Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS-PT
Ngày: 21/6/2024
V/v: “Đòi lại tài sản; yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc xây dựng trên đất để trả đất theo hiện trạng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà
Các thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm
Ông Ngô Chịu

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đẳng, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở TAND tỉnh Phú Yên, mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 10/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 về việc “Đòi lại tài sản, yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc xây dựng trên đất để trả đất theo hiện trạng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐ-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số: 107/2024/TB-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Văn S, sinh năm 1945;
  2. Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1946;

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện T, Phú Yên.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn N, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.

Tất cả đều có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Lê Văn T, sinh năm 1963;
  2. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1966;

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, Phú Yên.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn Lê Văn T1: Luật sư Nguyễn Khả T2, Văn phòng Luật sư Nguyễn Khả T2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P.

Tất cả bị đơn có mặt. Luật sư T2 vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Huỳnh Thị T3, sinh năm 1962;
  2. Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1973;
  3. Đặng Thị B, sinh năm 1927;
  4. Lê Thị P;
  5. Lê Văn T4, sinh năm 1950;

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, Phú Yên;

  1. Lê Thị Ngọc N1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên;
  2. Lê Minh S1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên;
  3. Lê Minh C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên;
  4. Lê Thị Đ1, sinh năm 1930;
  5. Nguyễn Văn K, sinh năm 1978;

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện T, Phú Yên;

  1. Lê Văn T5, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên;
  2. Lê Thị T6, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn M, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa;
  3. Lê Thị T7, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên;
  4. Nguyễn Thị T8 (chết); Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà T8 gồm:
    • + Lê Thị Ngọc T9; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, Tp T, Phú Yên;
    • + Lê Thị Thọ N2; Địa chỉ: D L, phường B, Tp T, tỉnh Phú Yên;
    • + Lê Bá M, sinh năm 1973; Địa chỉ: D L, phường B, Tp T, Phú Yên;
    • + Lê Thị L; Địa chỉ: C N, phường X, TX S, Phú Yên;
    • + Lê Thị H1; Địa chỉ: Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên;
    • + Lê Quốc T10; Địa chỉ: 1 Đ, Phường A, Q. B, TP .;
  5. Lê Thị N3 (trú tại B, Hoa Kỳ, không xác định địa chỉ cụ thể);
  6. Trần Văn T11, Địa chỉ: E Đại lộ H, C, C, Khánh Hòa;
  7. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên;
  8. Ủy ban nhân dân huyện T.

Bà H, ông T4, ông C, ông K có mặt, những người khác vắng mặt. Riêng bà N1, ông S1, bà T7 có mặt tại phiên tòa ngày 12/6, vắng mặt tại phiên tòa ngày 21/6.

Người kháng cáo: Bị đơn Lê Văn T, Lê Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Minh S1, Lê Minh C, Lê Thị Ngọc N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Lê Văn S, Huỳnh Thị Đ trình bày:

Nguyên vợ chồng bà Huỳnh Thị T3, ông Lê Văn T phải trả cho bà Huỳnh Thị Đ số tiền 61.037.000đ theo Bản án hình sự sơ thẩm số 11 ngày 06/4/1995 của TAND tỉnh Phú Yên, Bản án hình sự phúc thẩm số 376 ngày 25/7/1995 của TAND tối cao tại Đà Nẵng. Vợ chồng bà T3, ông Thám không thi hành nên vào ngày 13/4/1996, Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên đã giao tài sản nhà, đất của ông T, bà T3 để trừ nợ, gồm: Nhà có diện tích 51,68m², đất có diện tích 537,67m² cùng một số vật kiến trúc xây dựng trên đất, tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Năm 2018, vợ chồng ông S làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thì phát hiện thửa đất này đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T cấp GCQSDĐ cho ông Lê Văn T. Ông S đã báo sự việc đến cơ quan có thẩm quyền, ngày 06/12/2019, UBND huyện T ban hành Quyết định số 4657/QĐ-UBND hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lê Văn T nêu trên.

Ngày 25/3/2020, ông S đến thửa đất thì phát hiện phía bị đơn đã tự ý xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4, lợp tôn, tường gạch, nền xi măng. Ngoài ra, trên thửa đất còn có 01 trại gà của vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H. Trong quá trình Tòa án đang giải quyết tranh chấp, phía bị đơn tiếp tục xây dựng nhà vệ sinh trên đất tranh chấp.

Do đó, vợ chồng ông S, bà Đ kiện đòi lại tài sản nêu trên vì đã được giao hợp pháp cho ông bà; đề nghị Tòa án ghi nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ông; buộc ông Lê Văn T, vợ chồng Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc xây dựng trên đất để trả đất theo hiện trạng. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Lê Văn T trình bày:

Thửa đất mà vợ chồng Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ đang tranh chấp là đất có nguồn gốc của ông bà nội ông T tên là Lê C1 (chết năm 1967), Ngô Thị C2 (chết năm 1993). Ông C1, bà C2 xây dựng nhà trên đất, sinh sống, khi chết không để lại di chúc, hiện chưa chia thừa kế. Sau khi ông C1, bà C2 chết, ngôi nhà cùng diện tích đất này được các cô chú (con ông C1, bà C2) cho vợ chồng ông T sinh sống, không cho luôn.

Trong quá trình chung sống, bà T3 (vợ ông T) nợ tiền của bà Đ nên sau đó Thi hành án có đến nhà lập biên bản. Khi đó bà T3 đã đi tù, ông T không có tiền để giao nộp án phí cho Thi hành án nên đồng ý giao nhà cho Thi hành án để trả án phí và trả nợ cho bà Đ. Tại thời điểm đó, ông T đã khai rõ vợ chồng ông chỉ có nhà, không có đất nhưng Phòng Thi hành án và địa phương nói ông cứ ký vào biên bản giao tài sản nên ông T đã ký.

Nay, ông Thám không chấp nhận giao đất cho vợ chồng ông S, bà Đ theo biên bản của Phòng Thi hành án, chỉ chấp nhận giao nhà như nêu trên.

Đối với việc xây tài sản trên đất tranh chấp: Toàn bộ tài sản là do vợ chồng ông T1 là người trực tiếp xây dựng. ÔngThám có bỏ công sức tương đương số tiền 5.000.000đ, đề nghị Tòa xem xét.

Bị đơn ông Lê Văn T1 trình bày:

Thửa đất mà vợ chồng Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ đang tranh chấp là đất có nguồn gốc của ông Lê C1, bà Ngô Thị C2 (ông bà nội của ông T1). Ông C1, bà C2 chết không có di chúc, thửa đất này chưa chia thừa kế. Sau khi ông C1, bà C2 chết, ngôi nhà và đất này do vợ chồng ông Lê Văn T, Huỳnh Thị T3 quản lý, sinh sống.

Năm 2014, vợ chồng ông T1 có xin các cô chú (Các con của ông C1, bà C2) cho xây 01 chuồng gà sang một phần thửa đất nêu trên. Ông T1 khẳng định thửa đất này là của ông bà nội để lại, chưa chia cho ai nên việc nguyên đơn cho rằng đất là của vợ chồng ông T, bà T3, sau đó đã được giao cho vợ chồng ông S, bà Đ theo quyết định Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên là không đúng.

Đối với ngôi nhà xây dựng trên đất tranh chấp: Nhà xây dựng đầu năm 2020, hết khoảng 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Vợ chồng ông T1 là người trực tiếp xây dựng nhà. Tiền xây nhà là do mọi người trong gia đình đóng góp, cụ thể: Bà Đặng Thị B số tiền: 40.000.000đ; Lê Văn T1, Lê Văn T, Lê Văn T4, Lê Văn T5, Lê Thị T6, Lê Thị T7, mỗi người 5.000.000đ; Lê Thị Đ1 (do Nguyễn Văn K đại diện) số tiền: 10.000.000đ; Lê Bá M số tiền: 15.000.000đ; Lê Thị N3 (do Trần Văn T11 đại diện): 20.000.000đ. Khi vừa xây xong nhà, đang hoàn thiện cửa thì vợ chồng ông S đến tranh chấp rồi sau đó kiện ra tòa. Cuối năm 2022 (Sau khi Tòa án về đo đạc thẩm định, định giá), đã xây dựng thêm nhà vệ sinh, nhà tắm, với số tiền xây dựng là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Việc xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh cũng do vợ chồng ông T1 trực tiếp xây dựng, tiền xây dựng là do khi xây nhà nêu trên còn dư một số tiền và thấy xây nhà mà không có nhà vệ sinh rất bất tiện nên đã tiến hành xây.

Nay, ông T1 không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông S, bà Đ1 vì đất này là của ông bà nội ông T1 để lại, chưa chia thừa kế.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim H trình bày: Thống nhất theo yêu cầu của chồng (ông Lê Văn T1). Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị Đ1 có đơn trình bày:

Bà Đ1 là con của ông Lê C1, bà Ngô Thị C2. Ông C1, bà C2 chết không để lại di chúc, mọi người thống nhất cho vợ chồng Lê Văn T làm nhà tạm trên một phần thửa đất. Vừa qua, được tin Thi hành án lấy đất của gia đình giao cho vợ chồng ông S, bà Đ1 để trả nợ mà bà không biết. Vì vậy, đề nghị Tòa xử lý để không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của mọi người.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng Thị B trình bày:

Bà B là vợ của ông Lê N4 (Ông N4 là con của ông C1, bà C2), là mẹ của Lê Văn T1, Lê Văn T. Đất các bên đang tranh chấp là đất của ông C1, bà C2 để lại. Bà B thống nhất hoàn toàn theo ý kiến của các con bà là Lê Văn T1, Lê Văn T, không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn T4, Lê Văn T5, Lê Thị T7 thống nhất trình bày:

Thửa đất tranh chấp là đất của ông C1, bà C2 (ông bà nội của các ông bà). Mọi người trong gia đình cho vợ chồng ông T, bà T3 xây nhà ở, không cho luôn. Đối với tài sản xây dựng trên đất đúng như ông T1 đã khai. Do đó, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông S, bà Đ1, thống nhất theo yêu cầu của ông T1. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Bá M trình bày:

Ông M là con của ông Lê Bá P1 (Ông P1 là con của ông C1, bà C2). Thửa đất tranh chấp là đất của ông C1, bà C2 để lại chưa chia thừa kế, không phải là đất của ông T. Do đó, không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị T6 trình bày:

Thửa đất các bên đang tranh chấp là đất của ông C1, bà C2; thống nhất theo ý kiến của bị đơn. Ngoài ra, không ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên trình bày: Căn cứ Bản án số 376/HSPT ngày 25/7/1995 của TAND tối cao tại Đà Nẵng, xét đơn yêu cầu thi hành án của bà Huỳnh Thị Đ, Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên ra Quyết định thi hành án số 65/THA ngày 10/10/1995, đồng thời phân công Chấp hành viên tổ chức việc thi hành án. Việc thi hành án đã kết thúc ngày 16/4/1996. Đề nghị TAND huyện Tây Hòa xem xét giải quyết theo thẩm quyền.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện T trình bày:

Bản trích lục địa bộ ngày 15/9/1936 thuộc thời kỳ Đại Nam trung kỳ chánh phủ lập để quản lý đất đai từ năm 1936. Từ đó đến nay, chế độ quản lý đất đai qua các thời kỳ có nhiều cách khác nhau cũng như việc sử dụng đất của các hộ gia đình cá nhân có nhiều sự thay đổi. Vì vậy, việc xác định ranh giới, vị trí diện tích đất ngoài thực địa hoặc trên bản đồ địa chính theo bản trích lục địa bộ nêu trên là không thể thực hiện được.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt, không nộp bản ý kiến nên không tiến hành hòa giải được.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Căn cứ các Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, 212, 237, 238, 239, 241 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 203 Luật đất đai; Điều 12, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: Ghi nhận toàn bộ tài sản nhà, đất đã được Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên giao cho nguyên đơn thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ tài sản này cho nguyên đơn; buộc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tháo dỡ một số tài sản xây dựng trên đất để trả đất theo hiện trạng; giao một phần tài sản bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xây dựng trên đất cho nguyên đơn sở hữu, nguyên đơn có trách nhiệm trả lại giá trị cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; cụ thể:

1.1. Ghi nhận thửa đất số 312, tờ bản đồ 59 –A, hiện nay là thửa đất số 611, tờ bản đồ số 10, diện tích thực tế: 575,1m², gồm: 200m² đất ONT, 375,1m² đất BHK (Đất hiện đang đứng tên Lê Văn T) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ.

Đất tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có giới cận: Phía đông giáp đất ông Ngô Quốc N5; phía tây, phía bắc giáp đất ông Lê Văn T4; phía nam giáp đường đi vào nhà ông Lê Văn T1.

Ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ có trách nhiệm liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai đất theo quy định.

(Có sơ đồ đất kèm theo)

1.2. Ghi nhận và giao cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ sở hữu tài sản trên đất, tổng trị giá: 138.685.471đ; gồm:

1.2.1. Ghi nhận tài sản gồm nhà, vật kiến trúc có nguồn gốc ông Lê Văn T, bà Huỳnh Thị T3 xây dựng (đã được giao cho vợ chồng ông S, bà Đ sở hữu theo biên bản bàn giao của Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên) thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ, trị giá: 3.938.371₫;

1.2.2. Giao cho vợ chồng ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ được sử hữu nhà, vật kiến trúc có nguồn gốc vợ chồng ông Lê Văn T1 xây dựng trị giá: 134.747.100đ, quy tròn số: 134.747.000₫.

1.3. Ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ có trách nhiệm trả giá trị tài sản xây dựng trên đất cho vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H, ông Lê Văn T, bà Đặng Thị B, ông Lê Văn T4, ông Lê Văn T5, bà Lê Thị T6, bà Lê Thị T7, bà Lê Thị Đ1 (do ông Nguyễn Văn K đại diện), ông Lê Bá M, bà Lê Thị N3 (do ông Trần Văn T11 đại diện) số tiền: 134.747.000đ (Một trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn đồng); theo phần: Bà Đặng Thị B số tiền: 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng); ông Lê Văn T, ông Lê Văn T4, ông Lê Văn T5, bà Lê Thị T6, bà Lê Thị T7, mỗi người: 5.000.000₫ (Năm triệu đồng); bà Lê Thị Đ1 (do ông Nguyễn Văn K đại diện) số tiền: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng); ông Lê Bá M số tiền: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); bà Lê Thị N3 (do ông Trần Văn T11 đại diện): 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H: 24.747.000₫ (Hai mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.4. Buộc vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ trại gà xây dựng trên đất để trả đất cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ theo hiện trạng.

1.5. Buộc vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H tháo dỡ toàn bộ nhà vệ sinh, nhà tắm xây dựng trên đất để trả đất cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ theo hiện trạng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/11/2023, bị đơn Lê Văn T, Lê Văn T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 24/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Minh S1, Lê Minh C, Lê Thị Ngọc N1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn ông Lê Văn T, Lê Văn T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Minh S1, Lê Minh C, Lê Thị Ngọc N1 đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX và những người tham gia tố tụng là đúng quy định pháp luật tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo, nộp tạm ứng án phí trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có trình bày, căn cứ Điều 296 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn Lê Văn T, Lê Văn T1 yêu cầu xác định QSDĐ tại thửa đất số 312, tờ bản đồ 59 –A, hiện nay là thửa đất số 611, tờ bản đồ số 10, diện tích thực tế: 575,1m², gồm: 200m² đất ONT, 375,1m² đất BHK tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có giới cận: Phía đông giáp đất ông Ngô Quốc N5; phía tây, phía bắc giáp đất ông Lê Văn T4; phía nam giáp đường đi vào nhà ông Lê Văn T1, là tài sản của ông Lê C1 (chết năm 1967), Ngô Thị C2 (chết năm 1993) để lại cho con cháu chưa chia thừa kế, không phải tài sản của ông Lê Văn T, bà Huỳnh Thị T3, còn những người liên quan Lê Minh S1, Lê Minh C, Lê Thị Ngọc N1 kháng cáo nếu HĐXX xác định đất của ông bà (L, Ngô Thị C2) để lại thì các ông bà đồng ý, nếu xác định đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình Lê Văn T thì xem xét ông bà cũng là thành viên trong hộ, Cục thi hành án giao tài sản cho ông S, bà Đ đã xâm phạm đến quyền lợi của các ông bà nên đề nghị Tòa không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. HĐXX xét thấy:

[3] Về nguồn gốc đất: Căn cứ hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương: thửa đất tranh chấp thuộc thửa 747, tờ bản đồ số 5, diện tích 468m² (gồm 200m² đất ONT, 268m² đất quy hoạch thổ cư) theo Sổ cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP lập năm 1995 là giao cho hộ gia đình ông Lê Văn T gồm 05 khẩu: Lê Văn T, Huỳnh Thị T3, Lê Minh S1, Lê Thị Ngọc N1, Lê Minh C; Theo Sổ địa chính lập năm 1996, bản đồ lập năm 1996 và Sổ mục kê lập năm 2001 thuộc thửa 312, tờ bản đồ 59 –A, diện tích 590m² (gồm 200m² đất ONT, 200m² đất quy hoạch thổ cư, 190m² đất vườn) đứng tên Lê Văn T; Theo bản đồ lập năm 2016, thuộc thửa 611, tờ bản đồ số 10, diện tích 567m² (gồm 200m² đất ONT, 200m² đất quy hoạch thổ cư, 167m² đất vườn) đứng tên Lê Văn T. Phía bị đơn đều thừa nhận trên thực tế, vợ chồng ông T, bà T3 đã xây dựng nhà trên đất từ khoảng năm 1992 và cùng các con sinh sống trên đất, không ai tranh chấp. Phía bị đơn căn cứ vào Bản trích lục địa bộ ngày 15/9/1936 thuộc thời kỳ Đại Nam trung kỳ chánh phủ lập để quản lý đất đai từ năm 1936 để cho rằng đất là tài sản của ông Lê C1, bà Ngô Thị C2, có nhà của ông C1, bà C2 trên đất và chỉ cho vợ chồng ông T, bà T3 xây dựng nhà để ở chứ không cho luôn. Tuy nhiên, căn cứ vào Công văn số: 2295/UBND-TNMT ngày 29/12/2022 của UBND huyện T (BL268), Công văn số 49/UBND ngày 25/4/2024 của UBND xã H, biên bản xác minh ngày 23/11/2021 (BL107) cũng như hiện trạng sử dụng đất qua các biên bản xem xét tại chỗ cũng như các biên bản giao nhận tài sản theo quyết định của thi hành án thì không có tài sản gì của ông C1, bà C2 trên đất cũng như bà C2 không kê khai đất tại địa phương, việc xác định ranh giới, vị trí diện tích đất ngoài thực địa hoặc trên bản đồ địa chính theo bản trích lục địa bộ năm 1936 là không xác định được. Mặc khác, sau thời điểm ngày 13/4/1996, khi Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên lập Biên bản giải tỏa tài sản bị kê biên đồng thời lập Biên bản bàn giao tài sản nhà và đất cho bà Đ cho đến năm 2019 (khi các bên bắt đầu tranh chấp), không có bất cứ tranh chấp nào từ phía gia đình ông Lê C1, bà Ngô Thị C2 trong đó có gia đình bị đơn Lê Văn T1, ông Lê Văn T4 ở trên thửa đất giáp ranh thửa đất tranh chấp. Ngoài ra, sau khi nhận tài sản, ông S, bà Đ chưa sử dụng tài sản, ông T và các con cũng không quản lý nhà đất, ngày 31/12/2008 hộ ông Lê Văn T được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số QG 785558 đối với thửa đất tranh chấp, bà Đ phát hiện khiếu nại, ngày 06/12/2019 UBND huyện T ban hành Quyết định số 4657/QĐ-UBND về việc hủy GCNQSDĐ nêu trên, lý do hủy ghi rõ “Đất có nguồn gốc do hộ ông Lê Văn T tạo lập, tuy nhiên đến ngày 13/4/1996, Cơ quan Thi hành án tỉnh Phú Yên bàn giao nhà và đất với diện tích 537,67m² cho vợ chồng bà Huỳnh Thị Đ nhưng năm 2008 UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Lê Văn T diện tích 200m2 đất ở nông thôn là không đúng quy định pháp luật theo điểm d, khoản 2, Điều 106 Luật đất đai 2013”. Tại phiên tòa, ông T khẳng định ông đã nhận Quyết định số 4657/QĐ-UBND nhưng ông không khiếu nại Quyết định này vì cho rằng Ủy ban hủy GCNQSDĐ cấp cho ông là đúng do đất có nguồn gốc của ông bà để lại trong khi nội dung hủy đã ghi rõ trong quyết định và phía bị đơn cũng không có bất cứ tranh chấp nào trong giai đoạn từ 2008 - 2019. Như vậy, ngoài Bản trích lục địa bộ ngày 15/9/1936 thuộc thời kỳ Đại Nam trung kỳ chánh phủ lập thì phía bị đơn không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, cấp sơ thẩm xác định thửa đất tranh chấp có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông Lê Văn T trong đó nhà, đất ở (ONT) là tài sản chung của bà T3, ông T; đất hàng năm khác (HNK) là tài sản chung của hộ ông T gồm: Lê Văn T, Huỳnh Thị T3, Lê Thị Ngọc N1, Lê Minh S1, Lê Minh C là có căn cứ.

