Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/8/2024

V/v Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du. Ông Nguyễn Văn Trình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 182/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/5/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 120/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa :

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ly L. Sinh Năm 1994. Địa chỉ: tổ F, phường H, C, tp Đà Nẵng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn. Ông Trần Thanh L. Sinh năm 1991. Địa chỉ: tổ F, phường H, C, tp Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bảng tự khai, và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Ly L1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ly L1 và ông Trần Thanh L2 tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2019 và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đến khoảng 2022 thì vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm với nhau dẫn đến việc thường xuyên cải vã, do tính tình không hợp. Ông Trần Thanh L2 đã bỏ nhà đi từ cuối năm 2022 và không rõ đi đâu, làm gì. Đến nay, mâu thuẫn giữa chúng tôi đã thực sự trầm trọng, tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được yêu cầu toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông. Bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh L2

Về con chung: bà Phạm Thị Ly L1 và ông Trần Thanh L2 có 01 con chung là cháu Trần Nhật D, sinh ngày: 04/11/2019. Ly hôn, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có

Đối với bị đơn ông Trần Thanh L2 : Mặc dù ông Trần Thanh L2 đã được Tòa án thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện về việc “ly hôn, nuôi con chung” và yêu cầu ông Trần Thanh L2 có mặt để Tòa án tiến hành hòa giải, xét xử theo quy định nhưng ông Trần Thanh L2 vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại biên bản xác minh, Tổ trưởng tổ dân phố xác định ông Trần Thanh L2 trước đây có sinh sống tại địa phương, nhưng đã bỏ nhà đi khởi địa phương từ năm 2023, hiện taị không ai biết ông L2 ở đâu, còn bà L1 vẫn sống tại tổ F, phường H, quận C, tp .

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ly L1 đối với ông rần T.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Trần Nhật D, sinh ngày: 04/11/2019 cho Phạm Thị Ly L1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Thanh L2 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn khởi kiện đối với ông Trần Thanh L2 để yêu cầu ly hôn, con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con chung”.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện, sổ hộ khẩu và biên bản xác minh của Tòa án thì tại thời điểm khởi kiện, ông Trần Thanh L2 có hộ khẩu tại địa chỉ: tổ F, phường H, quận C, tp .. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[1.3] Về việc giải quyết vắng mặt bị đơn: Bị đơn ông Trần Thanh L2 đã được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng các văn bản tố tụng của tòa án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Ngoài ra, bà L1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông L2 và bà L1.

[2] Về nội dung.

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phạm Thị Ly L1 và ông Trần Thanh L2 tự nguyện kết hôn vào năm 2019, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11 UBND xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 18/03/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: tổ F, phường H, C, tp Đà Nẵng. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ly L1 HĐXX nhận thấy:

Sau khoảng thời gian sống chung, từ khoảng năm 2022, vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp quan điểm, tính tình, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau và ông Trần Thanh L2 đã bỏ đi khỏi nhà cuối năm 2022 đến nay vẫn không liên lạc được. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng ông Trần Thanh L2 vắng mặt không rõ lý do. Theo xác minh tại địa phương thì ông Trần Thanh L2 đã đi khỏi địa phương từ năm 2023 và đến nay không rõ đi đâu, làm gì. Điều này thể hiện ông Trần Thanh L2 không có ý định tiếp tục cuộc sống hôn nhân với bà Phạm Thị Ly L1.

Theo điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024, HĐXX nhận định: mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà L1 và ông L2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và bà Phạm Thị Ly L1 xác định không còn tình cảm với ông Trần Thanh L2 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Ly L1 và ông Trần Thanh L2.

[2.2] Về con chung: ông bà có 01 con chung: Cháu Trần Nhật D, sinh ngày 04/11/2019. Hiện nay cháu D đang sống với bà L1. Do đó, để đảm bảo tình trạng ổn định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D và phù hợp với nguyện vọng của bà L1 đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Dương sau ly hôn, HĐXX chấp nhận giao cháu Trần Nhật D cho bà Phạm Thị Ly L1 trực tiếp nuôi dưỡng và ông L2 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà Phạm Thị Ly L1 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với phân tích nêu trên nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Phạm Thị Ly L1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[5] Về chi phí đăng thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng: Bà Phạm Thị Ly L1 tự nguyện chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ly L1 đối với ông Trần Thanh L2

  1. Về quan hệ hôn nhân: Phạm Thị Ly L1 được ly hôn với ông Trần Thanh L2 (GCNKH số 11/2019 của UBND xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình).
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Nhật D, sinh năm 2019 cho bà Phạm Thị Ly L1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Dương đủ 18 tuổi và ông Trần Thanh L2 không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ly L1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001612 ngày 30/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà L1 đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  2. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - UBND Xã Hải Trạch;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa

Nguyễn Hữu Hưng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Du

Nguyễn Văn Trình

Nguyễn Hữu Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Phan Thị Ly Ly - BĐ: Trần Thanh long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger