|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 12 - 12 - 2024
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng. |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Minh Tùng. |
| Ông Lê Khắc Thịnh. | |
|
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. |
|
|
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Bùi Văn Bình - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. |
|
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 27/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số nhà C, Đường D, Khóm E, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Hải T, sinh năm 1981; địa chỉ: C, tổ D, khóm E, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Người kháng cáo: Anh Hồ Hải T, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Nguyễn Thị Bích H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Hồ Hải T đăng ký kết hôn vào ngày 09/10/2009, tại Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, theo trích lục kết hôn số 173/TLKH-BS ngày 10/4/2024. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, đôi khi có tranh cãi nhưng vấn đề không lớn, vợ chồng có nhiều sở thích khác nhau, không dung hòa được nên mỗi người tự theo đuổi sở thích của mình; vợ chồng sống chung với nhau ai cũng sẽ có lỗi về một vấn đề nào đó, nhưng anh T nhớ tất cả mọi chuyện và hay lên mạng xã hội để than thở, kể lể, chị H góp ý thì anh T chặn facebook, zalo của chị H; vợ chồng không còn tình cảm khoảng 6-7 năm, hiện nay vợ chồng vẫn sống chung nhà nhưng đi đâu cũng chỉ nhắn lại cho con biết, vợ chồng còn bất đồng nhau về cách nuôi dạy con, công việc trong nhà anh T cũng không phụ giúp chị H. Do vợ chồng có nhiều bất đồng, mâu thuẫn, không thể cùng nhau đồng hành xây dựng gia đình hạnh phúc, tiếp tục sống chung sẽ làm khổ cho nhau, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của con nên chị H yêu cầu được ly hôn anh T.
Về nuôi con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Hồ Hải Đ, sinh ngày 22/5/2012 và Hồ Phúc M, sinh ngày 27/3/2018. Tại đơn khởi kiện, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hồ Phúc M, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Đối với con chung Hồ Hải Đ, chị H đồng ý giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng cho con. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại văn bản ý kiến ngày 11/6/2024, bị đơn Hồ Hải T trình bày:
Những vấn đề chị H nêu trong đơn khởi kiện là không đúng sự thật, chị H tạo ra mâu thuẫn nhằm mục đích muốn ly hôn, chị H cũng không làm tròn trách nhiệm của người vợ, người mẹ. Anh T không đồng ý ly hôn vì không muốn gia đình, các con thiếu cha mẹ, anh em thiếu nhau.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bích H.
Chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn với anh Hồ Hải T.
- Về con chung:
Giao con chung Hồ Hải Đ, sinh ngày 22/5/2012 và Hồ Phúc M, sinh ngày 27/3/2018 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009794 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp. Chị H đã nộp xong tiền án phí.
Anh Hồ Hải T không phải chịu án phí.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/9/2024 bị đơn Hồ Hải T kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án và điều chỉnh việc giao quyền nuôi con hai con cho anh Hồ Hải T và chị Nguyễn Thị Bích H. Anh T là người nuôi dưỡng con chung Hồ Hải Đ, chị H nuôi dưỡng con chung Hồ Phúc M.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Bích H không rút đơn khởi kiện.
Người kháng cáo Hồ Hải T không rút kháng cáo.
Anh Hồ Hải T và chị Nguyễn Thị Bích H đã thỏa thuận được với nhau về nuôi con chung tại phiên tòa phúc thẩm với nội dung con chung Hồ Hải Đ, sinh ngày 22/5/2012 do anh T trực tiếp nuôi dưỡng và con chung Hồ Phúc M, sinh ngày 27/3/2018 do chị H trực tiếp nuôi dưỡng (các cháu Đ và M đang do anh T, chị H chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh T, chị H không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
Thẩm phán, Hội đồng xét xư, Thư ký, đương sự và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xư. Đơn kháng cáo của anh Hồ Hải T đúng thời hạn, thủ tục theo luật định nên hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T và chị H đã thỏa thuận được với nhau về nuôi con chung, cụ thể con chung Hồ Hải Đ, sinh ngày 22/5/2012 do anh T nuôi dưỡng và con chung Hồ Phúc M, sinh ngày 27/3/2018 do chị H nuôi dưỡng, các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng cho con, đồng thời nguyện vọng của cháu Đ mong muốn được sống chung với anh T. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ vào Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm về nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Đơn kháng cáo của anh Hồ Hải T nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Hồ Hải T và chị Nguyễn Thị Bích H đã thỏa thuận được với nhau về nuôi con chung với nội dung con chung Hồ Hải Đ, sinh ngày 22/5/2012 do anh T trực tiếp nuôi dưỡng và con chung Hồ Phúc M, sinh ngày 27/3/2018 do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời tại văn bản ý kiến ngày 12/12/2024, cháu Hồ Hải Đ có nguyện vọng được sống chung với anh T. Xét thấy sự thỏa thuận của anh T và chị H là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng cho con: Chị H, anh T không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên không xem xét.
- Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về nuôi con chung do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Về án phí phúc thẩm: Anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2024/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về nuôi con chung.
- Về nuôi con chung:
Giao con chung Hồ Hải Đ, sinh ngày 22/5/2012 cho anh Hồ Hải T trực tiếp nuôi dưỡng (cháu Đ đang do anh T, chị H chăm sóc, nuôi dưỡng).
Giao con chung Hồ Phúc M, sinh ngày 27/3/2018 cho chị Nguyễn Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng (cháu M đang do anh T, chị H chăm sóc, nuôi dưỡng).
Anh T và chị H không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí phúc thẩm: Anh Hồ Hải T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0012732 ngày 17/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- - Các đương sự;
- - VKSND Tỉnh;
- - TAND thành phố Cao Lãnh;
- - CCTHADS thành phố;
- - Phòng GĐKTNV-THA;
- - Lưu: VT, HS (Hào)
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Khắc Thịnh - Phạm Minh Tùng |
Nguyễn Thị Thúy Hằng |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
