Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-PT

Ngày 25 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tân

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tấn

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa:

Ông Quan Tuấn Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLPT-HS, ngày 03/5/2024 đối với bị cáo Nguyễn Quốc H, do bị cáo có kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quốc H, sinh ngày 06/01/2000 tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp A, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982 và ông Nguyễn Ngọc P (cha dượng); tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/3/2023 đến nay. (Có mặt)

Bị hại không kháng cáo: Công ty Cổ phần D. Trụ sở: Số D, X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H1, sinh năm 1988 – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1999 – Chức vụ: Quản lý khu vực. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H, tỉnh Bạc Liêu (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D (sau đây gọi là Công ty) được thành lập ngày 02/8/2012, hoạt động tại nhiều tỉnh thành trong đó có tỉnh Bạc Liêu. Chi nhánh tại tỉnh Bạc Liêu có mở nhiều địa điểm kinh doanh, trong đó có địa điểm kinh doanh số 05, địa chỉ số A, Quốc lộ A, ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Ngày 01/5/2021, Nguyễn Quốc H được bổ nhiệm làm nhân viên xử lý tại địa điểm kinh doanh G - Bạc Liêu, địa điểm làm việc tại Bưu cục Khúc Tréo với nhiệm vụ: Tiếp nhận đơn hàng công ty giao về Bưu cục K, quét mã các đơn hàng lên hệ thống của công ty; phân hàng hoá cho nhân viên phát triển thị trường đi giao theo tuyến cho khách hàng; hàng giao không thành công nhập lại kho; nhận tiền từ nhân viên phát triển thị trường (tiền COD) để đoái soát tiền thu được và chậm nhất 14 giờ ngày hôm sau phải nộp tiền về công ty theo sơ đồ cơ cấu tổ chức vùng và quy trình thực hiện nộp và đối soát tiền phải thu áp dụng ngày 25/12/2020.

Nguyễn Quốc H đã lợi dụng nhiệm vụ được giao đã chiếm đoạt tiền của công ty mà H có trách nhiệm quản lý thông qua việc H nhận tiền từ nhân viên phát triển thị trường và H trực tiếp giao hàng cho khách để thu tiền nhưng H không nộp về công ty mà chiếm đoạt với tổng số tiền 459.943.216 đồng sử dụng mục chi xài cá nhân, cụ thể: Chiếm đoạt bằng hình thức thu tiền từ nhân viên phát triển thị trường 268.191.314 đồng, trong đó: Ngày 21/01/2022 thu 11 phiếu thu với số tiền 93.569.376 đồng và ngày 22/01/2022, thu 20 phiếu thu với số tiền 174.621.938 đồng; chiếm đoạt bằng hình thức bị cáo trực tiếp giao 220 đơn hàng cho khách để nhận tổng số tiền 191.751.902 đồng.

Ngoài ra, kết quả điều tra còn xác định được trong quá trình H chiếm dụng tiền của Công ty sử dụng cá nhân thì H có nói với Nguyễn Hiếu Đ biết về việc H chiếm dụng tiền công ty không có khả năng khắc phục nên Đ yêu cầu H chuyển một ít tiền H chiếm đoạt của công ty cho Đ cất giữ để không bị công ty thu hồi, nên ngày 22/01/2022 H đã chuyển khoản cho Nguyễn Hiếu Đ 51.000.000 đồng qua số tài khoản 1013779852, Ngân hàng thương mại Cổ phần N mang tên Nguyễn Hiếu Đ.

Sau khi việc xảy ra, công ty kiểm tra hàng hoá tại Bưu cục do H quản lý phát hiện 159 đơn hàng thất lạc không rõ nguyên nhân với số hàng hoá trị giá 70.551.828 đồng. Đối với hành vi làm thất lạc hàng hoá của Nguyễn Quốc H do số tiền chưa đủ định lượng cấu thành tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” theo Điều 179 Bộ luật Hình sự, đồng thời công ty không yêu cầu bồi thường nên không đề cặp xử lý.

Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường khắc phục cho bị hại số tiền 42.635.770 đồng.

3

Tại Bản hình sự sơ thẩm án số 07/2024/HS-ST, ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “tham ô tài sản”.

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 417.307.446 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27/3/2024, bị cáo Nguyễn Quốc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Quốc H giữ nguyên kháng cáo, thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự, nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm có một số vi phạm cần được làm rõ như:

- Chưa điều tra làm rõ số tiền bị cáo chiếm đoạt ngày 21 và 22/01/2022, theo danh sách thể hiện thu ngày 22/01/2022 là 26 phiếu thu, nhưng Cáo trạng truy tố và xét xử 20 phiếu. Còn 06 đơn hàng ngày 23/01/2022 có nộp về công ty không, chưa được làm rõ. Trong số đơn hàng bị cáo tự giao và thu tiền của khách hàng là 223 phiếu, không phải 220 phiếu và chưa chứng minh thời gian bị cáo chiếm đoạt số tiền trên.

Đối với số tiền 51.000.000 đồng bị cáo chuyển cho Nguyễn Hiếu Đ là hành vi che giấu số tiền phạm tội, Đang không có hành vi đồng phạm tội tham ô, vì lúc này tội phạm đã xảy ra rồi, nên hành vi bị cáo H có dấu hiệu phạm tội “Rửa tiền”. Đồng thời cấp sơ thẩm không đưa Nguyễn Hiếu Đ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết phần liên đới trách nhiệm dân sự là thiếu sót.

- Bản án sơ thẩm áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự để buộc bị cáo bồi thường bị hại là không đúng.

Từ những vấn đề trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bản án sơ

4

thẩm, giao hồ sơ về cho Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai điều tra, xét xử lại theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại ông Lê Thanh T1 không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo theo quy định pháp luật và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 417.307.466 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên toà và đề nghị của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Quốc H thừa nhận, ngày 01/5/2021 bị cáo được bổ nhiệm làm nhân viên xử lý tại địa điểm kinh doanh Giá Rai – Bạc Liêu, làm việc tại Bưu cục K thuộc Công ty Cổ phần D. Vì động cơ vụ lợi nên bị cáo H đã lợi dụng nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt tiền của công ty mà bị cáo có trách nhiệm quản lý thông qua việc bị cáo H thu tiền từ nhân viên phát triển thị trường giao nộp và bị cáo H trực tiếp giao hàng cho khách hàng để thu tiền nhưng H không nộp về công ty mà chiếm đoạt với tổng số tiền 459.943.216 đồng, trong đó: Chiếm đoạt bằng hình thức thu tiền từ nhân viên phát triển thị trường hai lần vào các ngày 21/01/2022 thu 11 phiếu thu với số tiền 93.569.376 đồng và ngày 22/01/2022, thu 20 phiếu thu với số tiền 174.621.938 đồng đồng; chiếm đoạt bằng hình thức bị cáo trực tiếp giao 220 đơn hàng cho khách để nhận tổng số tiền 191.751.902 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Tham ô tài sản” với tình tiết định khung quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo chiếm đoạt số tiền lớn, bị cáo bị xét xử khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cấp sơ thẩm xử bị cáo 09 năm tù là phù hợp, bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giạm nhẹ mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt: Căn cứ lời khai của Trần Chung C các ngày 25/8 và 08/9/2023, C trình bày khi phát hiện bị cáo H chiếm dụng tiền công ty, tối ngày 22/01/2022 có kêu Trần Văn H3 gặp H làm việc và H nộp số tiền 19.500.000 đồng cho H3 để nộp về công ty. Sáng ngày 23/01/2022 thì C

5

trực tiếp quản lý Bưu cục, H không còn tham gia hoạt động công ty. Khi đó C có trao đổi và thống nhất với H lấy số tiền của phiếu thu ngày 23/01/2022 để nộp tiền bù cho ngày 21/01/2022 là 93.569.376 đồng và ngày 22/01/2022 là 194.121.938 đ – 19.500.000 đồng (06 đơn hàng) bị cáo nộp cho H3, chiếm đoạt số tiền 174.521.938 đồng, cộng 02 lần bị cáo H chiếm đoạt là 268.191.314 đồng. Đối với số tiền bị cáo tự giao hàng và thu tiền của khách hàng: Theo hồ sơ thể hiện bị cáo đã thực hiện trước thời gian bị công ty phát hiện, chiếm đoạt số tiền 191.751.902 đồng. Sau khi phát hiện, công ty cho bị cáo thời hạn khắc phục nhưng bị cáo không khắc phục, đến tháng 12/2022 công ty tố giác tội phạm và yêu cầu xử lý số tiền bị cáo chiếm đoạt của công ty 459.943.216 đồng là phù hợp với với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Đối với vấn đề có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm “Rửa tiền”: Bị cáo Nguyễn Quốc H có thoả thuận chuyển tiền cho Nguyễn Hiếu Đ, sinh năm 2000, nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang số tiền 51.000.000 đồng để Đang cất giữ. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có quyết định tách vụ án hình sự để giải quyết là phù hợp.

- Đối với thông tin về nhân thân bị cáo, quá trình điều tra, truy tố và bản án sơ thẩm xác định ông Nguyễn Ngọc P là cha bị cáo là không đúng, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo xác định ông Nguyễn Ngọc P là cha dượng, nên cấp phúc thẩm bổ sung lại cho đúng nhân thân bị cáo.

- Bản án sơ thẩm áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự để buộc bị cáo bồi thường cho bị hại là không đúng, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Với nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Tham ô tài sản”.

Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 24/3/2023.

6

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc H bồi thường cho bị hại Công ty Cổ phần giao hàng nhanh số tiền 417.307.446 đồng (Bốn trăm mười bảy triệu, ba trăm lẽ bảy nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND CC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Bạc Liêu;
  • - TAND Thị xã Giá Rai;
  • - VKSND Thị xã Giá Rai;
  • - CQĐT Công an Thị xã Giá Rai;;
  • - Chi cục THADS Thị xã Giá Rai;;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu: HS, THS, THCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 46/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger