Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/10/2024

“V/v tranh chấphôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hưng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tiệm

2.Ông Lê Thiết Hùng

-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phí Lê Duyên-Thư ký Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòatham gia phiên tòa: Bà Đinh Phương Mai- Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/7/2024về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024và theo quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/QÐST - HNGĐ ngày 25/9/2024 của Hội đồng xét xử giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thanh H - sinh năm 1980;

Bị đơn: Anh Phạm Văn T - sinh năm 1974;

Đều có địa chỉ: Khu H xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

(Chị H có mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khaitrong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Phan Thị Thanh H1 bày:

Tôi và anh Phạm Văn T1 hôn ngày 30/11/2001 hoàn toàn tự nguyện và được A, huyện H, tỉnh Phú Thọ đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn tôivềlàm dâu và chung sống cùng gia đình được một thời gian ngắn thì vợ chồng ra ẳn riêngvà lao động tự do.Quá trình chung sống của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn,nguyên nhân là do anh T chơi bời, nghiện ngập ma túy, phải đi cai nghiện ma túy nhiều lần. Sau khi cai nghiện về anh T không từ bỏ được ma túy mà tiếp tục tái diễn, phát sinh trộm cắp tài sản vi phạm pháp luật dẫn đến phạm tội, ngoài ra anh T còn quan hệ bất chính với người khác về thường xuyên đánh đuổi mẹ con tôi. Đến tháng 01 năm 2024 mẹ con tôi phải ra khỏi nhà, đi thuê nhà để ở cho con cái học tập, từ đó vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ, không ai quan tâm gì đến ai nữa. Nay tôixác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ với nhau được nữa,nên tôixin được ly hôn anh T2 giải phóng cho bản thân.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 02 con chung cháu Phạm Thị Hương G, sinh ngày 08/11/2002 và cháu Phạm Thu T3, sinh ngày 09/6/2009. Hiện nay cháu G đã thành niên, ly hôn tôi không yêu cầu tòa án giải quyết, còn cháu T3 còn nhỏ hiện nay cháu đang ở với tôi tại nhà thuê và đang học lớp 10 trường THPT Nguyễn Tất thành thành phố V, tỉnh Phú Thọ, sau ly hôn tôi xin được nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi.

Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: Tôi không đề nghị tòa án giải quyết gì.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và thông báo nhiều lần anh Phạm Văn T đến trụ sở Tòa án để giải quyết việc chị H khởi kiện xin ly hôn, nhưng anh T đều vắng mặt không cólý do,mặc dù đã được Tòa án gửi giấy triệu tập và các thông báo hợp lệ quan đường bưu điện,anh T đều nhận được, ngoài ra Tòa án liên lạc qua điện thoại, anh T có nghe máy và biết nội dung làm việc của tòa án, nhưng anh T không đến để giải quyết. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương và trưởng khu dân cư đến nhà anh T để làm việc, mặc dù anh T ở trong nhà, cố tình trốn tránh, không ra làm việc, có biểu hiện chống đối vì vậy đoàn công tác không tiến hành làm việc được, nên đã tiến hành lập biên bản để làm căn cứ giải quyết tiếp vụ án.

Trong quá trình làm việc được UBND xã A, công chức tư pháp, hội phụ nữ và trưởng khu hành chính khu 8 xã Ấ, huyện H cho biết chị Phan Thị Thanh H và anh Phạm Văn T là công dân có hộ khẩu thường trú tại khu H xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ đã kết hôn với nhau năm 2001. Sau khi kết hôn anh, chị đều làm ăn sinh sống tại địa phương. Quá trình chung sống của anh chị lúc đầu hòa thuân hạnh phúc sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T chơi bời, nghiện hút ma túy, vi phạm pháp luật về hành vi trộm cắp tài sản bị xử lý hành chính và bị xét xử, không quan tâm gì đến vợ con, thường xuyên đánh đuổi mẹ con chị H, địa phương cũng đã đến giải quyết, khuyên giải nhiều lần nhưng không thành, đến tháng 01/2024 mẹ con chị H đã bỏ nhà về thành phố V thuê nhà để làm ăn sinh sống, xin cho con học tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ, do đó vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ. Từ những nguyên nhân trên chính quyền địa phương cùng các ban nghành đoàn thể đề nghị tòa án căn cứ vào điều kiện thực tế, tình trạng hôn nhân của chị H và anh T để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, đảm quyền lợi cho người phụ nữ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa có quan điểm giải quyết vụ án như sau:

* Về tố tụng: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 - BLTTDS. Bị đơn chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình tại Điều 70, 72 - BLTTDS.

* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57,58, 81, 82 và Điều 83Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147,khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2Điều 227 vàkhoản 3Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự;Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Phan Thị Thanh H được ly hôn anh Phạm Văn T.

Về con chung: Hiện nay cháu Phạm Thị Hương G, sinh ngày 08/11/2002 đã thành niên, nên đề nghị HĐXX không đặt ra giải quyết, còn cháu Phạm Thu T3, sinh ngày 09/6/2009 còn nhỏ đề nghị HĐXX giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu.

Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp: Không đặt ra giải quyết do đương sự không yêu cầu.

Về án phí: Chị Phan Thị Thanh H phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của nguyên đơn,bị đơn Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Tranh chấp giữa chị Phan Thị Thanh H và anh Phạm Văn T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Các đương sự đều có nơi cư trú tại xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập chị Phan Thị Thanh H và anh Phạm Văn T đến Tòa án để làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo thủ tục chung của pháp luật, chị H đều có mặt, cònanh T vắng mặt không có lý do mặc dù các văn bản của Tòa án anh T đã nhận được. Vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Ngày 09/9/2024Tòa án ban hànhquyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 25/9/2024, quyết định này đã được giao cho chị H, Tòa án tiến hành niêm yết quyết định theo quy định, đến ngày xét xử chị H có mặt còn anh T vắng mặt không có lý do.HĐXX Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa căn cứ vào khoản 1 Điều 227 - BLTTDS ra quyết định hoãn phiên tòa theo quy định chung của pháp luật và ấn định ngày xét xử trong Quyết định hoãn phiên tòa đồng thời tiến hành niêm yết quyết định hoãn phiên tòa theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay chị H có mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xửvắng mặt anh T để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phan Thị Thanh H và anh Phạn Văn T4 kết hôn với nhau vào ngày 30/11/2001, đây là một hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hòa thuận hạnh phúcđược một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, chị H cho rằng nguyên nhân là do anh T4 chơi bời, nghiện ma túy, phải đi cai nghiện ma túy nhiều lần. Sau khi cai nghiện về anh T4 không từ bỏ được ma túy mà tiếp tục tái diễn dẫn đến vi phạm pháp luật và đã phạm tội trộm cắp tài sản, ngoài ra anh T4 còn quan hệ bất chính với người khác, không chăm lo gì đến cuộc sống gia đình, còn thường xuyên đánh đuổi mẹ con H. Đến tháng 01 năm 2024 mẹ con chị H phải ra khỏi nhà đi thuê nhà để ở cho con cái học tập, từ đó vợ chồng sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ, không ai quan tâm gì đến ai nữa. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ với nhau được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T4 để giải phóng cho bản thân.Xét lời trình bày của chị H2 có căn cứ chấp nhận,vìchị H và anh T4 đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ, không quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án anh T5 có mặt tại tòa án để tham gia các phiên họp, phiên hòa giải để bày tỏ quan điểm của mình, mặc dù anh T4 có biết việc chị H đang xin ly hôn và đang được Tòa án huyện Hạ Hòa giải quyết, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án đã liên lạc qua số điện thoại cho anh T4, anh T4 có nghe máy nhưng không về ngoài ra tòa án đã có các văn bản gửi cho anh T4 để đến tòa giải quyết việc chị H xin ly hôn anh T4 đã nhận được đầy đủ, Tòa án cùng chính quyền địa phương đến nhà anh T4 để làm việc, nhưng anh T4 cố tình trốn tránh, không hợp tác làm việc, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần xử chochị H được ly hôn anh T6 phù hợp quy định tại khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]Về con chung:

Chị H xác định vợ chồng có 02con chung cháu Phạm Thị Hương G, sinh ngày 08/11/2002 và cháu Phạm Thu T3, sinh ngày 09/6/2009. Hiện nay cháu G đã thành niên, ly hôn chị H không yêu cầu tòa án giải quyết, nên tòa án không đặt ra giải quyết, còn cháu T3 còn nhỏ hiện nay cháu đang ở với chị H.Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T4 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh T4 đều không có mặt để bày tỏ quan điểm của mình về nuôi dưỡng con chung, do anh T4 vắng mặt, nên cần giao cháu T3 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợpquy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của T3, anh T4 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp:

Chị H không đề nghị tòa án giải quyết trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án chưa làm việc được với anh T4 về các mối quan hệ này, nên không đặt ra giải quyết trong vụ án. Sau ly hôn anh T4 có mặt, các bên có tranh chấp và có yêu cầu thì tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ, việc dân sự khác.

[5] Về án phí:

Chị Phan Thị Thanh H3 chịu toàn bộ án phí theo định của pháp luật.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147,khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2Điều 227,khoản 3Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1]. Về hôn nhân:

Xử cho chị Phan Thị Thanh H được ly hôn anh Phạm Văn T.

[2]. Về con chung:

Cháu Phạm Thị Hương G, sinh ngày 08/11/2002 đã thành niên, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Xử giao cho chị Phan Thị Thanh H được trực tiếp nuôi dưỡngcháu Phạm Thu T3, sinh ngày 09/6/2009 kể từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu thành niên, anh Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu.

Chị H và anh T đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung, công nợ và công sức đóng góp:

HĐXX Không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

[4]. Về án phí:

Chị Phan Thị Thanh H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0003041ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa. (Xác nhận chị H4 nộp đủ).

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị H có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Anh T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao, nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hạ Hòa;
  • -Đương sự;
  • -Chi cục THADS huyện Hạ Hòa;
  • -UBND xã A;
  • - Lưu HS - VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Hưng Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 25/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Phan Thị Thanh H và anh Anh Phạm Văn Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger