|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 13/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh T; Sinh ngày: 25/10/1980; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú: 312B đường BS, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn B và bà: Nguyễn Thị B1; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ ngày 10/4/2024 đến ngày 13/4/2024 được thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Quách Lý H (Mỹ); Sinh năm: 1975; Thường trú: 35 đường CVL, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 191/24 đường BS, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 10 phút ngày 10/4/2024, tổ công tác thuộc Đội cảnh sát hình sự Công an Quận 6 kết hợp với Công an Phường 4, Quận 6 kiểm tra hành chính nhà của Huỳnh Thanh T tại số 312B đường BS, Phường D, Quận F. Qua kiểm tra đã phát hiện bắt quả tang T đang ghi số đề cho Quách Lý H với tổng số tiền là 446.000 đồng (H bao lô số 15 số tiền 10.000 đồng, đảo xỉu chủ số 115 số tiền 5.000 đồng, xỉu chủ các số 738 số tiền 5.000 đồng, 739 số tiền 5.000 đồng, đá xiên số 37-38-39 số tiền 1.000 đồng của hai Đài xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai và Thành phố Cần Thơ), đồng thời tổ công tác đã thu giữ tại chỗ của T 19 tờ lai đề (bản in giấy than) ngày 10/4/2024, 01 máy tính Casio màu xám, 01 tờ giấy than màu xanh, 01 cây bút bi màu xanh trắng và số tiền 5.750.000 đồng. Thu giữ của Quách Lý H 01 tờ lai đề (bản chính) ghi ngày 10/4/2024.
Vụ việc sau đó được chuyển giao Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.
Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Thanh T khai: T bắt đầu ghi số đề từ đầu năm 2020 và trực tiếp thắng thua với các con bạc. Hàng ngày, bắt đầu từ 12 giờ tại nhà số 312B đường BS, Phường D, Quận F, T ghi số đề cho người mua theo Đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam. Về cách thức ghi số đề được T thực hiện như sau: T ghi số đề vào tờ lai chính và dùng giấy than in ra thêm tờ lai phụ rồi đưa tờ lai đề chính cho người mua, còn tờ lai đề phụ T giữ lại để đối chiếu sau khi có kết quả xổ số. Khi ghi số đề, T trừ lại 20% tiền hoa hồng cho người mua.
Việc thắng thua với người mua số đề được T quy định: Nếu người mua đánh 1.000 đồng 02 con số trúng, T chung 74.000 đồng; đánh 1.000 đồng 03 con số trúng, T chung 640.000 đồng; đánh 1.000 đồng 04 con số trúng, T chung 5.400.000 đồng. Ngày 10/4/2024, T đã ghi số đề cho người mua (trong đó có Quách Lý H) theo hai Đài xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai và Thành phố Cần Thơ với tổng số tiền trên 19 tờ lai đề là 8.056.000 đồng.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 quyết định trưng cầu giám định chữ viết trên: 19 tờ lai ghi số đề ngày 10/4, có chữ ký ghi tên Huỳnh Thanh T (ký hiệu từ A1 đến A19); 01 tờ lai ghi số đề ngày 10/4, có chữ ký ghi tên Quách Lý H (ký hiệu A20) với chữ viết, số trên 19 Bảng giải thích số đề và số tiền, có chữ ký đứng tên Huỳnh Thanh T, đề ngày 16/4/2024 (ký hiệu từ M1 đến M19); 03 Bản tự khai/ Bản tường trình đứng tên Huỳnh Thanh T đề các ngày 11/4/2024 (ký hiệu M20), 13/4/2024 (ký hiệu M21), 15/4/2024 (ký hiệu M22) có phải do cùng một người viết ra hay không ?.
Và tại Kết luận giám định số: 5035/KL-KTHS ngày 25 tháng 4 năm 2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Chữ viết, số trên 20 tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A20 so với chữ viết, số của Huỳnh Thanh T trên 22 tài liệu dùng làm mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M22 do cùng một người viết ra.
Ngày 13 tháng 4 năm 2024, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 45/QĐ-ĐCSHS); khởi tố bị can đối với Huỳnh Thanh T về tội «Đánh bạc» (Quyết định số: 58/QĐ-ĐCSHS). Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án hình sự «Đánh bạc» (Quyết định số: 863/QĐ-ĐCSHS).
Đối với hành vi đánh bạc của Quách Lý H, Cơ quan điều tra xác định chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và ngày 07/5/2024, Công an Phường 4, Quận 6 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H 350.000 đồng về hành vi này (Quyết định số: 287/QĐ-XPHC).
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS-Q6 ngày 03 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh T về tội «Đánh bạc» theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Bị cáo Huỳnh Thanh T khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành vi ghi số đề tại nhà số 312B đường BS, Phường D, Quận F và bị bắt quả tang như nội dung Quyết định truy tố nêu. Ngoài ra, bị cáo khai ngày 10/4/2024, bị cáo đã ghi số đề cho người mua (trong đó có Quách Lý H) theo Đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam (gồm Đài xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai và Đài xổ số kiến thiết Thành phố Cần Thơ) với tổng số tiền trên 19 tờ lai đề là 8.056.000 đồng. Riêng số tiền 5.750.000 đồng bị thu giữ, là tiền bị cáo thu được từ việc ghi số đề ngày 10/4/2024 (sau khi trừ 20% tiền hoa hồng cho người mua).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Thanh T như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/QĐ-VKS-Q6 ngày 03 tháng 5 năm 2024 và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị:
Phạt bị cáo Huỳnh Thanh T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng về tội «Đánh bạc» theo khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt tiền bị cáo Huỳnh Thanh T từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.750.000 đồng.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 máy tính Casio MS-80F màu xám; 01 cây viết bi màu xanh trắng; 01 tờ giấy than màu xanh.
Trả lại bị cáo Huỳnh Thanh T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1030 màu xanh, số Code: 059X9Z2, số Imei 1: 358573082872213, số Imei 2: 358573086442211 (bên trong có 01 sim điện thoại số sim 8401200250856066).
Riêng 20 tờ lai ghi số đề ngày 10/4/2024 (19 tờ lai đề được in bằng giấy than, 01 tờ lai đề bản chính); 19 Bảng giải thích số đề và số tiền, có chữ ký đứng tên Huỳnh Thanh T, đề ngày 16/4/2024 (bút lục từ số 76 đến số 114), là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, bị cáo Huỳnh Thanh T nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Tòa án xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Huỳnh Thanh T với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận giám định số: 5035/KL-KTHS ngày 25/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Quách Lý H và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Tòa án có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Thanh T đã phạm tội «Đánh bạc». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).
Bị cáo Huỳnh Thanh T đã đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số đề được thua bằng tiền theo Đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Nam và thời điểm bắt quả tang (vào lúc 15 giờ 10 phút ngày 10/4/2024 tại nhà số 312B đường BS, Phường D, Quận F) đã thu giữ của bị cáo 19 tờ lai đề ngày 10/4/2024 của hai Đài xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai và Thành phố Cần Thơ với tổng số tiền là 8.056.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ của bị cáo 5.750.000 đồng, là tiền bị cáo thu được từ việc ghi số đề ngày 10/4/2024 (sau khi trừ 20% tiền hoa hồng cho người mua). Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Đánh bạc» thuộc trường hợp «đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Huỳnh Thanh T là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, nhưng do hám lợi, thấy việc ghi số đề dễ dàng kiếm tiền, mặc cho những người đến ghi số đề thắng hay thua, bị cáo đều thu lợi, nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, việc bị cáo bị phát hiện bắt quả tang là ngoài ý muốn của bị cáo.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Thanh T, Tòa án thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về xâm phạm trật tự công cộng. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Và xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; ngoài lần phạm tội này bị cáo không có vi phạm pháp luật nào khác; hiện có việc làm ổn định, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Trong thời gian sinh sống tại địa phương, bị cáo đã không gây nguy hại, tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. Và qua xem xét đánh giá, Tòa án nhận thấy bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo mình để trở thành người công dân tốt, nên thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo với một thời gian thử thách nhất định theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian sửa chữa những sai lầm đã phạm phải.
[4] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung:
[5.1] Ngoài hình phạt tù, Tòa án thấy cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Huỳnh Thanh T theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[5.2] Đối với số tiền mà bị cáo Huỳnh Thanh T khai thu lợi từ hành vi ghi số đề. Do không xác định được chính xác số tiền thu lợi này và ngoài lời khai của bị cáo cũng không còn chứng cứ nào khác, nên Tòa án không đủ căn cứ để buộc bị cáo nộp lại.
[6] Việc xử lý vật chứng:
[6.1] Đối với 5.750.000 đồng, là tiền bị cáo có được từ việc ghi số đề ngày 10/4/2024, Hội đồng xét xử tịch thu sung, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6.2] Đối với các dụng cụ dùng vào việc phạm tội là 01 máy tính Casio MS-80F màu xám; 01 cây viết bi màu xanh trắng; 01 tờ giấy than màu xanh, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Tòa án tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6.3] Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1030 màu xanh, số Code: 059X9Z2, số Imei 1: 358573082872213, số Imei 2: 358573086442211 (bên trong có 01 sim điện thoại số sim 840120025085) thu giữ của bị cáo Huỳnh Thanh T. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả lại cho bị cáo vì không đủ căn cứ xác định bị cáo đã hoặc sẽ dùng vào việc phạm tội. Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
(theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 23/PNK ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 49/QĐ-VKS-Q6 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6; Giấy nộp tiền ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn - Chi nhánh Bắc Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
[6.4] Đối với 20 tờ lai ghi số đề ngày 10/4/2024 (19 tờ lai đề được in bằng giấy than, 01 tờ lai đề bản chính); 19 Bảng giải thích số đề và số tiền, có chữ ký đứng tên Huỳnh Thanh T, đề ngày 16/4/2024 (bút lục từ số 76 đến số 114), là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Tòa án không đề cập xử lý.
[7] Đối với Bà Quách Lý H, Viện kiểm sát cho rằng ngày 10/4/2024, bà H có đến gặp bị cáo Huỳnh Thanh T ghi số đề, nhưng số tiền dùng để đánh bạc không lớn (dưới 5.000.000 đồng), mới vi phạm lần đầu, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự và ngày 07/5/2024, Công an Phường 4, Quận 6 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H 350.000 đồng về hành vi này, do đó Tòa án không xem xét xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án về tội «Đánh bạc».
Giao bị cáo Huỳnh Thanh T cho Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Huỳnh Thanh T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục đối với bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Huỳnh Thanh T nộp phạt 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 5.750.000 (năm triệu bảy trăm năm mươi ngàn) đồng.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) máy tính Casio MS-80F màu xám; 01 (một) cây viết bi màu xanh trắng; 01 (một) tờ giấy than màu xanh.
- Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại bị cáo Huỳnh Thanh T 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA-1030 màu xanh, số Code: 059X9Z2, số Imei 1: 358573082872213, số Imei 2: 358573086442211, bên trong có 01 (một) sim điện thoại số sim 8401200250856066.
(theo Giấy nộp tiền ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn - Chi nhánh Bắc Thành phố Hồ Chí Minh; Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Huỳnh Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo Huỳnh Thanh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo Huỳnh Thanh T.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thùy Liên |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án về tội «Đánh bạc». Giao bị cáo Huỳnh Thanh T cho Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Huỳnh Thanh T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục đối với bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. - Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Buộc bị cáo Huỳnh Thanh T nộp phạt 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
