Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS-PT

Ngày: 16/4/2024.

V/v “Tranh chấp quyền sử

dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đại Long.

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến và Ông Phạm Trường Du.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Đạt T, sinh năm 1986 (có mặt)
    Chị Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 1989 (có mặt)
    Cùng địa chỉ: Xóm Hát, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
  2. Bị đơn:
    Ông Cao Duy T1, sinh năm 1956 (có mặt)
    Bà Viên Thị L, sinh năm 1961 (vắng mặt)
    Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, N, Thanh Hóa
    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
    Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1995 (có mặt)
    Địa chỉ: Số E, ngõ A Pháo Đài L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
    (Hợp đồng ủy quyền lập ngày 10/11/2022 và Quyết định v/v cử người đại diện theo ủy quyền cho đương sự lập ngày 28/11/2022).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1974 (vắng mặt)
    • Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1975 (có mặt)
    Cùng địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện Đ, tỉnh Kon Tum
    • Anh Đinh Văn L1, sinh năm 1987 (vắng mặt)
    • Chị Trần Thị T3, sinh năm 1988 (có mặt)
    Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Người làm chứng:
    • Ông Viên Hữu C1, sinh năm 1953 (có mặt)
      Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa
    • Anh Lê Văn T4, sinh năm 1982 (có mặt)
      Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện N, Thanh Hóa
    • Ông Viên Hữu T5, sinh năm 1961 (vắng mặt)
    • Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1966 (vắng mặt)
    Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã A, huyện M, Gia Lai
    • Ông Lê Văn T6, sinh năm 1956 (có mặt)
      Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa
    • Anh Lê Văn C2, sinh năm 1972 (có mặt)
      Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á bày:

Ngày 31/03/2022 giữa anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á với anh Đinh Văn L1 và chị Trần Thị T3 đã kết ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, đo vẽ năm 2006. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa diện tích 2.692,0m² đất ở. Ngày 12/04/2022 thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, đo vẽ năm 2006 được đính chính sang tên Anh Hoàng Đạt T - Căn cước công dân số [...] và vợ là chị Lê Thị Ngọc Á - Căn cước công dân số [...]. Địa chỉ: Xóm H, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa theo số hồ sơ 036.10.13. H56-220404-0015. Ngày 18/4/2022 do anh T, chị Á có nhu cầu sử dụng đất nên đã nhờ đội đo đạc của huyện về kiểm tra hiện trạng lô đất và cắm lại mốc giới. Quá trình kiểm tra thì anh T, chị Á thấy bị thiếu hụt diện tích đất nên đã làm đơn tường trình đến UBND xã T. Ngày 27/4/2022 anh T, chị Á phối hợp với UBND xã T và Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện N đã tiến hành đo đạc tiến hành xác minh mốc giới, ranh giới diện tích thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2006 và các thửa liền kề thửa số 199 và 190, tờ bản đồ số 32. Sau khi đo đạc xác minh diện tích bị thiếu hụt là 495,7m². Trong đó diện tích tiếp giáp với gia đình ông Cao Duy T1 (phía đông) giảm so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) là 471,1m² (bao gồm: Cạnh phía bắc xây tường rào vượt mốc 12,7m, cạnh phía nam vượt mốc 6,2m, cạnh phía đông là 50,6m, cạnh phía tây 49,85m (có sơ đồ kèm theo), cạnh phía bắc giáp đường bê tông thôn diện tích giảm do mở rộng hành lang đường là 24,6m². Phía giáp thửa đất số 199 không có sai lệch so với bản đồ địa chính và

GCNQSDĐ. Ngày 25/5/2022 UBND xã T đã mời hai bên đến hoà giải nhưng hai bên vẫn không thoả thuận được với nhau. Vì vậy, anh T, chị Á đề nghị Toà án nhân dân huyện Nông Cống giải quyết buộc ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 471,1m² đất ở thuộc thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2006.

Quá trình giải quyết vụ án anh T và chị Á yêu cầu ông T1 và bà L phải tháo dỡ toàn bộ khu chăn nuôi và cây trồng trái phép trên đất, hoàn trả lại diện tích đất đang lấn chiếm 420,8m² cho anh T và chị Á.

Tại Đơn xin thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 01/11/2023 anh T và chị Á yêu cầu ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L phải tháo dỡ toàn bộ công trình, khu chăn nuôi đã xây dựng trên đất lấn chiếm đồng thời thu hoạch toàn bộ cây cối và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 440,5m² cho gia đình anh T và chị Á.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh T và chị Á đã rút bớt yêu cầu khởi kiện là 107,4m² đất lấn chiếm. Còn yêu cầu ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L phải tháo dỡ toàn bộ công trình, di rời tài sản khu chăn nuôi đã xây dựng trên đất lấn chiếm đồng thời thu hoạch toàn bộ cây cối và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 333.1m² cho gia đình anh T và chị Á.

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L trình bày:

Hộ gia đình ông, bà được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số AI 066159 ngày 02/9/2008 mang tên ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L tại thửa đất số 190, tờ bản đồ số 32, diện tích 3.730m², địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Do đó, toàn bộ diện tích đất ông bà đang sử dụng hiện nay phù hợp với GCNQSDĐ đã được cơ quan có thẩm quyền cấp.

Về nguồn gốc đất: Gia đình ông đã sử dụng ổn định phần diện tích đất mà nguyên đơn cho rằng ông đang lấn chiếm được ông sử dụng từ năm 1982 ông mua đất của ông Hoàng Văn H (đã mất) địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Khi ông mua đất đã có ao và có hàng rào trúc trên bờ ao, cách mép ao khoảng gần 1m. Đến năm 1986 nhà nước có chủ trương đo đạc lập bản đồ 299 nên hộ gia đình ông được cấp GCNQSDĐ. Đến năm 2006, nhà nước có chủ trương đạc lại bản đồ để cấp lại GCNQSDĐ thì ông đã nộp lại GCNQSDĐ cũ và làm thủ tục được cấp mới. Đến năm 2008 gia đình ông được cấp GCNQSDĐ. Đến năm 2010 ông phá hàng rào trúc và xây tường rào nhưng không có sự chứng kiến của ông T2 và bà V. Tường rào phía bắc vượt mốc so với bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2006 và GCNQSDĐ là 12,8m. Diện tích đất theo hiện trạng là 4.084,6m2, diện tích theo GCNQSDĐ là 3.730m². Từ khi được cấp đổi GCNQSDĐ ông không bị nhà nước thu hồi phần diện tích nào, không có đăng ký biến động đất đai và cũng không có tranh chấp đất đai với các thửa đất liền kề nên ông thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Đình C.

Hiện trạng tài sản trên đất đang tranh chấp gồm có cây dừa, ao chăn nuôi do ông trồng và cải tạo đã từ rất lâu, chỉ có bức tường gạch là ông xây khoảng

năm 2010 - 2011, bức tường ông xây nằm ngay cây dừa ông trồng để phân định ranh giới thửa đất của ông với thửa đất của ông L1 và bà T3 (là chủ sử dụng đất chuyển nhượng cho anh T, chị Á). Việc ông chứng minh được tài sản nằm trên đất của ông đã lâu thể hiện chủ quyền của ông đối với phần đất đó.

Thửa đất của hộ gia đình ông và hộ gia đình anh L1 chị T3 từ trước tới nay chung sống với nhau hòa thuận, hai bên gia đình không có tranh chấp, khiếu kiện gì với nhau. Đến tháng 3/2022 anh L1, chị T3 mới chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T và chị Á. Từ khi anh T, chị Á mua đất đến nay, ông không có hoạt động xây dựng lấn chiếm nào trên đất của anh T, chị Á. Việc khởi kiện ông lấn chiếm đất là không có căn cứ. Vì vậy đề nghị Quý Tòa bác yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Đình C trình bày: Nguồn gốc đất ông T1, bà L đã sử dụng trên 30 năm, kèm theo các tài liệu chứng cứ, biên bản xác minh phía bị đơn đã giao nộp cho Tòa án. Trong quá trình sử dụng đất không có ai tranh chấp, ông T1 và bà L cũng không bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính về hành vi vi phạm đất đai. Yêu cầu nguyên đơn xác định ranh giới 2 thửa đất, chứng minh tài sản trên đất là của nguyên đơn, chỉ ra được thời gian ông T1 lấn chiếm khi nào. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc thiếu diện tích đất là không có căn cứ, ông T1 và bà L không lấn chiếm đất của anh T, chị Á nên ông không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đinh Văn L1 và chị Trần Thị T3 trình bày: Vào tháng 4/2021 anh L1 và chị T3 có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Nguyễn Minh T2 và chị Nguyễn Thị V, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2006 có diện tích là 2.692m² đất ở và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCNQSDĐ số CS 1062 ngày 20/5/2021. Ngày 12/4/2022 anh L1 và chị T3 đã chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích đất này cho anh T và chị Á và làm thủ tục chuyển nhượng đính chính theo số hồ sơ 0361013 H56-220404-0015. Khi bán cho anh T, chị Á thì anh L1 và chị T3 không đo đạc lại mà chỉ dẫn mốc giới bằng tay. Hiện trạng đất khi bán cho anh T và chị Á đã thuê người san lấp, cắt cây trên đất, đất không có tường rào xung quanh. Sau khi anh L1 chị T3 đã bán đất cho anh T chị Á thì anh T, chị Á đã đến UBND xã T xin trích đo lại thửa đất thì thấy diện tích đo thực tế bị thiếu so với trên bản đồ. Gia đình ông T1 có xây dựng tường rào trên thửa đất số 191, lấn chiếm diện tích là 471,1m² đất ở, trong đó cạnh phía bắc vượt mốc giới sang 12,7m. Quan điểm của anh L1 và chị T3 đồng ý với yêu cầu của anh T và chị Á, yêu cầu ông T1 và bà L phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho anh T và chị Á.

- Anh Nguyễn Minh T2 và chị Nguyễn Thị V trình bày:

Vào cuối năm 2000 anh, chị nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Viên Hữu T5 mảnh đất tại thôn T, xã T. Mảnh đất hiện nay có tranh chấp. Khi chuyển nhượng có đại diện chính quyền địa phương chứng kiến gồm ông

Văn T6, ông Lê Văn C2 và có sự chứng kiến của ông Cao Duy T1. Khi nhận bàn giao đất hai bên xác nhận ranh giới là bờ rào trúc và mấy cây bạch đàn. Bên phần bờ trúc, phần ông T1 có 1 cái ao và đường đi của nhà ông T2 và bà V. Sau khi mua hai bên không có tranh chấp. Đến năm 2008 anh, chị vào T làm ăn lập nghiệp. Sau khi anh, chị vào T thì ông T1 phá hàng rào trúc làm tường rào anh, chị không biết. Đến năm 2021 anh, chị chuyển nhượng cho ông Đinh Văn L1 và bà Trần Thị T3 toàn bộ quyền sử dụng đất đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Hiện nay hàng rào trúc cũ không còn, do thời gian đã lâu nên bà không xác định được hàng rào trúc cũ nằm ở vị trí nào. Nếu có căn cứ bà đề nghị ông T1 và bà L phải tháo dỡ công trình, thu hoạch cấy cối và trả lại diện tích đất lấn chiếm 440,5m² cho ông T và bà Á.

* Người làm chứng:

- Ông Viên Hữu T5 và bà Nguyễn Thị L2 trình bày:

Thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32 trước đây do gia đình ông sử dụng. Ranh giới là hàng rào trúc. Thửa đất của ông trồng mía, đậu, lạc. Xung quanh thửa đất là bờ rào trúc còn thửa đất của ông T1 có ao.

Vợ chồng ông ở thửa đất giáp thửa đất của ông Cao Duy T1 từ năm 1986. Thửa đất này ban đầu là của ông H (đã mất) bỏ lại không làm. Sau đó bố của ông là ông Nguyễn Văn C3 mua cho ông, có địa chính (tên là B - địa chính xã T, đã mất) đo đạc. Phần đất của ông T1 chỉ đến hàng trúc còn qua hàng trúc là đất của vợ chồng ông.

Năm 2000, vợ chồng ông vào Gia Lai lập nghiệp. Khoảng nửa cuối năm 2000 vợ chồng ông về N để bán đất cho ông Nguyễn Minh T2. Khi bán đất có cả các ban ngành chính quyền xã T và ông Cao Duy T1 tham gia chứng kiến. Có ông C3 làm Bí thư thôn và ông T7 trưởng thôn làm thư ký. Trong quá trình sử dụng đất gia đình ông không có vi phạm, không có tranh chấp với ai.

Khoảng tháng 3, tháng 4 năm 2023, ông T1 vào xin chữ ký xác nhận của vợ chồng ông nhưng vợ chồng ông không cho vì vợ chồng ông đã bán đất từ lâu nên không liên quan. Khi bán đất cũng có ông T1 chứng kiến.

Ông T5 và bà L2 cam kết nội dung trên là đúng sự thật. Đề nghị các cơ quan pháp luật giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ông Lê Văn T6 trình bày: Khoảng năm 2000- 2001, ông Viên Hữu T5 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh T2. Ông là người viết giấy mua bán chuyển nhượng cho hai bên ký. Đồng thời ông là người ký làm chứng với tư cách đại diện cho các bên để làm giấy tờ. Ông không nhớ diện tích chuyển nhượng là bao nhiêu, chỉ làm chứng ranh giới chuyển nhượng. Phía tiếp giáp với ông T1 lấy hàng rào trúc làm ranh giới, phía tiếp giáp với ông Viên H1 Ban lấy bờ ao làm ranh giới, phía Bắc là giáp đường giao thông, phía nam giáp ruộng.

- Ông Lê Văn C2 trình bày: Từ năm 2000, ông làm công an viên công an xã T. Khoảng năm 2001, ông Viên Hữu T5 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh T2. Tuy nhiên lúc chuyển nhượng thì ông T2 không có ở

nhà mà đi làm ăn xa. Ở nhà có bố ông T2 là ông Nguyễn Minh Q mời ông đến chứng kiến việc chuyển nhượng. Ông cũng không nhớ rõ diện tích chuyển nhượng là bao nhiêu. Chỉ nhớ các bên có thỏa thuận về ranh giới thửa đất của ông T5 với ông T1 là hàng rào trúc. Còn ranh giới giữa đất của ông T2 với đất của ông B1 và các hướng khác lấy bờ ao, bờ ruộng, lũy tre làm ranh giới. Giấy chuyển nhượng viết tay ông không rõ ai lập nhưng ông có ký để chứng kiến việc chuyển nhượng. Thành phần tham gia buổi chuyển nhượng gồm có: Ông, ông Nguyễn Minh Q, ông Lê Văn T6, ông Nguyễn Văn C3 (là bố đẻ của bà Nguyễn Thị L2).

Ông Viên Hữu C1 trình bày: Ông T8 và ông Cao Duy T1 có mối quan hệ thân thiết với nhau là anh em họ hàng và ở cùng thôn nên khi nhà ai có công việc thì sẽ sang giúp đỡ. Thửa đất số 190 trước đây là của ông Hoàng Văn H (đã mất). Khoảng năm 1978 - 1979 ông H nhờ ông và nhiều người khác sang đào ao gồm: Ông Hoàng Văn B2 (em ruột của ông Hoàng Văn H - chủ đất), ông Nguyễn Đình D (đã mất), ông Trương Văn Đ (đã mất), ông Cao Xuân T9 (là anh trai của ông Cao Duy T1), ông Hoàng Văn B3 (em ruột của ông H, đã mất).

Vị trí đào ao là hiện nay ông Cao Duy T1 đang sử dụng. Khi các ông sang đào ao thì thấy trên thửa đất đã có một hố nhỏ. Từ cái hố đó các ông tiến hành đào ao. Khi đào ao xong thì ông không nhớ chính xác diện tích là bao nhiêu mà chỉ nhớ diện tích khoảng 40 - 50m². Đất đào ao thì các ông đổ xung quanh bờ ao phạm vi 1,5 - 2m. Khi đó chưa có tường rào, chưa có ranh giới giữa 2 thửa đất. Ông cam đoan bờ ao phía bắc và phía tây vẫn giữ nguyên hình dạng như lúc ông đào, không có gì thay đổi. Sau này ông T1 mua đất của ông H có nhờ ông sang đào mở rộng ao như hiện nay. Thời gian ông T1 nhờ ông đào ông không nhớ chính xác.

- Ông Lê Văn T4 trình bày: Ông và ông Cao Duy T1 có mối quan hệ quen biết. Ông làm nghề xây dựng nên khi ông T1 cần xây dựng đã nhờ ông xây dựng. Khoảng tháng 3, tháng 4 năm 2010, ông Cao Duy T1 nhờ ông dọn dẹp và xây cho ông T1 bờ tường gạch. Khi ông đến thửa đất của ông T1 để thực hiện xây dựng thì hiện trạng thửa đất có hàng rào trúc dài khoảng hơn 30m, nằm ngay trên bờ ao. Làm cùng ông còn có 4 người nữa. Các ông dọn dẹp, phá hàng rào trúc xong căng dây để xây tường gạch. Bức tường hiện đang vẫn nguyên hiện trạng khi các ông xây, nằm trên hàng rào trúc cũ.

Tại phiên tòa sơ thẩm anh T và chị Á xét thấy diện tích đất đang sử dụng bị thiếu 2.692m² - (2.157,6m² + 93,9m²) = 440,5m² (gồm Phần diện tích đất đang tranh chấp là 420,8m² và phần diện tích do ông T1 đang sử dụng không đúng với bản đồ địa chính là 19,7m²). Ông T và bà Á đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T1 và bà L phải tháo dỡ các công trình xây dựng và thu hoạch cây cối nằm trên phần đất lấn chiếm gồm: Tường rào, khu chăn nuôi, thu hoạch toàn bộ cây trồng của ông T1 và trả lại cho gia đình anh T và chị Á diện tích đất lấn chiếm là 440,5m² thuộc thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32 bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2006, địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Đình C trình bày: Diện tích đất đang tranh chấp được ông T1 sử dụng là 37 năm. Ranh giới giữa các bất động sản không có gì thay đổi. Căn cứ khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông T1 và bà L phải tháo dỡ các công trình xây dựng và thu hoạch cây cối nằm trên phần đất lấn chiếm để trả lại cho gia đình ông T và bà Á diện tích đất 440,5m²; đề nghị Tòa án công nhận hiện trạng sử dụng đất, phần diện tích 4.084,6m² thuộc quyền sở hữu của ông T1 và bà L.

Tại phiên tòa các đương sự khác giữ nguyên quan điểm của mình như đã trình bày ở trên.

Kết quả thẩm định, định giá tài sản của cấp sơ thẩm thể hiện:

* Theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và Sơ đồ trích đo phần diện tích đất tranh chấp của Văn phòng Đ chi nhánh huyện N của thửa đất số 190 và 191 tờ bản đồ số 32 đo vẽ năm 2006 xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xác định như sau:

- Phần diện tích đất ông Hoàng Đạt T và bà Lê Thị Ngọc Á đang quản lý, sử dụng (phần không tranh chấp): Thửa đất số 191 có diện tích: 2.239,1m²:

Phía Bắc: 56,8m; phía Nam: 29,7m; phía Đông: 31,5m + 15,1m + 3,5m + 10,7m; phía Tây: 14,9m + 18,9m + 34,3m.

- Phần diện tích đất ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L đang quản lý, sử dụng: Thửa đất số 190 có diện tích: 4.084,6m²:

Phía Bắc: 31,8m + 12,8m; phía Đông: 28,9m + 9,8m + 8,9m + 2,2m + 3,8m + 40,8m; phía Nam: 15,6m + 7,2m + 19,0m + 5,0m + 4,8m + 20,4m + 11,7m; phía Tây: 31,5m + 15,1m + 3,5m + 10,7m.

- Phần diện tích đất đang tranh chấp (đang nằm trên phần diện tích ông T1 đang quản lý, sử dụng) có diện tích: 420,8m².

Phía Bắc: 12,8m; phía Nam: 5,8m; phía Đông: 48,3m; phía Tây: 31,5m + 15,1m.

* Phần công trình xây dựng trên diện tích 420,8m² đất đang tranh chấp: Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản định giá tài sản ngày 05/01/2023 xác định:

- Về diện tích đất tranh chấp định giá là 300.000đ/m² đất ở.

- Tài sản trên phần đất tranh chấp gồm có:

+ Chuồng trại chăn nuôi xây bằng gạch cốm, có diện tích 114,8m² trong đó nằm trên phần đất tranh chấp là 89m² trị giá 433.000đ/m² x 89m² = 38.537.000₫.

+ Tường rào phía Tây trị giá 6.011.400đ, tường rào phía Bắc trị giá 1.651.200₫.

+ Phần ao có diện tích 45,0m², có các cạnh phía bắc: 3,7m; cạnh phía tây: 14,9m; cạnh phía nam: 2,4m; cạnh phía đông: 15,8m. Có phần móng dày 40cm trị giá 6.029.520đ và phần móng dày 22cm trị giá 440.457₫.

+ 17 cây bưởi loại C trị giá 3.570.000đ; 02 cây na loại C trị giá 198.000₫; 08 cây chuối loại B trị giá 480.000đ; 22 cây chuối loại A trị giá 220.000đ; 01 cây dừa trị giá 457.000đ; 15 cây táo trị giá 1.800.000đ.

Tổng giá trị tài sản trên đất là 59.393.200đ. (Năm mươi chín triệu ba trăm chín mươi ba nghìn hai trăm đồng).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Căn cứ vào các khoản 1, 4, 5, 9, 16, 24 Điều 3; khoản 3 Điều 17; khoản 7 Điều 166; khoản 1, khoản 5 Điều 170; Điều 202; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Đạt T và bà Lê Thị Ngọc Á:

- Buộc ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L phải tháo dỡ công trình xây dựng và thu hoạch cây trồng trên phần diện tích đất lấn chiếm gồm: Chuồng trại chăn nuôi xây bằng gạch cốm, có diện tích 114,8m² trong đó nằm trên phần đất tranh chấp là 89m²; tường rào phía tây dài 31,5m + 15,1m; tường rào phía bắc dài 12,8m; 17 cây bưởi loại C; 02 cây na loại C; 08 cây chuối loại B; 22 cây chuối loại A; 15 cây táo.

- Buộc ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L trả lại cho ông Hoàng Đạt T và bà Lê Thị Ngọc Á diện tích đất là 440,5m² tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Phần đất có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía bắc giáp đường thôn có chiều dài 12,8m; phía đông giáp thửa đất số 190 của ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L có chiều dài: 33,4m + 14,9m + 1,1m + 8,1m + 9,4m; phía nam giáp thửa đất số 291 có chiều dài 0,8m; phía tây giáp phần diện tích đất của thửa đất số 191 của ông Hoàng Đạt T và bà Lê Thị Ngọc Á có chiều dài: 31,5m + 15,1m + 3,5m + 10,7m.

(Có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và mảnh trích đo phần diện tích đất tranh chấp của Văn phòng Đ chi nhánh huyện N kèm theo).

Ngoài ra Bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa có ý kiến: Về kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự quyết định theo hướng:

Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 244; khoản 2 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng:

1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút 107,4m² đất lấn chiếm.

2. Bác kháng cáo của ông Cao Duy T1 về công nhận ranh giới và diện tích sử dụng đất của ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L theo hiện trạng đang sử dụng là 4.084m². Sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

3. Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ NQ 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để xem xét và quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; xét kháng cáo của bị đơn và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

  1. Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Ngày 31/03/2022 giữa ông Hoàng Đạt T và bà Lê Thị Ngọc Á với ông Đinh Văn L1 và bà Trần Thị T3 đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, đo vẽ năm 2006. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N diện tích 2.692,0 m² đất ở. Ngày 12/04/2022 thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, đo vẽ năm 2006. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N được đính chính sang tên anh Hoàng Đạt T và vợ là chị Lê Thị Ngọc Á theo số hồ sơ 036.10.13. H56-220404-0015, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCNQSDĐ số CS 1062 ngày 20/5/2021. Giáp ranh với thửa đất của anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á là thửa đất của ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L theo GCNQSDĐ số: AI 066159, vào sổ số: CH 0035, ngày cấp 02/9/2008. Quá trình sử dụng đất các bên phát sinh tranh chấp và đã được UBND xã T, huyện N hòa giải nhưng không thành nên anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á khởi kiện yêu cầu ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L phải trả lại 471,1m² đất. Tại Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đề ngày 01/11/2023 và tại phiên tòa anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á yêu cầu ông T1 và bà L phải tháo dỡ công trình xây dựng và cây trồng trên đất lấn chiếm và trả lại 440,5m² đất cho anh T và chị Á. Do đó, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về quyền sử dụng đất”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 36, điểm a và c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    - Người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo Điều 227 và Điều 229 BLTTDS.

  2. Về tố tụng: Xét tính hợp pháp của kháng cáo:

    Ngày 26/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 08/01/2024 bị đơn ông Cao Duy T1 kháng cáo đề

    nghị Tòa án phúc thẩm sữa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời công nhận ranh giới và diện tích sử dụng đất của ông T1 và bà L theo hiện trạng đang sử dụng là 4.084m². Người kháng cáo thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại các Điều 273; Điều 275 và Điều 276 BLTTDS. Nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

    Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện ủy quyền của bị đơn bổ sung kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm thu thập tài liệu chứng cứ:

    1. Hồ sơ, thủ tục cấp GCN QSDD số DB 654330 do văn phòngĐKĐĐ-Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 20/5/2021 đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ só 32, diện tích 2.692m², vị trí tại thôn T, xã T huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

    2. Hồ sơ, thủ tục cấp GCN QSDD số AI 0666159 do UBND huyện N cấp ngày 02/9/2008 đối với thửa đất số 190, tờ bản đồ só 32, diện tích 3.730m², vị trí tại thôn T, xã T huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

    3. Hồ sơ, thủ tục cấp GCN QSDD số AI 066129 do UBND huyện N cấp ngày 02/9/2008 đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ só 32, diện tích 2.692m², vị trí tại thôn T, xã T huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

    4. Thu thập ý kiến của cơ quan chuyên môn, cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai gồm: UBND xã T, UBND huyện N, Phòng tài nguyên và môi trường huyện N, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T để làm rõ việc chỉnh lý bản đồ địa chính từ bản đồ 299 sang bản đồ địa chính năm 2006 (có hồ sơ chỉnh lý kèm theo) theo quy định tại thông tư số 29/2004/TT-BTNMT.

  3. [3]. Xét kháng cáo của bị đơn ông Cao Duy T1 đã kháng cáo và kháng cáo bổ sung:

    Theo đơn kháng cáo đề ngày ngày 08/01/2024 nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm sữa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời công nhận ranh giới và diện tích sử dụng đất của ông T1 và bà L theo hiện trạng đang sử dụng là 4.084m².

    HĐXX xét thấy:

    * Về nguồn gốc, vị trí, diện tích của thửa đất số 190 và thửa đất số 191, tờ bản đố số 32 (bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2006):

    - Căn cứ vào công văn số 132a/UBND ngày 10/11/2023 của UBND xã T, Biên bản xác minh ngày 05/01/2023, Công văn số 31/BC-UBND ngày 15/4/2024 và qua kiểm tra hồ sơ địa chính tại UBND xã T nguồn gốc 02 thửa đất trên cụ thể như sau:

    - Căn cứ bản đồ 299 xã T đo vẽ năm 1986 cho thấy:

    + Vị trí thửa đất hộ gia đình ông Cao Duy T1 đang sử dụng có số thửa 408, tờ bản đồ số 06, diện tích thửa đất là 1.888m² đất thổ cư.

    + Vị trí thửa đất của anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á đang sử dụng có số thửa 409, tờ bản đồ số 06, diện tích thửa đất là 2.336m² đất thổ cư.

    - Căn cứ sổ giao đất lâu dài cho các hộ gia đình năm 1994 xã T cho thấy:

    + Gia đình ông Cao Xuân T10 được UBND huyện giao thửa đất số 408, tờ bản đồ số 6, bản đồ 299 xã T, tổng diện tích 1.888m² trong đó: đất ở 200m², đất thổ cư 1.688m². GCNQSDĐ số E 0271693.

    + Gia đình ông Viên Hữu T5 (là chủ sử dụng thửa đất trước đây tại thửa đất của ông Hoàng Đạt T và bà Lê Thị Ngọc Á hiện đang sử dụng). Gia đình ông T5 được UBND huyện giao thửa đất số 409, tờ bản đồ số 06, bản đồ 299 xã T, tổng diện tích 2.336m² trong đó: đất ở 200m², đất thổ cư 2.136m². GCNQSDĐ số E 0271683.

    - Căn cứ bản đồ địa chính xã T đo vẽ năm 2006 và Sổ mục kê đất đai năm 2006 xã T:

    + Ngày 02/9/2008, hộ gia đình ông Cao Xuân T10 được UBND huyện N cấp đổi GCNQSDĐ tại thửa số 190, tờ bản đồ số 32 (bản đồ địa chính xã T, đo vẽ năm 2006), diện tích 3.730m² đất ở tại nông thôn. Diện tích tăng so với giấy chứng nhận cũ năm 1994 là 1.842m² đất ở GCNQSDĐ số: AI 066159, vào sổ số: CH 0035, ngày cấp 02/9/2008.

    + Ngày 02/9/2008, hộ gia đình ông Nguyễn Minh T2 và bà Nguyễn Thị V (là người nhận chuyển nhượng thửa đất từ gia đình ông Viên Hữu T5) được UBND huyện N cấp đổi GCNQSDĐ tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32 (bản đồ địa chính xã T, đo vẽ năm 2006), diện tích 2.692m² đất ở tại nông thôn. Diện tích tăng so với giấy chứng nhận cũ năm 1994 là 356m² đất ở. GCNQSDĐ số: AI 066129, vào sổ số: 1499, ngày cấp 02/9/2008.

    Đến ngày 16/4/2021, ông Nguyễn Minh T2 và bà Nguyễn Thị V chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho ông Đinh Văn L1 và bà Trần Thị T3. Được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp GCNQSDĐ số DB 654330, vào sổ số CS 1062, ngày cấp 20/5/2021.

    Ngày 31/03/2022, ông Đinh Văn L1 và bà Trần Thị T3 đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á. Trích ký ngày 12/04/2022 theo GCNQSDĐ số: DB 654330, vào sổ số: 1062, ngày cấp 20/5/2021.

    UBND xã T cho biết Diện tích của 2 thửa đất có sự biến động qua các thời kỳ từ năm 1986 đến năm 2006 đều tăng. Thủ tục cấp giấy CNQSD đất của 2 thửa đúng quy trình, các chủ sử dụng không có ý kiến gì.

    Theo công văn số 31/BC-UBND xã T ngày 15/4/2024 diện tích đất 82,3 m² theo biên bản đo đạc ngày 15/4/2024 của thửa đất số 191 hiện là đất UBND xã quản lý không có tranh chấp.

    * Xét các ý kiến của của các đương sự trình bày:

    + Năm 1986, ông T5 và ông T10 xác định ranh giới giữa hai thửa đất số 408 và 409 là hàng rào trúc. Năm 2000 ông T5 và bà L2 chuyển nhượng thửa

    đất cho ông T2 và bà V cũng xác định ranh giới là hàng rào trúc, các bên và ông T10 đều thống nhất lấy hàng rào trúc làm ranh giới. Năm 2008 ông T2 và bà V vào T làm ăn lập nghiệp. Đến năm 2010 ông T10 phá hàng rào trúc để xây tường rào, khi đó ông T2 và bà V không có mặt tại địa phương, không được chứng kiến để hai bên thống nhất lại ranh giới. Đến năm 2021 ông T2 và bà V chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông L1 và bà T3. Ngày 31/03/2022 ông L1 và bà T3 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anhThông và chị Á.

    + Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định theo sơ đồ hiện trạng thì hàng rào trúc cũ không còn nhưng phần ao có diện tích 45m² bờ ao vẫn giữ nguyên không có gì thay đổi và khoảng cách từ góc bờ ao phía bắc giáp thửa đất của ông T10 đến đường thôn dài 32,3m. Còn tường rào phía tây (theo ông T10 trình bày là hàng rào trúc cũ) dài 32,3 + 15,1 = 47,4m. Hiện trạng khoảng cách từ tường rào đến mép ao phía tây là 3,4m.

    + Ông Lê Văn T4 là người được ông T10 nhờ dọn dẹp hàng rào trúc để xây tường rào trình bày hàng rào trúc cũ dài hơn 30m nằm ngay trên bờ ao và ông Viên Hữu C1 là người được ông H nhờ đào ao khẳng định có diện tích khoảng 40 - 50m², bờ ao phía tây và phía bắc vẫn giữ nguyên hiện trạng như lúc ban đầu. Ông T10 cũng công nhận khi ông mua đất đã có ao và có hàng rào trúc trên bờ ao, cách mép ao khoảng gần 1m (nhưng hiện trạng cách tường rào đến mép ao là 3,4 m).

    Như vậy ranh giới giữa hai thửa đất là hàng rào trúc cũ có chiều dài 32,3m nằm ngay trên bờ ao của phần ao có diện tích 45m² theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất là phù hợp. Hiện nay hàng rào trúc cũ không còn nhưng bờ ao vẫn còn. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự xác định hàng rào trúc cũ nằm ngay trên bờ ao là ranh giới giữa 2 thửa đất là đúng với thực tế.

    * Xét đơn đề nghị xem xét thẩm định lại của ông Cao Duy T1 vào ngày 20/3/2024 và căn cứ vào kết quả đo đạc lại của Văn phòng Đ chi nhánh huyện N ngày 15/4/2024 cụ thể như sau:

    Về diện tích đo đạc thực tế thể hiện theo sơ đồ hiện trạng phần đất ông T1 và bà L đang quản lý, sử dụng:

    Phía Bắc 32,4m +12,2m; phía Đông 28,9m +9,8+8,9m+2,2+3,8+40,8+6,9; phía Nam 15,6+6,9+19,5+4,8+4,9+20,4+10,5; phía Tây 49,3+8,1+9,4.

    Tổng diện tích là 4091.9m². So với diện tích theo GCNQSD đất là 3730 m² thì diện tích thừa 361.9m².

    Về diện tích đo đạc thực tế thể hiện tại theo sơ đồ hiện trạng của phần đất của anh T và chị Á đang quản lý sử dụng: Phía Bắc 56,8m; phía Đông 32,3+ 15,1+3,5+10,8; phía Nam 30,2; phía Tây 15,8+18,4+34,9.

    Tổng 2239.2 m² so với giấy CNQSD đất là 2692 thiếu 452,8m².

    Phần diện tích đất đanh tranh chấp là 425.0 m².

    Về diện tích đo đạc thực tế thể hiện theo sơ đồ hiện trạng phần đất ông T1 và bà L đang quản lý, sử dụng:

    Phía Bắc 32,4m +12,2m; phía Đông 28,9m +9,8+8,9m+2,2+3,8+40,8+6,9; phía Nam 15,6+6,9+19,5+4,8+4,9+20,4+10,5; phía Tây 49,3+8,1+9,4.

    Tổng diện tích là 4091.9m². So với diện tích theo GCNQSD đất là 3730 m² thì diện tích thừa 361.9m².

    * Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương các hộ sử dụng đất liền kề với hai thửa đất 190 và 191 không có tranh chấp.

    Như vậy xác định phần diện tích anh T và chị Á đang sử dụng bị thiếu 452,8m²; phần diện tích ông T1 và bà L đang sử dụng thừa 361,9 m² do đó có căn cứ chấp nhận buộc ông T1 và bà L phải tháo dỡ các công trình và thu hoạch cây cối nằm trên phần đất của anh T và chị Á gồm: Chuồng trại chăn nuôi xây bằng gạch cốm, có diện tích 114,8m² trong đó nằm trên phần đất tranh chấp là 85.2m²; tường rào phía tây dài = 47,4m; tường rào phía bắc dài 12,2m; 17 cây bưởi loại C; 02 cây na loại C; 08 cây chuối loại B; 22 cây chuối loại A; 15 cây táo; trả lại cho anh T và chị Á diện tích đất 361,9m² tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là phù hợp với quy định của pháp luật.

    Đối với 01 cây dừa đang nằm trên phần diện tích đất tranh chấp 420,8m² : Hội đồng xét xử xét thấy năm 1982 ông T1 mua đất của ông H, năm 1984 ông T1 trồng thêm hàng dừa như hiện tại, trong đó có 1 cây dừa đang nằm trên thửa đất đang có tranh chấp. Tuy nhiên, năm 1986 ông T5 mua đất, nguồn gốc đất là của ông H bỏ lại không làm. Ông T5 và ông T1 xác định ranh giới giữa hai thửa đất là hàng rào trúc. Quá trình sử dụng đất không có ai vi phạm, không có tranh chấp. Do đó, xác định từ năm 1986 cây dừa thuộc thửa đất của ông T5 nay là thửa đất của anh T và chị Á. Vì vậy, Đơn đề nghị ngày 06/02/2023 của ông T1 về việc đề nghị Tòa án trưng cầu giám định tuổi cây dừa nằm trên thửa đất đang tranh chấp là không cần thiết nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không chấp nhận là phù hợp.

    Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay nguyên đơn tự nguyện rút bớt yêu cầu khởi kiện là 107,4m² đất lấn chiếm. Từ yêu cầu ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L trả lại cho gia đình anh T và chị Á diện tích đất lấn chiếm là 440,5m² nay còn yêu cầu ông T1 và bà L trả lại cho gia đình anh T và chị Á diện tích đất lấn chiếm là 333.1m² và phải tháo dỡ các công trình, di rời tài sản và thu hoạch cây cối nằm trên phần đất của anh T và chị Á gồm: Chuồng trại chăn nuôi xây bằng gạch cốm, có diện tích 114,8m² trong đó nằm trên phần đất tranh chấp là 85.2m²; tường rào phía tây dài = 47,4m; tường rào phía bắc dài 12,2m; 17 cây bưởi loại C; 02 cây na loại C; 08 cây chuối loại B; 22 cây chuối loại A; 15 cây táo.

    Yêu cầu công nhận diện tích sử dụng đất của ông T1 và bà L theo hiện trạng đang sử dụng là 4.084m² không được chấp nhận.

    Không chấp nhận yêu cầu của người đại diện ủy quyền của bị đơn bổ sung kháng cáo vì vượt quá yêu cầu khởi kiện và phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định Điều 5 và 293 BLTTDS.

    Từ phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy chấp nhận không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Cao Duy T1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa theo hướng nguyên đơn rút về phần diện tích lấn chiếm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX là có căn cứ pháp luật.

    [4] Về án phí: Kháng cáo ông Cao Văn T11 nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được miễn do người cao tuổi theo điểm đ Điều 12; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ: Điều 293, khoản 2 Điều 244, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút 107,4m² đất lấn chiếm. Sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

    Căn cứ: Điều 5, khoản 9 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 272; Điều 273, Điều 227, Điều 229, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, 4, 5, 9, 16, 24 Điều 3; khoản 3 Điều 17; khoản 7 Điều 166; khoản 1, khoản 5 Điều 170; Điều 202; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; khoản 1 Điều 175 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa.

    Xử:

    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á:
      • - Buộc ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L phải tháo dỡ công trình xây dựng, di rời tài sản và thu hoạch cây trồng trên phần diện tích đất lấn chiếm gồm: Chuồng trại chăn nuôi xây bằng gạch cốm, có diện tích 114,8m² trong đó nằm trên phần đất tranh chấp là 89m²; tường rào phía tây dài 32,3m + 15,1m; tường rào phía bắc dài 12,5m; 17 cây bưởi loại C; 02 cây na loại C; 08 cây chuối loại B; 22 cây chuối loại A; 15 cây táo.
      • - Buộc ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L trả lại cho anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á diện tích đất là 333,1m² tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 32, địa chỉ: tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

      Phần đất có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía bắc giáp đường thôn có chiều dài 12,5m; phía đông giáp thửa đất số 190 của ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L có chiều dài: 34,9m + 14,8m + 1,2m + 9,4m; phía nam giáp thửa đất số

      291 có chiều dài 0,8m; phía tây giáp phần diện tích đất của thửa đất số 191 của anh Hoàng Đạt T và chị Lê Thị Ngọc Á có chiều dài: 34,9m + 14,8m + 1,2m + 9,4m.

      (Có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và mảnh trích đo phần diện tích đất tranh chấp ngày 02/4/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh huyện N kèm theo).

    2. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút 107,4m² đất lấn chiếm.
    3. Bác kháng cáo của ông Cao Duy T1 về công nhận ranh giới và diện tích sử dụng đất của ông Cao Duy T1 và bà Viên Thị L theo hiện trạng đang sử dụng là 4.084m².
    4. Án phí phúc thẩm dân sự: Ông Cao Duy T1 không phải nộp án phí phúc thẩm và được miễn do người cao tuổi.

    Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    • - Các đương sự;
    • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
    • - TAND, VKSND cấp cao HN;
    • - TAND,VKSND H.Nông cống;
    • - Chi cục THADS H.Nông Cống;
    • - Lưu hồ sơ vụ án.

    T/M HỘI ĐÒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

    Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lấn chiếm đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger