|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày: 11/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hài
- Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Thành
2. Bà Trần Vĩnh Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân - kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Quốc A, Giới tính: Nam; Sinh năm 2000 tại Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin lành; Nghề nghiệp: nhân viên ngân hàng; Họ tên cha: Nguyễn Hoàng L, họ tên mẹ: Trần Thị Út . Vợ: Hoàng Kim Anh T; Có 01 người con sinh năm 2023.
Nơi cư trú: khu vực T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Tiền án, tiền sự: không
2/ Lê Hoàng S, Giới tính: Nam; sinh năm 1999 tại Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: mua bán; Họ tên cha: Lê Văn T1, họ tên mẹ: Nguyễn Thị Đ. Vợ: Nguyễn Thị D; có 01 người con sinh năm 2022.
Nơi cư trú: C đường C, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
Tiền án: 01 lần. Ngày 29/12/2020 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 06 tháng từ về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành án xong hình phạt tù ngày 10/9/2021 và đóng xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/02/2021.
Tiền sự: 01 lần. Ngày 21/4/2023 bị Công an phường B, quận B, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã đóng phạt xong ngày 29/6/2023.
Các bị cáo tại ngoại, bị cấm khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
2
* Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1965. Có mặt
Nơi cư trú: C đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Công ty T4 (gọi tắt là Công ty T4).
Địa chỉ: Tầng G, 8 và 10 Tòa nhà P, số B N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện ủy quyền: Ông Trần Công Đ1, theo giấy ủy quyền số 83/2024/GUQ-SE ngày 28/5/2024. Có đơn xin vắng mặt.
2/ Ông Phan Trường A1, sinh năm 1995. Có đơn xin vắng mặt.
Nơi cư trú: 3 M, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 22/7/2023, bị cáo Nguyễn Quốc A và Lê Hoàng S đến uống cà phê tại quán K trên đường Đ, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ, do S cư trú gần nhà của bà Nguyễn Thị Thanh T2 nên biết được bà T2 đang có nhu cầu vay khoảng 100.000.000 đồng, S biết được thông tin cá nhân của bà T2 do trước đây S và Quốc A cũng có đến nhà bà T2 để hỗ trợ bà T2 vay tiền nhưng do lãi suất cao nên bà T2 không vay.
Từ thông tin đã có, bị cáo S đưa cho bị cáo Quốc A để Quốc A kiểm tra khả năng bà T2 sẽ vay được bao nhiêu tiền. Sau đó, Quốc A nhờ Phan Trường A1 (là nhân viên Công ty T5) kiểm tra thông tin thì Quốc A và S biết được bà T2 chỉ có thể vay được 30.000.000 đồng; lúc này Quốc A và S thống nhất với nhau sẽ giấu bà T2 về toàn bộ thông tin của khoản vay và lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bà T2 để cùng nhau lừa đảo chiếm đoạt toàn bộ số tiền vay của bà T2, sau đó S cho số điện thoại của bà T2 để Quốc A liên hệ gặp bà T2 để tư vấn hỗ trợ bà T2 vay vốn Ngân hàng, khi liên hệ với bà T2 thì bà T2 đồng ý hẹn gặp Quốc A tại nhà của bà T2.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày 22/7/2023, Quốc A chở S đến nhà bà T2 tại địa chỉ C, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Khi gặp bà T2 thì Quốc A nói dối với bà T2 mình là nhân viên của Ngân hàng M hỗ trợ làm thủ tục vay tiền, còn S đến nhà bà T2 chỉ để tạo thêm lòng tin của bà T2 đối với Quốc A, việc tư vấn hỗ trợ vay tiền do Quốc A thực hiện, khi nói chuyện với Quốc A thì bà T2 cho biết là cần vay 150.000.000 đồng với lãi suất hợp lý thì bà T2 sẽ vay, lúc này Quốc A liền đưa ra thông tin gian dối để tạo lòng tin của bà T2 là có gói vay ưu đãi với lãi suất 11%/năm, trả góp hàng tháng trong thời gian 05 năm và Quốc A sẽ hỗ trợ cho bà T2 vay được số tiền 150.000.000 đồng. Khi bà T2 hoàn toàn tin tưởng và đồng ý vay thì Quốc A yêu cầu bà T2 cho Quốc A mượn căn cước công dân của bà T2, mượn điện thoại thông minh của bà T2 để tiến hành hỗ trợ làm thủ tục vay tiền cho bà T2. Quốc A tiến hành thao tác trên điện thoại di động của Quốc A và sử dụng thông tin cá nhân, hình ảnh cá nhân của bà T2 để tạo tài khoản số [...] tại Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Thanh T2 nhưng Quốc A lại sử dụng số điện thoại của Quốc A là 0339.998.xxx để đăng ký, chiếm quyền sử dụng dịch vụ Internet banking của tài khoản này. Khi tạo xong tài khoản, Quốc A liên
3
hệ với Phan Trường A1 đến để hỗ trợ Quốc A làm thủ tục mở hợp đồng vay tiền của Công ty T4 do Quốc A không biết cách thức mở hợp đồng với Home C. Khi A1 đến nhà bà T2 thì S đã về trước, Quốc A nhờ A1 giúp Quốc A tạo hợp đồng giữa bà T2 với Công ty T4 để vay số tiền 30.000.000 đồng, A1 sử dụng điện thoại di động của bà T2, thông tin của bà T2 và số tài khoản tại Ngân hàng V nêu trên để tạo hợp đồng số 4302730887 giữa bà T2 với Công ty T4, khi hợp đồng được duyệt xong thì A1 ra về. Sau đó, Quốc A cho bà T2 biết là hồ sơ vay tiền đã được duyệt rồi Quốc A gửi tin nhắn hình ảnh chụp kết quả thông tin về khoản vay đã được duyệt qua Zalo của bà T2, Quốc A tiếp tục lừa dối là hẹn bà T2 09 giờ ngày 23/7/2023 đi đến Ngân hàng M để nhận tiền. Sau khi rời khỏi nhà bà T2 thì Quốc A liên hệ với A1 và sử dụng 4.000.000 đồng tiền cá nhân để bồi dưỡng cho A1 do đã hỗ trợ Quốc A mở hợp đồng vay nêu trên. Khi Công ty T4 giải ngân 30.000.000 đồng vào số tài khoản 042223959 tại Ngân hàng V mang tên bà T2 thì Quốc A đã sử dụng dịch vụ Internet Banking chuyển hết số tiền trong tài khoản này đến 02 số tài khoản khác để chiếm đoạt gồm: tài khoản tên Nguyễn Văn D1, số tài khoản 005704060218371 tại Ngân hàng V, số giao dịch 4740711210 với số tiền là 17.000.000 đồng để đưa cho S và tài khoản tên Nguyễn Thị Ngọc G, số tài khoản 0521000699982 tại Ngân hàng V1, số giao dịch 4740723532 với số tiền là 13.000.000 đồng, tiếp đó G chuyển khoản đến số tài khoản 4636373839 tại Ngân hàng M1 của Nguyễn Thị Kiều O rồi O đã chuyển hết 13.000.000 đồng này vào số tài khoản 0391000321223 tại Ngân hàng V1 của Quốc A. Sau khi chiếm đoạt được tiền, Quốc A đã chặn hết mọi liên lạc với bà T2. Sau đó, bà T2 phát hiện đã bị Quốc A lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên đến cơ quan Công an trình báo.
Quá trình điều tra, Nguyễn Quốc A và Lê Hoàng S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác.
Về thu giữ, tạm giữ vật chứng:
- - 01 điện thoại di động Iphone 15 ProMax, Imel: 355975768991535, gắn sim số 0339998839 (đã qua sử dụng).
- - 01 điện thoại di động Iphone Xr, I: 357354096341516, màu xanh, gắn sim số 0394132948, điện thoại bị nứt mặt sau (đã qua sử dụng).
- - 02 đĩa DVD lưu trữ nội dung làm việc ghi hình có âm thanh đối với Nguyễn Quốc A và Lê Hoàng S vào ngày 27/02/2024 (kèm theo hồ sơ vụ án).
Đối với Phan Trường A1 khi giúp Nguyễn Quốc A tra cứu thông tin và tạo hợp đồng số 4302730887 giữa bà Nguyễn Thị Thanh T2 với Công ty T4 rồi được Quốc A sử dụng tiền cá nhân bồi dưỡng 4.000.000 đồng do không biết Quốc A và Lê Hoàng S lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà T2 nên không đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Đối với ông Nguyễn Văn D1, bà Nguyễn Thị Kiều O do không biết tiền nhận chuyển khoản là do lừa đảo chiếm đoạt mà có và không có hưởng lợi gì nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Riêng bà Nguyễn Thị Ngọc G tuy chưa tiến hành làm việc được do không có mặt tại địa phương nhưng khi nhận tiền chuyển khoản thì không có hưởng lợi gì nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
4
- - Bị hại Nguyễn Thị Thanh T2 yêu cầu Nguyễn Quốc A và Lê Hoàng S phải có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc và lãi phát sinh đối với Hợp đồng tín dụng số 4302730887 ngày 22/7/2023 giữa bà Nguyễn Thị Thanh T2 với Công ty T4. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
- - Ông Đoàn Vĩnh T3 là đại diện Công ty T4 yêu cầu những người đã mở Hợp đồng tín dụng số 4302730887 ngày 22/7/2023 giữa bà Nguyễn Thị Thanh T2 với Công ty T4 phải thanh toán cho Công ty tổng cộng tiền gốc và lãi phát sinh đến thời điểm dừng hợp đồng ngày 20/02/2024 là 44.291.255 đồng. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKSBT ngày 04/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc A và Lê Hoàng S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy luận tội và tranh luận:
Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quốc A và Lê Hoàng S phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt Nguyễn Quốc A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, tài sản: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Iphone 15 ProMax, Imel: 355975768991535; 01 điện thoại di động Iphone Xr đều đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy hai sim số 0339998839, 0394132948 đều đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt, bị cáo Quốc A đã thay bị hại trả đầy đủ Công ty T4. Bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Phía Công ty T4 cũng không yêu cầu gì. Nên không đặt ra trách nhiệm đối với bị cáo.
Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Quốc A và bị cáo S về việc chia đôi số tiền khắc phục trả thay cho bị hại số tiền 44.291.255 đồng. Nay bị cáo Quốc A chịu số tiền 22.291.255 đồng, bị cáo S chịu số tiền 22.000.000 đồng. Do bị cáo Quốc A đã nộp toàn bộ số tiền trên nên bị cáo S hoàn lại cho bị cáo Quốc A số tiền 22.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Buộc Phan Trường A1 nộp lại số tiền 4.000.000 đồng thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc A số tiền 20.000.000 đồng.
Các bị cáo thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
* Người bị hại trình bày: Yêu cầu xét xử đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật. Đối với khoản nợ bà T2 đã ký vay với Công ty T4 nay bị cáo Quốc
5
A đã trả nợ xong và phía Công ty T4 cũng đã xác nhận khoản vay được tất nợ và không yêu cầu gì. Do đó bà T2 cũng không yêu cầu gì đối với các bị cáo. Chỉ yêu cầu xóa nợ xấu bên Ngân hàng.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với bị cáo S đề nghị giảm nhẹ hình phạt sớm về với gia đình lo cho vợ con. Các bị cáo không trình bày gì thêm.
NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Hội đồng xét xử xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các vật chứng vụ án, phù hợp với lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/7/2023 bị cáo Quốc A cùng bị cáo S đến nhà bà T2 để hỗ trợ làm thủ tục vay tiền. Sau gợi ý của bị cáo S, các bị cáo dùng thủ đoạn gian dối làm cho bị hại tin tưởng và đồng ý vay. Bị cáo Quốc A yêu cầu bị hại đưa giấy tờ tùy thân để bị cáo Quốc A tiến hành thao tác trên điện thoại di động của Quốc A và sử dụng thông tin cá nhân, hình ảnh cá nhân của bị hại để tạo tài khoản cũng như giao dịch thành công khỏan vay tín chấp với số tiền 30.000.000 đồng.
Vì vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trong cáo trạng là hoàn toàn có cơ sở.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hôi, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội và nếu không sớm bị phát hiện, ngăn chặn thì sẽ còn nhiều cá nhân khác thiếu hiểu biết bị các bị cáo giới thiệu hoặc lợi dụng lòng tin tham gia vào việc vay tiền tín chấp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Đối với bị cáo Nguyễn Quốc A, trong vụ án này là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, mọi thao tác, giao dịch đều do bị cáo Quốc A làm, nên cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra.
Đối với bị cáo S trong vụ án này với vai trò đồng phạm và cũng là người khởi xướng cho hành vi phạm tội, dù không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo S đã gợi ý và đề nghị bị cáo Quốc A dùng thủ đoạn lừa dối bị hại. Nhân thân bị cáo S có nhiều tiền án, tiền sự. Hiện bị cáo S còn 01 tiền án chưa
6
được xóa án tích. Nên cần phải có mức án nghiêm khắc hơn dành cho bị cáo S, nhằm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Nguyễn Quốc A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo Nguyễn Quốc A có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có hoàn cảnh và nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, biết tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình nên đã tích cực trong việc bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đây cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
Đối với bị cáo Lê Hoàng S có tiền án chưa được xóa, nhân thân bị cáo không tốt. Bị cáo S chưa khắc phục hậu quả trong vụ án này. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo cũng có ý kiến được khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đây cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
[4] Đối với Phan Trường A1 khi giúp Nguyễn Quốc A tra cứu thông tin và tạo hợp đồng số 4302730887 giữa bà Nguyễn Thị Thanh T2 với Công ty T4 rồi được Quốc A sử dụng tiền cá nhân bồi dưỡng 4.000.000 đồng do không biết Quốc A và Lê Hoàng S lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà T2 nên không đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên cần buộc Phan Trường A1 nộp lại số tiền 4.000.000 đồng thu lợi bất chính để sung công.
[4] Đối với ông Nguyễn Văn D1, bà Nguyễn Thị Kiều O do không biết tiền nhận chuyển khoản là do lừa đảo chiếm đoạt mà có và không có hưởng lợi gì nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Riêng bà Nguyễn Thị Ngọc G tuy chưa tiến hành làm việc được do không có mặt tại địa phương nhưng khi nhận tiền chuyển khoản thì không có hưởng lợi gì nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được khắc phục. Bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Phía Công ty T4 cũng xác nhận bị hại đã tất nợ và không yêu cầu gì. Nên không đặt ra giải trách nhiệm đối với các bị cáo.
Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Quốc A, bị cáo S về việc khắc phục hậu quả với số tiền 44.291.255 đồng. Bị cáo Quốc A chịu 22.291.255 đồng, bị cáo S chịu 22.000.000 đồng. Bị cáo Quốc A đã nộp trả cho Công ty T4 số tiền 44.291.255 đồng, nên bị cáo S có trách nhiệm hoàn lại cho bị cáo Quốc A khi Bản án có hiệu lực.
7
[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc A và bị cáo Lê Hoàng S phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc A 01 (một) năm tù nhưng hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/7/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 174; Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: : Bị cáo Lê Hoàng S 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày chấp hành án.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim số 0339998839 và 01 (một) sim số 0394132948 đều đã qua sử dụng.
Tịch thu sung công:
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 15 ProMax, Imel: 355975768991535 (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone Xr, Imel: 357354096341516, màu xanh, điện thoại bị nứt mặt sau (đã qua sử dụng).
Buộc Phan Trường A1 nộp số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) thu lợi bất chính để sung công quỹ Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc A số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (bút lục 378).
4. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã trả xong. Bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Phía Công ty T4 cũng xác nhận bị hại đã tất nợ và không yêu cầu gì. Nên không đặt ra trách nhiệm đối với các bị cáo.
Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Quốc A và bị cáo Lê Hoàng S về việc khắc phục hậu quả với số tiền 44.291.255 đồng (bốn mươi bốn triệu hai trăm chín mươi một nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng). Bị cáo Quốc A chịu 22.291.255 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm chín mươi một nghìn hai trăm năm mươi lăm đồng), bị cáo S chịu 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng). Bị cáo S có trách nhiệm hoàn lại cho bị cáo Quốc A số tiền 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hài |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
