn ông không quen biết, tự giới thiệu tên là H2 cho S. Do S không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[8] Về vật chứng và các đồ vật, tài sản tạm giữ:

- Đối với 01 mảnh giấy bạc bị đốt đen; 01 chai nhựa màu trắng, cao khoảng 20cm; chai có nắp bằng nhựa màu trắng, đục 02 lỗ hình tròn (một lỗ cắm đoạn ống nhựa màu trắng, đầu ống quận giấy bạc; một lỗ được cắm đoạn ống nhựa màu hồng và màu vàng); 04 bật lửa ga bằng nhựa đã qua sử dụng (03 chiếc màu đỏ và 01 chiếc màu xanh); 01 quận giấy bạc dài khoảng 30cm, lõi hình tròn.; 01 vỏ túi nilon màu trắng miệng túi có khoá kẹp, viền màu đỏ kích thước khoảng 5cm x8cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp, viền màu đỏ; 01 hộp giấy cattong có chữ EURO CAKE; 01 ống thủy tinh, một đầu được uốn cong, phần uốn cong có hình phễu tròn; 07 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp, viền màu đỏ (sau giám định và xử lý đồ vật, tài liệu): Xét có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 hộp giấy cattong màu xanh có chữ FUN&BEATY; 4,5g chất bột nén màu trắng không tìm thấy thành phần của chất ma túy: Xét không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 02 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: 01 điện thoại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, có chữ "VS MART", lắp 02 sim số thuê bao: 0858.396.269 và 0973.866.765; 01 điện thoại NOKIA màu đen, lắp sim số: 0973.406.065; 01 căn cước công dân mang tên Cao Bá H và số tiền 1.580.000 đồng tạm giữ của bị cáo Cao Bá H: Xét là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng loại OPPO, vỏ màu xám, đã qua sử dụng, lắp sim số 0976.862.311 và 01 căn cước công dân mang tên Kiều Thanh S tạm giữ của bị cáo Kiều Thanh S: Xét là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.

[9] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[10] Về án phí: Các bị cáo Cao Bá H và Kiều Thanh S phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Kiều Thanh S và Cao Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Bá H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16-4-2024.

2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Kiều Thanh S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16-4-2024.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

- 01 mảnh giấy bạc bị đốt đen được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K- Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi “Vật chứng khi tiến hành kiểm tra số nhà I thuộc tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, ngày 16/4/2024 (Sau khi giám định”. Mặt sau phong bì, các mép được dán kín có họ tên, chữ ký của Nguyễn Anh T4, Ninh Văn B và các hình dấu tròn đỏ của Phòng K- Công an tỉnh Y.

- 4,5g chất bột nén màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K- Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi “Vật chứng thu giữ trong hộp giấy màu xanh khi kiểm tra, ngày 16/4/2024 (Sau khi trích mẫu giám định”). Mặt sau phong bì, các mép được dán kín có họ tên, chữ ký của Lê Tiến D, Kiều Thanh S, Cao Bá H, Đặng Duy T2, Nguyễn Quang H3, Hà Đình B1, Nguyễn Anh T4 và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K- Công an tỉnh Y.

- 01 chai nhựa màu trắng, cao khoảng 20cm; chai có nắp bằng nhựa màu trắng, đục 02 lỗ hình tròn (một lỗ cắm đoạn ống nhựa màu trắng, đầu ống quận giấy bạc; một lỗ được cắm đoạn ống nhựa màu hồng và màu vàng); 04 bật lửa ga bằng nhựa đã qua sử dụng (03 chiếc màu đỏ và 01 chiếc màu xanh); 01 quận giấy bạc dài khoảng 30cm, lõi hình tròn.; 01 vỏ túi nilon màu trắng miệng túi có khoá kẹp, viền màu đỏ kích thước khoảng 5cm x8cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp, viền màu đỏ; 01 hộp giấy cattong có chữ EURO CAKE; 01 ống thủy tinh, một đầu được uốn cong, phần uốn cong có hình phễu tròn; 07 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon màu trắng, miệng túi có khóa kẹp, viền màu đỏ (sau giám định và xử lý đồ vật, tài liệu); 01 hộp giấy cattong màu xanh có chữ FUN&BEATY.

3.2. Trả lại cho:

- Bị cáo Cao Bá H 02 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: 01 điện thoại màn hình cảm ứng, vỏ màu đen, có chữ "VS MART", có số IMEI: 3567.4410.3564.962 lắp 02 sim số thuê bao: 0858.396.269 và 0973.866.765; 01 điện thoại NOKIA màu đen, có số IMEI1: 3569.7409.3567.316, lắp sim số: 0973.406.065; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Cao Bá H và số tiền 1.580.000 đồng.

- Bị cáo Kiều Thanh S 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng loại OPPO, vỏ màu xám, đã qua sử dụng, có số IMEI1: 8661.6706.1304.333, lắp sim số 0976.862.311 và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Kiều Thanh S.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-6-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Kiều Thanh S, Cao Bá H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo Cao Bá H, Kiều Thanh S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP Yên Bái;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Công an TP Yên Bái;
  • - Bộ phận HSNV Công an TP Yên Bái;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL, NVLQ;
  • - Lưu HS vụ án, TA, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: . Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Kiều Thanh S và Cao Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: 2.1. Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Bá H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16-4-2024. 2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Kiều Thanh S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16-4-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger