|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/DS-ST.
Ngày: 25 - 9 -2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Tiến
- Ông Lê Cát Tưởng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 179/2024/TLST – DS ngày 15/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2024/QĐXXST-DS ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1
- Địa chỉ: Số G, phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H – Tổng giám đốc
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tất Đ, sinh năm 1983
- Địa chỉ: TTTM T, số B đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (giấy ủy quyền số 170/UQ-SHB ngày 17/4/2024)
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987
- HKTT: SN 81, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Nơi ở hiện nay: Phòng 1809 tòa A chung cư T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T1.
- Địa chỉ: Số F, đường L, phường L, Tp ., Tp .
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế M – Chủ tịch HĐQT
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn Bà Ngân hàng TMCP S1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S2) trình bày:
Bà Nguyễn Thị T vay vốn tại Ngân hàng S2 theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018. Số tiền vay: 300.000.000 đồng (Bằng chữ : Ba trăm triệu đồng chẵn). Mục đích vay vốn: Bù đắp chi phí mua căn hộ chung cư S, tầng A, tòa A Chung cư Tecco Towers tại Lô CC2, khu tái định cư đường V, Phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa. Theo Hợp Đồng mua bán căn hộ số 146.TA/2018/HĐMB-TECO.CNTH ngày 17/07/2018 được kí giữa bà Nguyễn Thị T (Bên mua) và Tổng công ty T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa (Bên bán), để ở. Thời hạn vay: 300 tháng, kể từ ngày 30/07/2018; Tài sản bảo đảm: Căn hộ chung cư S, tầng 18, tòa A Chung cư Tecco Towers tại Lô CC2, khu tái định cư đường V, Phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa; theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 167/2018/HĐTC-CN/SHB.110800 đã được công chứng tại Phòng C1, tỉnh Thanh Hóa.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018. Ngân hàng S2 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị T, số tiền là 300.000.000 đồng, theo khế ước nhận nợ số 01-167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 31/07/2018. Trong thời gian vay vốn tại ngân hàng S2, Bà Nguyễn Thị T đã không trả nợ lãi đúng hạn theo cam kết trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ kèm theo.
Ngân hàng S2 đã nhiều lần đôn dốc, thông báo và tạo điều kiện cho bà T trả nợ nhưng bà T vẫn không thực hiện đúng như cam kết cho S và khoản vay bị chuyển nhóm nợ quá hạn từ ngày 05/12/2023. Ngân hàng S2 đã thông báo cho bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng S2 được quy định tại điều 10 của Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH - CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018 và đề nghị bà T thực hiện nghĩa vụ trả nợ và phối hợp với S2 xử lý tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S2. Tuy nhiên bà Nguyễn Thị T vẫn cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S2.
Tạm tính đến 15/04/2024, tổng số tiền mà bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng S2 cụ thể như sau:
- + Nợ gốc trong hạn: 232.000.000 đồng
- + Nợ gốc quá hạn: 5.000.000 đồng
- + Lãi vay trong hạn: 12.809.280 đồng
- + Lãi vay quá hạn: 225.289 đồng
- + Tổng cộng: 250.034.569 đồng.
Do vậy Ngân hàng S2 đã có đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị T tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Thanh Hóa xem xét, giải quyết như sau:
- Buộc bà Nguyễn Thị T phải thanh toán cho Ngân hàng S2 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, quá hạn và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 15/04/2024, tổng số tiền mà bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng S2 là 250.034.569 đồng.
- Đề nghị Tòa án buộc Bà Nguyễn Thị T phải tiếp tục thanh toán nợ lãi vay tính theo lãi suất nợ quá hạn của số nợ gốc chưa trả theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018; kể từ ngày 16/4/2024 cho đến ngày thanh toán hết khoản nợ gốc của khoản vay,
Bị đơn Nguyễn Thị T: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà T hợp lệ (như: Thông báo thụ lý; Giấytriệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ). Tuy nhiên bà T không có mặt làm việc theo thông báo và triệu tập của Toà án và cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào tới Tòa án. Tại các phiên hòa giải bà T không có mặt nên không tiến hành hòa giải được. Ngày 30/8/2024, Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa có “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”, quyết định đã được tống đạt trực tiếp cho bà T và niêm yết hợp lệ cho bà T. Tại phiên tòa ngày 13/9/2024, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng S2 có mặt; Bà T vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó HĐXX quyết định hoãn phiên tòa đồng thời ấn định thời gian xét xử lại vụ án vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 24/9/2024. Tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị T có mặt và trình bày tự khai như sau: Ngày 30/7/2018 Tôi và Ngân hàng S2 có ký hợp đồng tín dụng số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 để vay số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) mục đích vay để bù đắp chi phí mua căn hộ chung cư số 1809 tầng 18 tòa A chung cư T1 tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Thời hạn vay là 300 tháng kể từ ngày 30/7/2018. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là căn hộ chung cư nói trên theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 146.TA/2018/HĐMB-TECO.CNTH ngày 17/07/2018 mà tôi đã ký với Tổng công ty T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa. Hợp đồng thế chấp số 167 ngày 30/7/2018. Sau khi ký hợp đồng tín dụng Ngân hàng S2 đã giải ngân cho tôi đủ số tiền 300.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ số 01 – 167/2018 ngày 30/7/2018. Sau khi được Ngân hàng S2 giải ngân tôi đã đóng tiền đúng như cam kết, tuy nhiên đến khoảng tháng 8/2023 tôi có vi phạm nghĩa vụ trả nợ với bên Ngân hàng. Sau khi được Ngân hàng thông báo thì tôi đã cố gắng thu xếp để trả nợ cho Ngân hàng, tính đến ngày hôm nay tôi còn nợ tiền gốc và tiền lãi của Ngân hàng C2 cụ thể bao nhiêu tôi không nhớ chính xác. Nay Ngân hàng khởi kiện tôi đến tòa án, yêu cầu phải trả số tiền nợ gốc và lãi còn lại thì quan điểm của tôi là: Tôi đề nghị bên Ngân hàng tạo điều kiện giảm lãi cho tôi, để tôi còn tiếp tục trả nốt số tiền còn lại vì khả năng hiện tại của tôi không có. Trong trường hợp ngân hàng không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp mà tôi không thể trả được nợ cho Ngân hàng thì tôi chấp nhận phát mại tài sản đảm bảo theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp đã ký.
Về căn hộ chung cư S Tầng 18 tòa A chung cư TECCO khi ký hợp đồng thế chấp với Ngân hàng thì tôi cũng ký thỏa thuận 3 bên với Ngân hàng S2 và Tổng công ty T1 – Chi nhánh T2. Tôi cũng đã thanh toán đủ số tiền mua căn chung cư TECCO tuy nhiên đến nay tôi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần T1: trong quá trình giải quyết, theo yêu cầu của Ngân hàng S2 và xét thấy cần thiết Tòa án đã bổ sung người tham gia tố tụng là Công ty Cổ phần T1 với tư cách là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý bổ sung người tham gia tố tụng cho Công ty Cổ phần T1 nhưng Công ty Cổ phần T1 không tham gia các buổi làm việc tại Tòa án.
Ngày 30/7/2024 Tập đoàn T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa có văn bản số 30.7/2024/TECCO – CNTH v/v: quan điểm giải quyết tranh chấp đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S2 căn hộ A1809, cụ thể: Theo Thông báo bổ sung người tham gia tố tụng số 179a/2024/TB - TLVA ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá, Tập đoàn T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa được xác định là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trọng vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 179/2024/TLST - DS ngày 15/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ” giữa Ngân hàng S2 và bà Nguyễn Thị T. Sau khi xem xét toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S2, đối chiếu với quy định pháp luật, Tập đoàn T1 - Chi nhánh tại Thanh Hoá có quan điểm giải quyết tranh chấp đối với các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn như sau: Ngày 17/07/2018, bà Nguyễn Thị T và Tập đoàn T1 – chi nhánh tại Thanh Hóa (trước đây là Tổng công ty T1 - Chi nhánh tại Thanh Hoá) ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 146.TA / 2018 / HĐMB - TECCO.CNTH về việc mua bán Căn hộ chung cư số 1809, Tầng A, Tòa A, Chung cư T tại Lô C, Khu tái định cư Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Nguyễn Thị T đã thanh toán đủ số tiền mua căn hộ 1809, Tầng A, Tòa A, Chung cư T cho Tập đoàn T1 - Chi nhánh tại Thanh Hoá, theo đó Tập đoàn T1 - Chi nhánh tại Thanh Hoá đã tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Căn hộ chung cư S, Tầng A, Tòa A, Chung cư T theo đúng trách nhiệm quy định tại Hợp đồng mua bán căn hộ đã ký và theo quy định của pháp luật. Ngày 12/01/2022, Tập đoàn T1 - Chi nhánh tại Thanh Hoá nhận được Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số LTB2240101 - TK0000346/TB - CCT của Chi cục thuế khu vực thành phố T- Đ và đã tiến hành thông báo nhiều lần với bà Nguyễn Thị T để lên nhận Thông báo đóng thời thực hiện nộp lệ phí trước bạ theo Thông báo nêu trên. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, Căn hộ chung cư S nêu trên chưa đủ điều kiện để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy Chứng Nhận, bởi lý do bà Nguyễn Thị T không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, chưa hoàn thành việc nộp các nghĩa vụ tài chính liên quan đến việc cấp Giấy Chứng Nhận (lệ phí trước bạ, ...) theo quy định tại Điều 7 Hợp đồng và theo quy định pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S2 đối với bà Nguyễn Thị T: Căn cứ theo thông tin, tài liệu liên quan đến việc bà Nguyễn Thị T thế chấp tài sản (quyền sở hữu, sử dụng căn hộ phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ) tại Ngân hàng S2, nhận thấy việc thanh toán số tiền vay (nợ gốc, nợ lãi và/hoặc các khoản phí/chi phí khác phát sinh) đối với Ngân hàng S2 hoàn toàn là trách nhiệm cá nhân của bà Nguyễn Thị T theo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa bà T và Ngân hàng S2. Trường hợp bà Nguyễn Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ trên tại Ngân hàng S2, Ngân hàng S2 có quyền tiến hành xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo đúng quy định pháp luật. Đồng thời, đối chiếu theo quy định pháp luật và thoả thuận của các bên, Tập đoàn T1 - Chi nhánh tại Thanh Hoá không phải chịu trách nhiệm liên quan đến các tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng tín dụng giữa bà Nguyễn Thị T và Ngân hàng S2. Do vậy, kính đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xem xét, giải quyết cầu khởi kiện của Ngân hàng S2 đối với bà Nguyễn Thị T theo đúng quy định pháp luật
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2024 xác định: Căn hộ số 1809 Tòa A chung cư T1 có diện tích sàn xây dựng 66,5m²; diện tích sàn thông thủy: 63,25m². Căn hộ giữ nguyên hiện trạng như thời điểm thế chấp, không cải tạo sửa chữa so với thiết kế ban đầu.
Tại phiên tòa:
- Đại diện của Ngân hàng S2 bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Tòa án tuyên trong trường hợp bà Nguyễn Thị T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng S2, Ngân hàng S2 được yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản thế chấp của Bà Nguyễn Thị T để thu hồi nợ cho Ngân hàng S2
Đề nghị HĐXX buộc bà Nguyễn Thị T phải thanh toán ngay cho Ngân hàng SHB toàn bộ số tiền bà T còn nợ tạm tính đến ngày 24/9/2024, tổng số tiền mà bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng S2 cụ thể như sau: Nợ gốc trong hạn: 227.000.000 đồng; Nợ gốc quá hạn: 4.000.000 đồng; Lãi trong hạn là: 11.678.275 đồng; Lãi quá hạn: 698.944 đồng. Tổng số nợ là 243.377.220 đồng và buộc bà T tiếp tục thanh toán nợ lãi vay tính theo lãi suất nợ quá hạn của số nợ gốc chưa trả theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018; kể từ ngày 25/9/2024 cho đến ngày thanh toán hết khoản nợ gốc của khoản vay. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng S2, thì Ngân hàng S2 được yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản thế chấp của Bà Nguyễn Thị T để thu hồi nợ cho Ngân hàng S2.
Trong thời gian diễn ra đại dịch C3 – 19, Ngân hàng S2 không nhận được Đơn đề nghị giảm lãi, cơ cấu nợ và các chứng từ thể hiện khách hàng đang bị ảnh hưởng bởi dịch Covid - 19 để trình Ngân hàng cấp trên xem xét và khẳng định việc tính lãi theo đúng quy định của pháp luật và quy định của đơn vị. Tại phiên tòa, Ngân hàng S2 xuất trình và cùng với bà T xem xét đối chiếu Sổ phụ tài khoản tiền vay và sổ phụ tại khoản tiền gửi của bà T đối với khoản nợ nói trên tại Ngân hàng S2
- Bà Nguyễn Thị T thừa nhận tự nguyện ký kết Hợp đồng tín dụng số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 167/2018/HĐTC-CN/SHB.110800 với Ngân hàng S2. Cùng ký thỏa thuận ba bên giữa bà Nguyễn Thị T, Ngân hàng S2 và Tổng công ty T1 – chi nhánh T2. Sau khi ký kết các Hợp đồng, đã được Ngân hàng S2 giải ngân đúng theo khế ước nhận nợ. Bị đơn cho rằng việc Ngân hàng S2 liên tục tăng lãi suất trong giai đoạn Ngân hàng N có quyết định giảm lãi do dịch C là không đúng. Bị đơn không chấp nhận số tiền còn nợ tính đến ngày 24/9/2024 tổng số nợ là 243.377.220 đồng như Ngân hàng đã đưa ra với lý do bị đơn chưa đối chiếu và xem xét các khoản nộp vào và tính lãi với Ngân hàng. Và cũng không thể trả tiền ngay cho Ngân hàng S2 nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản thế chấp là căn hộ 1809 Tòa A chung cư Tecco phường T1 hiện nay do bà Nguyễn Thị T đang trực tiếp quản lý, sử dụng, giữ nguyên hiện trạng như tại thời điểm thế chấp, không tranh chấp với ai, không cho ai thuê mượn.
- Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụán của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của Nguyên đơn và Bị đơn đã tuân thủ đúng quy định;
Về nội dung vụ án: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S2, buộc bà Nguyễn Thị T thanh toán cho Ngân hàng S2 toàn bộ số tiền bà T còn nợ tính và buộc bà T tiếp tục chịu lãi tính theo lãi suất nợ quá hạn của số nợ gốc chưa trả theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày tính tiếp theo cho đến khi bà T trả hết toàn bộ nợ cho Ngân hàng S2; Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng S2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng; Bị đơn cư trú tại thành phố T do đó TAND TP . thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35;Khoản 1 Điều 39 -Bộ luật TTDS.
[1.2] Về việc vắng mặt Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Công ty cổ phần T1 vắng mặt. HĐXX xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho Công ty cổ phần T1. Tại phiên tòa hôm nay Công ty cổ phần T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227 BLTTDS để xét xử vắng mặt Công ty cổ phần T1.
[2]Về thời hiệu khởi kiện: Bà T không thực hiện việc trả nợ theo hợp đồng đã ký với Ngân hàng S2, quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng S2 bị xâm phạm từ tháng 05/12/2023, ngân hàng S2 khởi kiện ngày 15/4/2024. Như vậy là đảm bảo thời hiệu quy định tại Điều 429 BLDS.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S2:
Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018 ký kết giữa Ngân hàng S2 và bà Nguyễn Thị T được giao kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật nên là hợp đồng hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên như đã cam kết và các bên phải có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận đã cam kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng S2 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị T, số tiền là 300.000.000 đồng, theo khế ước nhận nợ số 01-167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800ngày 31/07/2018. Nhưng trong thời gian vay vốn, bà T đã không trả nợ lãi đúng hạn theo cam kết, Ngân hàng đã nhiều lần đôn dốc, thông báo và tạo điều kiện cho bàn Thùy trả nợ nhưng bà T vẫn không thực hiện đầy đúng, đúng cam kết do đó Ngân hàng S2 đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 05/12/2023 và bà T phải chịu mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng. Tạm tính đến ngày 24/9/2024, tổng số tiền mà bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng S2 cụ thể như sau: Nợ gốc trong hạn: 227.000.000 đồng; Nợ gốc quá hạn: 4.000.000 đồng; Lãi trong hạn là: 11.678.275 đồng; Lãi quá hạn: 698.944 đồng. Tổng số nợ là 243.377.220 đồng. Ngân hàng S2 khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà T phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ và tiếp tục chịu lãi thanh toán nợ lãi vay tính theo lãi suất nợ quá hạn của số nợ gốc chưa trả theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018; kể từ ngày 25/9/2024 cho đến ngày thanh toán hết khoản nợ gốc của khoản vay.
Tại phiên tòa, Bị đơn cho rằng Ngân hàng S2 liên tục tăng lãi suất khi Ngân hàng N có quyết định giảm lãi suất, hỗ trợ người vay tiền trong tình hình dịch bệnh C – 19 và việc làm ăn của người dân bị giảm sút là không phù hợp. Bị đơn cũng không thống nhất với số tiền còn nợ do Ngân hàng đưa ra với lý do chưa được đối chiếu và xem xét số liệu.
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về lãi suất đã áp dụng: Hợp đồng tín dụng hai bên đã tự nguyện ký kết với nhau có thỏa thuận cụ thể về nội dung lãi suất. Theo Ngân hàng T3, trong thời gian diễn ra đại dịch C – 19, bà T không có đơn đề nghị giảm lãi, cơ cấu nợ và các chứng từ thể hiện khách hàng đang bị ảnh hưởng bởi dịch C - 19 nên Ngân hàng S2 không có cơ sở đề nghị Ngân hàng cấp trên xem xét. Đến nay việc bà T nại ra bà không chấp nhận mức lãi suất mà Ngân hàng đưa ra do Ngân hàng phải giảm lãi cho bà trong giai đoạn dịch bệnh Covid 19 là không có cơ sở.
Về số liệu nợ còn lại: Tại phiên tòa, Ngân hàng S2 đã xuất trình cho Hội đồng xét xử và Đại diện Nguyên đơn đã cùng với bà T xem xét đối chiếu Sổ phụ tài khoản tiền vay và sổ phụ tại khoản tiền gửi của bà T đối với khoản nợ nói trên tại Ngân hàng S2. Tuy bà T không thống nhất với số liệu tổng nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì chứng minh, cũng không chỉ ra được khoản kê nào còn thiếu hoặc không đúng.
Về đề nghị giảm lãi và giãn nợ của Bị đơn, do Nguyên đơn không đồng ý nên HĐXX không chấp nhận.
Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S2
[2.2]. Bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 25/9/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
[2.3]. Về yêu cầu phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không trả được nợ:
Để đảm bảo cho khoản tiền vay bà T đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 167/2018/HĐTC-CN/SHB.110800 ngày 30/7/2018 với ngân hàng S2, tài sản thế chấp là căn hộ chung cư S tòa A tầng 18 chung cư T tại Lô C, khu T, phường Đ, Tp . theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 146.TA/2018/HĐMB-Tecco.CNTH ngày 17/7/2018 được ký giữa bà T và Tổng công ty T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa. Mục đích vay tiền của bà T theo Hợp đồng tín dụng đã ký là để bù đắp chi phí mua căn hộ chung cư nói trên, mục đích để ở. Cùng ngày Ngân hàng S2, bà T và Tổng công ty T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa đã ký thỏa thuận ba bên về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm là nhà ở hình thành trong tương lai.
Theo thông tin do Tập đoàn T1 – chi nhánh tại Thanh Hóa cung cấp, bà T đã thanh toán đủ số tiền mua căn hộ và đã tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho căn hộ chung cư số 1809 theo đúng trách nhiệm quy định tại Hợp đồng mua bán căn hộ đã ký. Hiện nay bà T chưa được cấp giấy chứng nhận là do không thực hiện đúng nghĩa vụ, chưa hoàn thành việc nộp các nghĩa vụ tài chính liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 7 Hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và thông tin do bà T cung cấp: Căn hộ S Tòa A phường Đ giữ nguyên hiện trạng như thời điểm thế chấp, không cải tạo sửa chữa so với thiết kế ban đầu. Hiện nay bà T là người trực tiếp quản lý, sử dung, không có tranh chấp với ai và không cho ai thuê, mượn.
Xét thấy: Hợp đồng thế chấp và thỏa thuận ba bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy Hợp đồng có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng và thỏa thuận ba bên đã ký.
Sau khi bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã đôn đốc nhắc nhở nhiều lần nhưng bà T vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vì vậy Ngân hàng đề nghị trong trường hợp bà Nguyễn Thị T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng S2, Ngân hàng S2 được yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản thế chấp của Bà Nguyễn Thị T để thu hồi nợ cho Ngân hàng S2 theo HĐ thế chấp đã ký để thu hồi nợ là có căn cứ.
[3]. Về án phí: Yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng S2 không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ : Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 BLTTDS; Khoản 2 Điều 108, Khoản 3 Điều 295, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 BLDS năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Khoản 1 Điều 184 Luật nhà ở năm 2023. Khoản 1 Điều 8 Nghị định 21/2021/NĐ – Cp ngày 19/3/2021; Điều 6; khoản 2 Điều 26; điểm b tiểu mục 1.3 mục 1 phần II Mục A Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 về quy định mức án phí, Lệ phí Toà án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1.
Buộc bà Nguyễn Thị T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 167/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.110800 ngày 30/07/2018. Tổng số tiền tạm tính đến 24/9/2024: 243.377.220 đồng. Trong đó, nợ gốc trong hạn: 227.000.000 đồng; Nợ gốc quá hạn: 4.000.000 đồng; Lãi trong hạn là: 11.678.275 đồng; Lãi quá hạn: 698.944 đồng.
Kể từ ngày 25/9/2024 bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo lãi suất nợ quá hạn của số nợ gốc chưa trả theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến ngày thanh toán hết khoản nợ gốc của khoản vay.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP S1 cso đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị T không thi hành hoặc thi hành không hết khoản nợ thì Ngân hàng S2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án. Cụ thể: tài sản thế chấp là căn hộ chung cư S tòa A tầng 18 chung cư T tại Lô C, khu T, phường Đ, Tp . theo Hợp đồng mua bán căn hộ số 146. TA/2018/HĐMB-Tecco.CNTH ngày 17/7/2018 được ký giữa bà T và Tổng công ty T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 167/2018/HĐTC-CN/SHB.110800 ngày 30/7/2018 và thỏa thuận ba bên về việc quản lý, xử lý tài sản bảo đảm là nhà ở hình thành trong tương lai đã ký giữa Ngân hàng S2, bà T và Tổng công ty T1 – Chi nhánh tại Thanh Hóa.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí sơ thẩm là: 12.501.000 đồng (mười hai triệu năm trăm lẻ một nghìn đồng- làm tròn số).
Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 6.250.000 đồng đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên lai tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001524 ngày 15/4/2024.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 46/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng SHB cho chị T vay tiền để mua căn hộ cc Tecco, chị T thế chấp bằng chính tài sản đã mua. Chị T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết với Ngân hàng