[4] Về tính hợp pháp của thủ tục bàn giao nhà đất của Phòng thi hành án tỉnh Phú Yên (nay là Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên): Căn cứ Bản án hình sự sơ thẩm số 11 ngày 06/4/1995 của TAND tỉnh Phú Yên, Bản án hình sự phúc thẩm số 376 ngày 25/7/1995 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng (Gọi tắt là Bản án số 376) đã tuyên xử buộc Huỳnh Thị T3 và Lê Văn T phải liên đới bồi thường cho bà Huỳnh Thị Đ số tiền: 61.037.000đ. Vợ chồng ông T, bà T3 không thi hành án nên ngày 12/12/1995, Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên đã lập Hội đồng kê biên tài sản của ông T, bà T3 là nhà đất tại thôn P, H (Là tài sản hiện các bên đang tranh chấp). Tài sản không bán được, Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên yêu cầu người được thi hành án nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 và bà Huỳnh Thị Đ (Người được thi hành án) đồng ý nhận tài sản. Ngày 13/4/1996, Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên lập Biên bản giải tỏa tài sản bị kê biên, đồng thời lập Biên bản bàn giao tài sản của vợ chồng ông T, bà T3 cho bà Đ gồm: 01 ngôi nhà có diện tích 51,68m², một số vật kiến trúc xây dựng trên đất, diện tích đất 537,67m² tọa lạc tại thôn P, xã H. Việc giải tỏa kê biên, bàn giao tài sản đều có sự chứng kiến của đại diện địa phương, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, người được giao tài sản Huỳnh Thị Đ và người phải thi hành án Lê Văn T. Tại phiên tòa, ông T khẳng định ông đã ký vào biên bản bàn giao của Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên nhưng khi ký đã nói rõ là chỉ giao nhà, không giao đất nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Từ khi ông T ký biên bản bàn giao nhà, đất cho bà Đ đến nay, ông Thám không khiếu nại, tranh chấp gì. Như vậy, Phòng Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên đã thực hiện việc giao tài sản đúng quy định của pháp luật. Đối với Biên bản bàn giao toàn bộ nhà, đất tháng 4/1996, chỉ có ông T ký, không có chữ ký của bà T3 (do đang thi hành án tù giam) và các con (Lê Thị Ngọc N1, Lê Minh S1, Lê Minh C (còn nhỏ: Lớn nhất 12 tuổi, nhỏ nhất 06 tuổi), ông T là người đại diện cho các con và đại diện ký giao đất cho người khác không phải vì lợi ích của các con đã vi phạm khoản 1 Điều 150, Điều 155 Bộ luật dân sự năm 1995 (Khoản 2 Điều 139 Bộ luật dân sự năm 2015). Tuy nhiên, từ khi Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên giao nhà, đất cho vợ chồng ông S đến ngày vợ chồng ông S khởi kiện ra Tòa, không có ai khiếu nại hay tranh chấp gì về việc bàn giao nhà, đất nêu trên. Cấp sơ thẩm ghi nhận thửa đất số 312, tờ bản đồ 59 –A, hiện nay thuộc thửa đất số 611, tờ bản đồ số 10, diện tích thực tế: 575,1m², gồm 200m² đất ONT, 375,1m² đất BHK cùng toàn bộ nhà (Ngôi nhà được Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên giao cho bà Đ) xây dựng trên đất (Qua thẩm định, định giá, nhà, vật kiến trúc có tổng giá trị: 3.938.371đ) thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông S, bà Đ và buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ tài sản nhà, đất này cho nguyên đơn là có căn cứ,

[5] Đối với trại gà của vợ chồng ông T1, bà H xây dựng có kết cấu: Mái lợp tôn Piro xi măng, nền xi măng trên diện tích đất 246,3m², có thể tháo dỡ được. Cấp sơ thẩm buộc vợ chồng ông T1, bà H tháo dỡ toàn bộ trại gà để trả đất cho ông S, bà Đ theo hiện trạng là có căn cứ.

[6] Đối với ngôi nhà cấp 4, chái nhà phía bị đơn thừa nhận xây dựng năm 2020 là xây dựng sau khi các bên đã xảy ra tranh chấp, tuy nhiên nhà đã xây kiên cố và đã được xây dựng hoàn chỉnh, khi bị đơn xây nhà, nguyên đơn không tranh chấp, không báo cáo sự việc đến các cơ quan có thẩm quyền nên cấp sơ thẩm xác định: Nhà trị giá: 127.500.000đ; 01 chái nhà, trị giá: 7.247.100đ. Tổng cộng: 134.747.100đ, quy tròn số 134.747.000đ với chủ thể xây dựng nhà là vợ chồng ông Lê Văn T1 góp 24.747.000đ, bà Đặng Thị B góp 40.000.000đ; ông Lê Văn T, ông Lê Văn T4, ông Lê Văn T5, bà Lê Thị T6, bà Lê Thị T7, mỗi người góp 5.000.000đ; bà Lê Thị Đ1 (do ông Nguyễn Văn K đại diện) góp 10.000.000đ; ông Lê Bá M góp 15.000.000đ; bà Lê Thị N3 (do ông Trần Văn T11 đại diện) góp 20.000.000đ và giao tài sản này cho vợ chồng nguyên đơn sở hữu đồng thời có trách nhiệm trả giá trị cho bị đơn T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (nêu trên) số tiền: 134.747.000đ theo phần góp là có căn cứ.

[7] Đối với nhà vệ sinh, nhà tắm xây dựng cuối năm 2022: Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông T1 phải tháo dỡ tài sản này để trả đất theo hiện trạng là có căn cứ.

[8] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người liên quan kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu gì mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận ý kiến của nguyên đơn và kiểm sát viên tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, người liên quan, giữ nguyên án sơ thẩm.

[9] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn, người liên quan kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí DSPT.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 01 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025 giữ nguyên án dân sự sơ thẩm.

Căn cứ các Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, 212, 237, 238, 239, 241 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 203 Luật đất đai; Điều 12, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: Ghi nhận toàn bộ tài sản nhà, đất đã được Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên giao cho nguyên đơn thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ tài sản này cho nguyên đơn; buộc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tháo dỡ một số tài sản xây dựng trên đất để trả đất theo hiện trạng; giao một phần tài sản bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xây dựng trên đất cho nguyên đơn sở hữu, nguyên đơn có trách nhiệm trả lại giá trị cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; cụ thể:

1.1. Ghi nhận thửa đất số 312, tờ bản đồ 59 –A, hiện nay là thửa đất số 611, tờ bản đồ số 10, diện tích thực tế: 575,1m², gồm: 200m² đất ONT, 375,1m² đất BHK (Đất hiện đang đứng tên Lê Văn T) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ.

Đất tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có giới cận: Phía đông giáp đất ông Ngô Quốc N5; phía tây, phía bắc giáp đất ông Lê Văn T4; phía nam giáp đường đi vào nhà ông Lê Văn T1.

Ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ có trách nhiệm liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai đất theo quy định.

(Có sơ đồ đất kèm theo)

1.2. Ghi nhận và giao cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ sở hữu tài sản trên đất, tổng trị giá: 138.685.471đ; gồm:

1.2.1. Ghi nhận tài sản gồm nhà, vật kiến trúc có nguồn gốc ông Lê Văn T, bà Huỳnh Thị T3 xây dựng (đã được giao cho vợ chồng ông S, bà Đ sở hữu theo biên bản bàn giao của Phòng Thi hành án tỉnh Phú Yên) thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ, trị giá: 3.938.371₫;

1.2.2. Giao cho vợ chồng ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ được sử hữu nhà, vật kiến trúc có nguồn gốc vợ chồng ông Lê Văn T1 xây dựng trị giá: 134.747.100đ, quy tròn số: 134.747.000₫.

1.3. Ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ có trách nhiệm trả giá trị tài sản xây dựng trên đất cho vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H, ông Lê Văn T, bà Đặng Thị B, ông Lê Văn T4, ông Lê Văn T5, bà Lê Thị T6, bà Lê Thị T7, bà Lê Thị Đ1 (do ông Nguyễn Văn K đại diện), ông Lê Bá M, bà Lê Thị N3 (do ông Trần Văn T11 đại diện) số tiền: 134.747.000đ (Một trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn đồng); theo phần: Bà Đặng Thị B số tiền: 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng); ông Lê Văn T, ông Lê Văn T4, ông Lê Văn T5, bà Lê Thị T6, bà Lê Thị T7, mỗi người: 5.000.000₫ (Năm triệu đồng); bà Lê Thị Đ1 (do ông Nguyễn Văn K đại diện) số tiền: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng); ông Lê Bá M số tiền: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng); bà Lê Thị N3 (do ông Trần Văn T11 đại diện): 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng); vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H: 24.747.000₫ (Hai mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.4. Buộc vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ trại gà xây dựng trên đất để trả đất cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ theo hiện trạng.

1.5. Buộc vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H tháo dỡ toàn bộ nhà vệ sinh, nhà tắm xây dựng trên đất để trả đất cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ theo hiện trạng.

2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho vợ chồng ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ. H2 lại cho ông Lê Văn S số tiền tạm ứng án phí: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001927 ngày 11/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Ông Lê Văn T, Lê Văn T1 mỗi người phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST, 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSPT, mỗi người được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012121 và số: 0012122 cùng ngày 16/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa nên mỗi người còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Các ông, bà Lê Minh S1, Lê Thị Ngọc N1, Lê Minh C mỗi người phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSPT, mỗi người được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012127, số: 0012128, số: 0012129 cùng ngày 24/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa nên đã nộp đủ.

Vợ chồng ông Lê Văn T1, bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu án phí về tháo dỡ tài sản: 4.536.000đ (Bốn triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

3. Về chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí định giá, thẩm định: 9.000.000₫ (Chín triệu đồng). Ông Lê Văn T phải chịu: 5.000.000đ (Năm triệu đồng), ông Lê Văn T1 phải chịu: 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ đã nộp: 9.000.000₫ (Chín triệu đồng) nên ông Lê Văn T1 phải trả cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ số tiền: 4.000.000đ (Bốn triệu đồng); ông Lê Văn T phải trả cho ông Lê Văn S, bà Huỳnh Thị Đ số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND huyện Tây Hòa;
  • - CC THADS huyện Tây Hòa;
  • - TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về đòi lại tài sản; yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc xây dựng trên đất để trả đất theo hiện trạng

  • Số bản án: 46/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản; yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc xây dựng trên đất để trả đất theo hiện trạng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất do được thi hành án giao hợp lệ, bị đơn phản tó yêu cầu công nhận đất của dòng họ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger