TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/DS-ST Ngày: 22-4-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Điệp.
2. Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1033/2023/TLST-DS, ngày 14/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A). Địa chỉ: Số A T, khu đô thị M, T, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - chức vụ: Tổng Giám Đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T - chức vụ: Giám Đốc Ngân hàng N - chi nhánh huyện C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022).
Ông Nguyễn Quốc T uỷ quyền lại cho ông Nguyễn Thanh Đ – chức vụ: Trưởng Phòng tín dụng Ngân hàng N - chi nhánh huyện C, tỉnh Đồng Tháp (theo văn bản uỷ quyền ngày 05/3/2024), anh Đ có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:
Bà Trần Thị L có vay của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện C, tỉnh Đồng Tháp (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 30.000.000 đồng, theo Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số 2200702.02 ngày 02/01/2018, hai bên thoả thuận như sau:
- - Số tiền vay 30.000.000 đồng,
- - Mục đích vay tiêu dùng.
- - Thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày 03/01/2018 đến ngày 10/01/2020.
- - Định kỳ trả gốc phân 2 kỳ và trả lãi theo bảng phân kỳ.
- - Lãi suất vay 12,5%/năm, lãi quá hạn 150%/năm lãi suất trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm.
Quá trình thực hiệp hợp đồng tín dụng bà Trần Thị L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận trong sổ vay vốn.
Tính đến ngày 22/4/2024, bà L còn nợ Ngân hàng: gốc là 30.000.000 đồng, lãi trong hạn là 21.701.627 đồng, lãi quá hạn là 8.889.555 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 60.591.182 đồng.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, bà L có giao cho Ngân hàng N chi nhánh huyện C, tỉnh Đồng Tháp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH804736 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Trần Thị L ngày 19/12/2017 thuộc thửa số 436, bản đồ số 11, toạ lạc xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Theo đơn khởi kiện Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- - Buộc bà Trần Thị L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N (A) số tiền vay gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2023 là 27.426.799 đồng.
- - Yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 30/9/2023 theo sổ vay vốn đã ký cho đến khi giải quyết xong vụ án.
- - Yêu cầu xử lý tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH804736 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Trần Thị L ngày 19/12/2017 thuộc thửa số 436, bản đồ số 11, toạ lạc xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Trường hợp bà L trả hết nợ thì Ngân hàng N - chi nhánh huyện C sẽ trả lại tài sản nói trên.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng xác định yêu cầu như sau:
- - Buộc bà Trần Thị L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N (A) số tiền vay gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 30.591.182 đồng (lãi trong hạn là 21.701.627 đồng, lãi quá hạn là 8.889.555 đồng), tổng cộng gốc và lãi là 60.591.182 đồng (sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi mốt triệu, một trăm tám mươi hai nghìn).
- - Yêu cầu bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 23/4/2024 theo lãi suất thoả thuận trong sổ vay vốn đã ký đến khi thanh toán xong nợ.
- - Ngân hàng rút lại yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 436, tờ bản đồ số 11, diện tích 614,40m² toạ lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; ngân hàng tự nguyện trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị L.
* Đối với bị đơn bà Trần Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng bà L không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn là bà Trần Thị L.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn; Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH804736 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho bà Trần Thị L ngày 19/12/2017 thuộc thửa số 436, bản đồ số 11, toạ lạc xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Bản sao Báo cáo thẩm định ngày 03/01/2018; Bản sao dự án mua sắm sinh hoạt gia đình và kế hoạch trả nợ của bà Trần Thị L; Bản sao Báo cáo tình hình thu nhập của bà Trần Thị L; Bản sao Phương án sử dụng vốn ngày 23/12/2017; Bản sao bản phân kỳ trả nợ gốc và lãi; Bản sao Báo cáo đề xuất giải ngân ngày 02/01/2018; Bảng kê tính lãi; Bản sao Giấy Căn cước công dân và sổ hộ khẩu của bà Trần Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N (là tổ chức được phép hoạt động cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay) về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị L phải thanh toán số tiền vay gốc và lãi là 60.591.182 đồng (sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi mốt triệu, một trăm tám mươi hai nghìn) theo Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn Số 2200702.02 ngày 02/01/2018. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Do nơi cư trú bị đơn ở xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa ngày 22/4/2024, bà Trần Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có người đại diện tham gia phiên tòa, đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố hay các yêu cầu gì khác trong vụ án này, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa 436, tờ bản đồ số 11, diện tích 614,4m², loại đất ở 80m² và loại đất trồng cây lâu năm là 530,4m², toạ lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện, phạm vi uỷ quyền và phù hợp theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.
[5] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc bà Trần Thị L phải có trách nhiệm trả số tiền vay gốc và lãi suất tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/4/2024) tổng cộng là 60.591.182 đồng (sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi mốt triệu, một trăm tám mươi hai nghìn) theo Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số 2200702.02 ngày 02/01/2018; đồng thời, yêu cầu bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 23/4/2024 theo lãi suất thoả thuận trong Sổ vay vốn đã ký đến khi thanh toán xong nợ. Hội đồng xét xử nhận định:
[6] Ngân hàng được phép thực hiện hoạt động kinh doanh cấp tín dụng theo quy định tại Quyết định số 571/2002/QĐ-NHNN ngày 05 tháng 6 năm 2002 của Ngân hàng N1. Xuất phát từ việc bà Trần Thị L có nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích tiêu dùng của gia đình nên ngày 23/12/2017 bà L có xác lập phương án sử dụng vốn phục vụ nhu cầu đời sống và đề nghị số tiền vay từ Ngân hàng là 30.000.000 đồng. Ngày 02/01/2018, Ngân hàng (bên cho vay) và bà Trần Thị L (bên vay) đã ký kết thỏa thuận theo nội dung trong Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số 2200702.02 ngày 02/01/2018. Ngày 03/01/2018, bà L được Ngân hàng thống nhất cho vay với số tiền 30.000.000 đồng được thể hiện trong Báo cáo thẩm định do Ngân hàng xác lập và phê duyệt, theo đó Ngân hàng đồng ý cho bà L vay số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) với thời hạn vay là 24 tháng kể từ ngày Ngân hàng giải ngân đầu tiên, phương thức trả nợ gốc được phân làm 02 kỳ, phương thức trả lãi theo bảng phân kỳ, mức lãi suất thỏa thuận là 12,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và lãi chậm trả la 10%/năm.
[7] Căn cứ vào Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số 2200702.02 ngày 02/01/2018 cùng các tài liệu, chứng cứ kèo theo do nguyên đơn giao nộp đã thể hiện đúng như đơn khởi kiện và lời trình bày của phía nguyên đơn. Tại thời điểm giao dịch các bên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, căn cứ Điều 117 và Điều 463 Bộ luật dân sự xác định Hợp đồng xác lập giữa hai bên là hợp pháp và có giá trị pháp lý. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn bà Trần Thị L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi suất theo đúng như thỏa thuận trong Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn mà hai bên đã ký kết là đã vi phạm nghĩa vụ.
[8] Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án và thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thể hiện rõ nội dung vụ án và yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, cũng như các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện cho bị đơn được biết. Tuy nhiên, bị đơn bà Trần thị L không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không có ý kiến phản bác, yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác liên quan đến yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn nên đây được xem là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[9] Do đó, có cơ sở xác định hợp đồng giao kết giữa hai bên đương sự là có thật, nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả lại số tiền vay gốc theo thỏa thuận tại Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn với số tiền là 30.000.000 đồng nêu trên là có căn cứ nên chấp nhận.
[10] Đối với yêu cầu về lãi suất, căn cứ Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số 2200702.02 ngày 02/01/2018, Báo cáo thẩm định đã được ngân hàng phê duyệt và các tài liệu chứng cứ khác đã thể hiện giữa Ngân hàng và bà L có thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng với lãi suất vay là 12,5%/năm, lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn và lãi chậm trả lãi là 10%/năm.
[11] Căn cứ vào Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, lãi và lãi suất thoả thuận trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi. Theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 (công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao), khách hàng vay ngoài phải trả khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
[12] Theo lời trình bày của phía Ngân hàng thì từ khi vay đến nay, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc cũng như lãi suất theo bảng kỳ mà hai bên đã thỏa thuận. Căn cứ vào bảng kê tính lãi ngày 22/4/2024 của Ngân hàng thì tính đến thời điểm xét xử (ngày 22/04/2024), bà L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng với tổng số tiền là lãi là 30.591.182 đồng; trong đó, lãi trong hạn là 21.701.627 đồng, lãi quá hạn là 8.889.555 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn xác định số tiền lãi và lãi suất quá hạn như đã nêu trên đến thời điểm xét xử sơ thẩm là đúng với sự thỏa thuận của các đương sự và cũng phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[13] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 23/4/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn đã ký đến khi thanh toán xong nợ là phù hợp nên chấp nhận.
[14] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N. Buộc bà Trần Thị L phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 30.591.182 đồng (trong đó, lãi trong hạn là 21.701.627 đồng, lãi quá hạn là 8.889.555 đồng), tổng cộng tiền gốc và lãi suất là 60.591.182 (sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi mốt nghìn, một trăm tám mươi hai) đồng. Bà Trần Thị L còn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 23/4/2024 theo lãi suất thoả thuận trong Sổ vay vốn 2200702.02 ngày 02/01/2018 đến khi thanh toán xong nợ.
[15] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[16] Đối với lời trình bày của Ngân hàng về việc tự nguyện trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH804736 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ đã cấp cho bà Trần Thị L ngày 19/12/2017 thuộc thửa số 436, tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 63, Điều 147, khoản 2 Điều 92, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 483 Bộ của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
- - Buộc bà Trần Thị L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N (A) số tiền vay gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 30.591.182 đồng (trongđó, lãi trong hạn là 21.701.627 đồng, lãi quá hạn là 8.889.555 đồng), tổng cộng gốc và lãi là 60.591.182 (sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi mốt nghìn, một trăm tám mươi hai) đồng.
- - Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn số 2200702.02 đề ngày 02/01/2018.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH804736 thuộc thửa số 436, tờ bản đồ số 11, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cho bà Trần Thị L.
3. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 436, tờ bản đồ số 11, diện tích 614,40m², loại đất ở là 80m², loại đất trồng cây lâu năm là 530,4m², toạ lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do bà Trần Thị L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Về án phí:
- - Buộc bị đơn bà Trần Thị L phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.029.000 đồng (ba triệu không trăm hai mươi chín nghìn đồng).
- - Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.435.000 (một triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000808 ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạ 15 ngày kể từ ngày tuyen án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 46/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. - Buộc bà Trần Thị Lắm có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) số tiền vay gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 30.591.182 đồng (trongđó, lãi trong hạn là 21.701.627 đồng, lãi quá hạn là 8.889.555 đồng), tổng cộng gốc và lãi là 60.591.182 (sáu mươi triệu, năm trăm chín mươi mốt nghìn, một trăm tám mươi hai) đồng.
