Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS-PT

Ngày: 06-8-2024

V/v tranh chấp về chia tài sản chung

và thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Lan

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị Mai Hạnh

Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Nguyễn Thị Kim Yến

– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 31 tháng 7 và ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân

dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLPT-DS

ngày 10 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp về chia tài sản chung và thừa kế tài

sản là quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 33/2023/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2023 của

Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 76/2024/QĐ-PT ngày

03/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 95/2024/QĐ-PT ngày

03/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cụ Huỳnh Thị B - sinh năm 1938; cư trú tại tổ dân phố P, phường

P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị đơn: Ông Ngô K - sinh năm 1968; cư trú tại tổ dân phố B, phường P, thị xã

Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phạm Thị Thu P - sinh năm

1967; cư trú tại số nhà C đường N, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (theo

văn bản ủy quyền ngày 30/11/2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Thị V - sinh năm 1971.
  2. Bà Ngô Thị Minh C - sinh năm 1985.

Cùng cư trú tại tổ dân phố B, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

  1. Bà Ngô Thị V1 - sinh năm 1966;
  2. Ông Ngô Q - sinh năm 1971;
  3. Bà Ngô Thị C1 - sinh năm 1973;
  4. Ông Ngô Mạnh Q1 - sinh năm 1982;
  5. Bà Nguyễn Khánh N - sinh năm 1983;

Cùng cư trú tại tổ dân phố P, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

  1. Bà Ngô Thị Lệ T - sinh năm 1978; cư trú tại tổ dân phố H, phường P, thị xã

Đ, tỉnh Quảng Ngãi.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ngô Mạnh Q1: Ông Huỳnh

Ngọc Ấ - Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ Văn phòng: Số

H đường H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người kháng cáo: Ông Ngô K là bị đơn trong vụ án.

- Viện Kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ.

(Các ông, bà Ngô K, Phạm Thị Thu P, Ngô Thị V, Ngô Thị V1, Ngô Thị Lệ T,

Ngô Mạnh Q1, Nguyễn Khánh N, Ngô Thị Minh C và Luật sư Huỳnh Ngọc Ấ có mặt

tại phiên tòa; ông Ngô Q, bà Ngô Thị C1 có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/8/2022, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày

03/10/2022, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là cụ

Huỳnh Thị B do ông Nguyễn Tấn H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Cụ Huỳnh Thị B và cụ Ngô C2 kết hôn năm 1965. Cụ B và cụ C2 có 08 người

con chung là các ông, bà Ngô Thị V1, Ngô K, Ngô Thị V, Ngô Q, Ngô Thị C1, Ngô

Thị Lệ T, Ngô Mạnh Q1, Ngô Thị Minh C.

Sau năm 1975, cụ B và cụ C2 xây dựng 01 ngôi nhà trên diện tích đất 4.480m²

(trong đó có 200m² đất ở và 4.280m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa đất số 359,

tờ bản đồ số 2, tổ dân phố P, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa

359). Ngày 08/11/2006, Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Đ cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho cụ B và cụ C2 thửa 359; theo đo

đạc thực tế thửa 359 có diện tích 4.532m².

Năm 2008, cụ B và cụ C2 cùng các con họp gia đình và thống nhất để cho vợ,

chồng ông Ngô Mạnh Q1 quản lý, sử dụng ngôi nhà cấp IV và diện tích đất ở khoảng

200m² với mục đích sau này thờ phụng cha, mẹ; đồng thời chăm sóc, nuôi dưỡng cụ

B, cụ C2 lúc về già. Từ năm 2008, chỉ có ông Q1 và cụ C2, cụ B sinh sống tại ngôi

nhà này; năm 2010, cụ C2 chết, không để lại di chúc; cụ B, ông Q1 tiếp tục sinh sống

tại ngôi nhà này; những người con khác của cụ B đã gia đình, ở riêng.

Năm 2022, ngôi nhà do cụ B, cụ C2 xây dựng hư hỏng không thể ở được nên

ông Q1 làm lại nhà mới; nguồn tiền làm nhà là của vợ, chồng ông Q1 và làm nhà để ở,

không phải nhà thờ. Năm 2022, cụ B có nguyện vọng giao thửa 359 cho ông Q1 để vợ,

chồng ông Q1 có nơi ở ổn định trước khi cụ B qua đời, nên đã làm thủ tục tặng cho

thửa 359 cho ông Q1 nhưng ông Ngô K không đồng ý.

Quá trình Tòa án giải quyết, cụ B yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của cụ và

cụ C2; chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ C2; cụ B yêu cầu tính công sức cho cụ

02 kỷ phần vì cụ có công sức đóng góp trong việc quản lý, tôn tạo di sản. Tại phiên

tòa, cụ B yêu cầu chia đều di sản của cụ C2 cho các đồng thừa kế.

Ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N đang sống cùng cụ B, trực tiếp chăm

sóc cụ B nên cụ B tự nguyện giao toàn bộ phần tài sản chung và kỷ phần thừa kế di

sản của cụ C2 mà cụ B được hưởng cho ông Q1, bà N quản lý, sử dụng.

* Tại Bản tự khai ngày 25/11/2022, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên

tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Ngô K trình bày:

Nguồn gốc thửa 359 là của ông bà, cha mẹ ông để lại, là nơi thờ cúng tổ tiên,

ông bà. Theo Biên bản họp gia đình ngày 10/12/2008, cha của ông là cụ Ngô C2 đã có

ý kiến và chọn ông Ngô Mạnh Q1 là người được quản lý thửa 359 để thờ cúng ông,

bà; không được trao đổi, mua bán. Mẹ và các chị, em trong gia đình đã ký xác nhận

vào Biên bản, có nhận của Tổ trưởng tổ dân phố và UBND phường P.

Trước khi chết, cụ C2 không đề cập đến việc chia cho ông Q1 2.240m² đất;

phần đất còn lại chia thành 11 kỷ phần cho cụ B 02 kỷ phần; các anh, chị, em của ông

mỗi người 01 kỷ phần. Phần tài sản của cụ B, cụ B cho ai là quyền của cụ; còn di sản

của cụ C2 để lại, ông yêu cầu Tòa án chia theo di chúc là Biên bản họp gia đình ngày

10/12/2008 để làm nơi thờ cúng. Trường hợp Tòa án xác định Biên bản họp gia đình

ngày 10/12/2008 không phải di chúc thì chia theo quy định của pháp luật. Ông thống

nhất về quan hệ huyết thống như cụ B trình bày.

Gắn liền với thửa 359 có ngôi nhà mới làm vào năm 2022, được xem là nhà thờ

do ông Q1 xây dựng nhưng có hỗ trợ của các anh, chị, em và bà con ở xa, trong đó

ông đóng góp 50.000.000 đồng; ông đã cho ông Quân số tiền này để làm nhà, không

yêu cầu ông Q1 phải trả lại và cũng không tranh chấp ngôi nhà khi Tòa án giao phần

đất có nhà cho ông Q1.

Ngôi nhà cấp IV của cụ C2, cụ B đã cũ, không còn sử dụng để ở cùng các tài

sản khác gắn liền với đất, ông không tranh chấp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn

Khánh N cùng trình bày:

Ông, bà là con trai, con dâu của cụ C2, cụ B; cụ C2 chết, không để lại di chúc.

Khi còn sống, cụ C2 và cụ B tổ chức họp gia đình vào năm 2008 và thống nhất để ông,

bà quản lý, sử dụng ngôi nhà cấp IV và diện tích đất ở khoảng 200m² trên thửa 359

với mục đích sau này thờ phụng cha, mẹ. Từ năm 2008 ông, bà sống chung với cha,

mẹ; sau khi cha chết, ông bà vẫn sống với cụ B để phụng dưỡng, chăm sóc cụ; các

anh, chị, em khác đều có gia đình và nhà ở riêng.

Năm 2022, nhà cũ hư hỏng; được sự đồng ý của cụ B, ông bà làm lại nhà mới;

tiền làm nhà do ông, bà tự bỏ ra; anh, chị, em và bà con có cho ông, bà một số tiền để

làm nhà; còn anh, chị, em trong gia đình và cụ B không đóng góp tiền trong việc làm

nhà; nhà cũ của cha, mẹ hiện tại sử dụng làm nhà kho.

Ông, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của cụ B; kỷ phần của ông được hưởng

ông yêu cầu giao cho ông, bà cùng nhận; ông, bà đồng ý nhận phần đất của cụ B tặng

cho ông, bà; ông, bà đề nghị Tòa án chia cho ông, bà phần đất tại vị trí có nhà hiện

ông, bà đang ở để nuôi mẹ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị C1 và ông Ngô Quy c

trình bày:

Ông, bà là con đẻ của cụ C2 và cụ B; cụ C2 chết không để lại di chúc. Năm

2008, cụ C2 và cụ B cùng các con họp gia đình và thống nhất để vợ chồng ông Ngô

Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N quản lý, sử dụng ngôi nhà cấp IV tại thửa 359 với mục

đích sau này thờ phụng cha, mẹ; đồng thời chăm sóc cha, mẹ lúc còn sống. Vợ chồng

ông Q1 sống chung với cha, mẹ đến năm 2010, cụ C2 chết; cụ B và vợ chồng ông Q1

tiếp tục sinh sống tại thửa 359. Ông, bà và các anh, chị, em khác đều có gia đình, ở

riêng. Ông, bà thống nhất về hàng thừa kế của cụ C2 như cụ B trình bày.

Năm 2022, nhà cũ của cha, mẹ hư hỏng nên vợ chồng ông Q1 làm lại nhà mới;

tiền làm nhà là do vợ, chồng ông Q1 tự bỏ ra; cụ B không đóng góp tài sản hay công

sức gì. Đầu năm 2022, cụ B có nguyện vọng giao thửa 359 cho ông Q1 để vợ, chồng

ông Q1 có chỗ ở ổn định nhưng ông Ngô K không đồng ý.

Ông, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của cụ B; ông, bà yêu cầu Tòa án giải

quyết chia di sản của cụ C2 để lại theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các bà Ngô Thị Lệ T, Ngô Thị V,

Ngô Thị V1, Ngô Thị Minh C cùng trình bày:

Các bà là con đẻ của cụ C2, cụ B. Thửa 359 là tài sản chung của cụ C2, cụ B.

Vợ chồng ông Q1 sống chung với cụ C2, cụ B đến năm 2010, cụ C2 chết; hiện cụ B

vẫn đang sống cùng vợ, chồng ông Q1 tại ngôi nhà do vợ, chồng ông Q1 xây dựng

trên thửa 359, có hỗ trợ tài chính của anh, chị, em và bà con ở xa; còn anh, chị, em

trong gia đình không ai đóng góp tiền. Phần đất của cụ B trong khối tài sản chung với

cụ C2; cụ B có nguyện vọng cho vợ, chồng ông Q1 thì các bà thống nhất; di sản của

cụ C2 là 2.240m² đất thuộc thửa 359 chia thành 09 kỷ phần cho các đồng thừa kế; các

bà yêu cầu được nhận di sản bằng hiện vật; chia phần đất có ngôi nhà cho vợ chồng

ông Q1 ở, sau này để thờ cúng ông, bà; các bà không tranh chấp, không yêu cầu gì đối

với ngôi nhà.

* Bản án số 33/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức

Phổ đã xử:

Chấp nhận yêu cầu của cụ Huỳnh Thị B, chia tài sản chung là thửa 359 cho cụ B

được nhận ½ diện tích đất là 2.266m² (trong đó có 100m² đất ở và 2.166m² đất trồng

cây hàng năm khác).

Xác định di sản của cụ Ngô C2 là ½ diện tích thửa 359 tương ứng 2.266m²

(trong đó có 100m² đất ở và 2.166m² đất trồng cây hàng năm khác).

Hàng thừa kế của cụ Ngô C2 là cụ Huỳnh Thị B và các ông, bà Ngô Mạnh Q1,

Ngô K, Ngô Q, Ngô Thị V1, Ngô Thị V, Ngô Thị C1, Ngô Thị Lệ T, Ngô Thị Minh C.

Chia thừa kế di sản của cụ C2 thành 09 kỷ phần, mỗi kỷ phần 251,78m² đất

(trong đó có 11,11m2 đất ở và 240,67m² đất trồng cây hàng năm khác), trị giá

149.249.287 đồng/kỷ phần.

Ghi nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ B với ông Q1, bà Nguyễn

Khánh N.

Chia cho ông Q1, bà N được quyền sử dụng 2.769,56m² (trong đó có 122,22 m²

đất ở và 2.647,34m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F1), có giới

cận: Phía Bắc giáp thửa 358 và đường (chiều dài nối các điểm từ 43, 35, 1 đến 9); phía

Nam giáp đường (chiều dài nối từ các điểm từ 22 đến 30); phía Đông giáp phần đất

giao cho ông K dài 53,91m; phía Tây giáp đường (chiều dài nối từ các điểm 31 đến

34), trị giá 1.641.769.907 đồng.

Chia cho ông K được quyền sử dụng 251,78m² (trong đó có 11,11m² đất ở và

240,67m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F2), có giới cận: Phía

Bắc giáp đường dài 4,68m; phía Nam giáp thửa 401 dài 4,54m; phía Đông giáp phần

đất giao cho ông Q; phía Tây giáp phần đất giao cho ông Q1, bà N; trị giá 149.249.287

đồng.

Chia cho ông Q được quyền sử dụng 251,78m² (trong đó có 11,11m² đất ở và

240,67m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F3), có giới cận: Phía

Bắc giáp đường dài 4,68m; phía Nam giáp thửa 388 dài 4,7m; phía Đông giáp phần

đất giao cho bà V1; phía Tây giáp phần đất giao cho ông K; trị giá 149.249.287 đồng,

C3 cho bà V1 được quyền sử dụng 251,78 m² (trong đó có 11,11m² đất ở và

240,67m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F4), có giới cận: Phía

Bắc giáp đường dài 4,72m; phía Nam giáp thửa 388 dài (4,42 +0,28)m; phía Tây giáp

phần đất giao cho ông Q; phía Đông giáp phần đất giao cho bà V; trị giá 149.249.287

đồng.

Chia cho bà V được quyền sử dụng 251,78 m² (trong đó có 11,11m² đất ở và

240,67m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F5), có giới cận: Phía

Bắc giáp đường dài (3,54m + 1,17m); phía Nam giáp thửa 958 dài (0,28m + 4,74m);

phía Tây giáp phần đất giao cho bà V1; phía Đông giáp phần đất giao cho bà C1; trị

giá 149.249.287 đồng.

Chia cho bà C1 được quyền sử dụng 251,78m² (trong đó có 11,11m² đất ở và

240,67m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F6), có giới cận: Phía

Bắc giáp đường dài 4,72m; phía Nam giáp thửa 958 và thửa 959 dài (3,44m + 1,3m);

phía Tây giáp phần đất giao cho bà V; phía Đông giáp phần đất giao cho bà T; trị giá

149.249.287 đồng.

Chia cho bà T được quyền sử dụng 271,78m² (trong đó có 11,11m² đất ở và

260,67m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F7), có giới cận: Phía

Bắc giáp đường dài (1,51+3,59)m; phía Nam giáp thửa 959, dài 5,09m; phía Tây giáp

phần đất giao cho bà C1; phía Đông giáp phần đất giao cho bà C và thửa đất số 600; trị

giá 157.893.327 đồng.

Chia cho bà C được quyền sử dụng 231,76m² (trong đó có 11,11m² đất ở và

220,65m² đất trồng cây hàng năm khác) tại thửa 359 (kí hiệu F8), có giới cận: Phía

Bắc giáp đường (chiều dài nối các điểm T6, từ 12 đến 15); phía Nam giáp thửa 600,

dài 21,93m; phía Tây giáp phần đất giao cho bà T dài 11,34 m; phía Đông giáp thửa

đất số 342 dài 11,16 m; trị giá 140.596.603 đồng.

(có sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).

Bà T phải thanh toán lại cho bà C giá trị tài sản chênh lệch 8.644.040 đồng.

Nhà ở cấp IV và các tài sản khác trên đất các đương sự không tranh chấp nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền

kháng cáo của đương sự.

* Ngày 31/8/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ có

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 1467/QĐ-VKS-DS đối với bản án số

33/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ; đề nghị Tòa án

nhân dân tỉnh Quảng Ngãi sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giao di sản thừa

kế của cụ Ngô C2 cho ông Ngô Mạnh Q1 quản lý, sử dụng làm nơi thờ cúng.

* Ngày 30/8/2023 và ngày 19/9/2023, ông Ngô K có đơn kháng cáo, đơn kháng

cáo bổ sung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa một phần bản án sơ thẩm số

33/2023/DS-ST ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ; không chấp

nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị B về việc chia thừa kế di sản của cụ Ngô

C2; ông Ngô Mạnh Q1 được quản lý, sử dụng phần đất có ngôi nhà làm nơi thờ cúng.

* Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ngô Mạnh Q1

phát biểu ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo

của ông Ngô K; không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

thị xã Đức Phổ; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Trường hợp Hội đồng xét xử có căn cứ

xác định Biên bản họp gia đình ngày 10/12/2008 là di chúc thì ông Q1 đồng ý xác

định di sản của cụ Ngô C2 tại vị trí có ngôi nhà hiện gia đình ông Q1 đang quản lý, sử

dụng về phía Tây thửa đất số 359, tờ bản đồ số 2, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi

và đồng ý nhận quản lý, sử dụng làm nơi thờ cúng; không được chuyển quyền dưới bất

kỳ hình thức nào.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý

kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm

phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án

cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định của Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ

quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72, 75, 76 Bộ luật tố tụng dân sự

năm 2015; nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện

đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm

2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát

nhân dân thị xã Đức Phổ và kháng cáo của ông Ngô K; sửa bản án sơ thẩm, không

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị B về việc chia di sản thừa kế của cụ

Ngô C2; giao di sản thừa kế của cụ Ngô C2 cho ông Ngô Mạnh Q1 quản lý, sử dụng

làm nơi thờ cúng; đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu

ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngày 21/8/2023, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử vụ án

nêu trên. Ngày 30/8/2023, bị đơn là ông Ngô K có đơn kháng cáo; ngày 31/8/2023,

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ có Quyết định kháng nghị phúc

thẩm số 1467/QĐ-VKS-DS về việc kháng nghị bản án số 33/2023/DS-ST ngày

21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ là còn trong thời hạn quy định tại

khoản 1 Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được chấp nhận xem xét.

[2] Về nội dung: Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, các đương

sự đều thừa nhận:

[2.1] Về quan hệ huyết thống: Cụ Ngô C2 (chết năm 2010) và cụ Huỳnh Thị B

có 08 người con chung gồm các ông, bà Ngô Thị V1, Ngô K, Ngô Thị V, Ngô Q, Ngô

Thị C1, Ngô Thị Lệ T, Ngô Mạnh Q1, Ngô Thị Minh C. Ngoài ra cụ C2, cụ B không

còn người con nào khác, kể cả con nuôi hay con riêng.

[2.2] Về nguồn gốc tài sản tranh chấp: Thửa đất số 359, tờ bản đồ số 2, diện tích

4.480m² (trong đó có 200m² đất ở nông thôn và 4.280m² đất trồng cây hàng năm

khác), theo đo đạc thực tế có diện tích 4.532m² tại xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị

xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Đ cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho cụ Ngô C2, cụ Huỳnh Thị

B vào ngày 08/11/2006 (viết tắt là thửa 359) là của cụ C2, cụ B được ông, bà lưu hạ.

Cụ C2, cụ B sinh sống tại thửa 359 cho đến khi cụ C2 chết; hiện cụ B vẫn đang sinh

sống tại thửa 359 cùng với gia đình ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N. Đây là

những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015.

[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ và

kháng cáo của ông K, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Các ông, bà K, V1, V, T, C đều thừa nhận vào ngày 10/12/2008, cụ C2 và

cụ B có họp gia đình để bàn bạc việc phân chia tài sản có sự tham gia của các ông, bà;

cụ C2 là người viết biên bản; chữ ký, chữ ghi họ tên trong Biên bản họp gia đình là

của các ông, bà và của cụ C2, cụ B; tại thời điểm họp gia đình, cụ C2 và cụ B còn

minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; ông K thừa nhận khi

họp gia đình có sự tham gia của 02 người làm chứng là bà Võ Thị C4, bà Phạm Thị

H1; các bà V1, V, T, C cho rằng do thời gian lâu quá nên các bà không nhớ; ông Q1

không tham gia họp nên không biết khi họp gia đình có sự tham gia của bà C4, bà H1

hay không.

[3.2] Xét lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.2.1] Theo Biên bản họp gia đình đề ngày 10/12/2008 thể hiện nội dung:

...“về phần vợ chồng tôi, tuổi đã già, còn các con đã có 7 đứa đều yên bề gia thất, có

nơi ăn chốn ở ổn định. D chỉ còn con trai út là sống phụ thuộc với vợ chồng tôi và

chưa có nhà cửa. Do đó vợ chồng tôi có ý định là ngôi nhà tôi đang ở hiện nay. Sau

này giao lại cho con trai út của tôi là Ngô Mạnh Q1 trọn quyền quản lý, sử dụng,

thông qua sự nhất trí cao của tất cả các con của vợ chồng tôi có tên trong văn bản

nầy.....Ngôi nhà tọa lạc tại V thôn P được xây dựng sau năm 1975 trên thửa đất số

359, tờ bản đồ số 2, diện tích chung là 4.480m², diện tích đất ở là 1.500m². Ngôi nhà

nói trên ngoài việc thống nhất chung cho con tôi là Ngô Mạnh Q1 quản lý, sử dụng

còn là nơi dùng để thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ... Người được quản lý sử dụng

không được mua bán, đổi chác ...vì nơi đây còn gọi là nhà thờ nhất phái. Biên bản này

có hiệu lực khi nào vợ chồng của tôi đều đi về cõi vĩnh hằng”.

[3.2.2] Như vậy, mặc dù văn bản nêu trên có tiêu đề là Biên bản họp gia đình

nhưng có các nội dung của di chúc được quy định tại Điều 653 Bộ luật dân sự năm

2005, như: Ngày, tháng, năm; họ, tên và nơi cư trú của người định đoạt tài sản; họ, tên

người được hưởng tài sản; tài sản để lại và nơi có tài sản....

[3.2.3] Điều 655 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định di chúc bằng văn bản không

có người làm chứng như sau: Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại

Điều 653 Bộ luật này.

[3.2.4] Như nhận định trên, Biên bản họp gia đình đề ngày 10/12/2008 có các

nội dung của di chúc; các ông, bà K, V1, V, T, C, Q1 đều thừa nhận cụ C2 là người

viết biên bản; khi họp gia đình, cụ C2 và cụ B còn minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa

dối, ép buộc hay cưỡng ép. Đối chiếu các điều luật đã viện dẫn nêu trên thì việc có hay

không có người làm chứng thì Biên bản họp gia đình đề ngày 10/12/2008 đã hội đủ

các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005 nên được

xem là di chúc hợp pháp.

[3.2.5] Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng các ông, bà K, V1, V, T, C, Q, C1 là người

thừa kế của cụ C2, cụ B nên không được làm chứng cho việc cụ C2, cụ B lập di chúc

theo quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự năm 2005 là không chính xác, không phù

hợp với nhận định trên.

[3.2.6] Tòa án cấp sơ thẩm còn cho rằng ông Q1 là người được chỉ định quản lý

thờ cúng nhưng ông Q1 không tham gia họp nên Biên bản họp gia đình không phù hợp

là không chính xác, bởi lẽ tại Điều 670 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định di sản dùng

vào việc thờ cúng thì không có quy định cần phải có sự đồng ý của người được chỉ

định trong di chúc quản lý di sản để thực hiện việc thờ cúng. Mặt khác, tại phiên tòa

phúc thẩm ông Q1 đồng ý trường hợp Hội đồng xét xử có căn cứ xác định Biên bản

họp gia đình là di chúc thì ông đồng ý quản lý di sản để thực hiện việc thờ cúng.

[3.3] Theo Biên bản họp gia đình thì cụ C2, cụ B có ý định để ngôi nhà hiện

đang ở tại vùng I, thôn P trên thửa 359, diện tích chung 4.480m² cho ông Q1 quản lý,

sử dụng và là nơi dùng để thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ; không xác định chỉ để

phần đất có ngôi nhà làm nơi thờ cúng. Do đó, việc các ông, bà V1, V, T, C, Q1,

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Q1 cho rằng trường hợp có căn cứ

xác định Biên bản họp gia đình là di chúc thì cũng chỉ để lại phần đất có ngôi nhà làm

nơi thờ cúng; phần đất còn lại là di sản của cụ C2 thì chia đều cho các đồng thừa kế

của cụ C2 là không phù hợp với nhận định trên nên không được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, có cơ sở xác định Biên bản họp gia đình đề ngày

10/12/2008 là di chúc chung của cụ C2, cụ B theo quy định tại Điều 663 Bộ luật dân

sự năm 2005.

[3.4] Theo quy định tại Điều 668 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: Di chúc chung

của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ,

chồng cùng chết. Tuy nhiên, tại Điều 664 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Vợ,

chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào ... nếu

một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần

tài sản của mình.

[3.5] Hiện cụ B còn sống nên cụ B có quyền thay đổi ý kiến về việc không để tài

sản của cụ dùng vào việc thờ cúng mà tặng cho ông Q1, bà N nên Tòa án cấp sơ thẩm

đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ B về việc chia tài sản chung của cụ B là ½ thửa

359 là phù hợp; các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên

có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3.6] Ông Q1, bà N thừa nhận ông, bà có nhận tiền của ông Nguyễn Tấn B1,

hiện đang định cư tại Canada thông qua ông K để làm ngôi nhà gắn liền với thửa 359

hiện gia đình ông, bà cùng cụ B đang quản lý, sử dụng nhưng ông Q1 cho rằng ông B1

gửi tiền để ông làm nhà cho cụ B ở được khang trang chứ không phải để làm nhà thờ.

Tuy nhiên, ông Q1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình

bày của ông là có căn cứ và không được ông K, ông B1 thừa nhận.

[3.7] Tại văn bản trình bày ý kiến (đã được hợp pháp hóa lãnh sự ngày

04/4/2024), ông Nguyễn Tấn B1 xác định ông gửi tiền thông qua tài khoản của ông K

để ông Q1 làm nhà thờ phái nhất họ Ngô.

[3.8] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Q1 và bà N xác định ngoài số tiền ông B1

gửi về làm nhà thì còn có tiền của ông, bà; ngôi nhà hiện gia đình ông, bà cùng cụ B

đang ở được làm trên một phần khuôn viên nhà cũ; một phần nhà cũ còn lại hiện vẫn

còn đang dùng làm kho chứa đồ đạc; ông Q1, bà N đồng ý trường hợp Hội đồng xét

xử có căn cứ xác định Biên bản họp gia đình là di chúc thì ông, bà đồng ý xác định di

sản của cụ C2 tại vị trí có ngôi nhà hiện gia đình ông, bà cùng cụ B đang ở; ông, bà

đồng ý nhận quản lý di sản của cụ C2 để thực hiện việc thờ cúng và không chuyển

quyền dưới bất kỳ hình thức nào.

[3.9] Theo Biên bản họp gia đình thì cụ C2, cụ B chỉ định ông Q1 quản lý di sản

để thực hiện việc thờ cúng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông Q1 yêu cầu giao

cho ông và bà N quản lý di sản để thực hiện việc thờ cúng, được ông K và các ông, bà

V, V1, T, C, N đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.10] Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Nguyễn Tấn B1 vào tham gia tố tụng

với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng. Tuy nhiên,

theo văn bản trình bày ý kiến của ông B1 thì việc ông gửi tiền về là để cho ông Q1 làm

nhà thờ phái nhất họ Ngô; ông Q1, bà N cũng đồng ý để ngôi nhà gắn liền với thửa

359 hiện gia đình ông, bà và cụ B đang ở về phía Tây thửa 359 làm nơi thờ cúng trong

trường hợp Biên bản họp gia đình là di chúc, là phù hợp với nguyện vọng của cụ C2,

cũng như ông K và ông B1 nên không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích

hợp pháp của ông B1. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cũng cần rút kinh nghiệm.

[3.11] Thửa 359 theo đo đạc thực tế có diện tích 4.532m² (trong đó có 200m² đất

ở nông thôn và 4.332m² đất trồng cây hàng năm khác) là tài sản chung của cụ C2, cụ

B nên xác định ½ thửa 359, diện tích 2.266m² (trong đó có 100m² đất ở nông thôn và

2.166m² đất trồng cây hàng năm khác) về phía Đông thửa 359 được giới hạn bởi các

15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, D1, D, 9,10, 11, 12, 13, 14, 15 (ký hiệu F2) là tài sản của

cụ B; ½ thửa 359, diện tích 2.266m² (trong đó có 100m² đất ở nông thôn và 2.166m²

đất trồng cây hàng năm khác) về phía Tây thửa 359 được giới hạn bởi các 1, 2, 3, 4, 5,

6, 7, 8, D, D1, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 1 (ký hiệu F1) là di sản

của cụ C2.

[3.12] Ngoài ngôi nhà cấp 4, trên thửa 359 còn có một số tài sản (vật kiến trúc,

cây lâu năm). Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa

phúc thẩm, các đương sự không tranh chấp. Tại phần quyết định của bản án, Tòa án

cấp sơ thẩm không tuyên người có quyền sử dụng đất thì được quyền quản lý, sở hữu,

sử dụng tài sản gắn liền với đất là thiếu sót nên Hội đồng xét xử sửa lại cách tuyên cho

chính xác.

Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông K và kháng

nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ; sửa bản án sơ thẩm,

không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ B về việc chia thừa kế di sản của cụ C2;

ông Q1, bà N được quyền quản lý, sử dụng ngôi nhà gắn liền với diện tích đất 2.266m²

về phía Tây thửa 359 để thực hiện việc thờ cúng và không được chuyển quyền dưới

bất kỳ hình thức nào.

(Phần đất có ký hiệu F2 ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N được quyền

quản lý, sử dụng và phần đất có ngôi nhà ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N

được quyền quản lý, sử dụng để thực hiện việc thờ cúng, ký hiệu F1 có sơ đồ bản vẽ

kèm theo và là một bộ phận không thể tách rời của bản án).

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu

lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 6.500.000 đồng;

chi phí thẩm định giá 20.000.000 đồng; tổng cộng 26.5000.000 đồng. Ông Q1, bà N

phải chịu; cụ B đã tạm nộp và chi phí xong nên ông Q1, bà N phải có trách nhiệm

hoàn trả 26.500.000 đồng cho cụ B.

[6] Về án phí:

[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Cụ B phải chịu án phí đối với yêu cầu chia tài sản

chung theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy

nhiên, cụ B là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí. Căn cứ Điều 12, 14, 15 Nghị

quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội

đồng xét xử miễn án phí cho cụ B.

[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông K không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho

ông K 300.000 đồng (ba trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số

0000356 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ.

[7] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ngô Mạnh Q1

không phù hợp với nhận định trên, nên không được chấp nhận.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là phù hợp với

nhận định trên

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 147, 148, 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 652, 653, 654, 655, 663, 664, 668, 670 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết số

326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức

thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận kháng cáo của ông Ngô K và Quyết định kháng nghị phúc thẩm số

1467/QĐ-VKS-DS ngày 31/8/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã

Đức Phổ; sửa bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị B: Xác định ½ thửa đất số

359, tờ bản đồ số 2, diện tích 2.266m² (trong đó có 100m² đất ở và 2.166m² đất trồng

cây hàng năm khác) được giới hạn bởi các 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, D1, D, 9,10,

11, 12, 13, 14, 15 (ký hiệu F2) tại xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh

Quảng Ngãi có giới cận: Phía Đông giáp thửa đất số 342, 600; phía Tây giáp phần đất

còn lại của thửa đất số 359; phía Nam giáp thửa đất số 600, 959, 958, 388, 401, 602;

phía Bắc giáp đường bê tông là tài sản của cụ Huỳnh Thị B.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của cụ Huỳnh Thị B về việc tặng cho ông Ngô Mạnh

Q1, bà Nguyễn Khánh N được quyền quản lý, sử dụng ½ thửa đất số 359, tờ bản đồ số

2, diện tích 2.266m² (trong đó có 100m² đất ở và 2.166m² đất trồng cây hàng năm

khác) được giới hạn bởi các 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, D1, D, 9,10, 11, 12, 13, 14,

15 (ký hiệu F2) tại xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi có giới

cận: Phía Đông giáp thửa đất số 342, 600; phía Tây giáp phần đất còn lại của thửa đất

số 359; phía Nam giáp thửa đất số 600, 959, 958, 388, 401, 602; phía Bắc giáp đường

bê tông. Ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N được quyền quản lý, sở hữu, sử

dụng tài sản (vật kiến trúc, cây lâu năm) gắn liền với phần đất (ký hiệu F2).

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Huỳnh Thị B về việc chia di sản

thừa kế của cụ Ngô Chín .

4. Xác định di sản của cụ Ngô C2 là ½ thửa đất số 359, tờ bản đồ số 2, diện tích

2.266m² (trong đó có 100m² đất ở và 2.166m² đất trồng cây hàng năm khác) được giới

hạn bởi các 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, D, D1, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34,

35, 1 (ký hiệu F1) tại xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi có

giới cận: Phía Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 359; phía Tây giáp đường đi

và thửa đất số 358; phía Nam giáp đường bê tông và thửa đất số 602, 402; phía Bắc

giáp đường bê tông và thửa đất số 358.

5. Xác định Biên bản họp gia đình đề ngày 10/12/2008 là di chúc của cụ Ngô

Chín .

6. Ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N được quyền quản lý, sử dụng ngôi

nhà gắn liền với diện tích đất 2.266m² (trong đó có 100m² đất ở và 2.166m² đất trồng

cây hàng năm khác) được giới hạn bởi các 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, D, D1, 23, 24, 25, 26,

27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 1 (ký hiệu F1) tại xã P, huyện Đ (nay là phường P,

thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi có giới cận: Phía Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất

số 359; phía Tây giáp đường đi và thửa đất số 358; phía Nam giáp đường bê tông và

thửa đất số 602, 402; phía Bắc giáp đường bê tông và thửa đất số 358 để thực hiện

việc thờ cúng và không được chuyển quyền dưới bất kỳ hình thức nào. Ông Ngô Mạnh

Q1, bà Nguyễn Khánh N được quyền quản lý, sở hữu, sử dụng tài sản (vật kiến trúc,

cây lâu năm) gắn liền với phần đất (ký hiệu F1)

(Phần đất có ký hiệu F2 ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N được quyền

quản lý, sử dụng và phần đất có ngôi nhà ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N

được quyền quản lý, sử dụng để thực hiện việc thờ cúng, ký hiệu F1 có sơ đồ bản vẽ

kèm theo và là một bộ phận không thể tách rời của bản án).

7. Về chi phí tố tụng khác: Tổng cộng 26.5000.000 đồng (hai mươi sáu triệu,

năm trăm ngàn) ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N phải chịu; cụ Huỳnh Thị B

đã tạm nộp và chi phí xong nên ông Ngô Mạnh Q1, bà Nguyễn Khánh N phải có trách

nhiệm hoàn trả 26.500.000 đồng (hai mươi sáu triệu, năm trăm ngàn) cho cụ Huỳnh

Thị B.

8. Về án phí:

8.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Cụ Huỳnh Thị B được miễn.

8.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô K không phải chịu án phí. Hoàn trả lại

cho ông Ngô K 300.000 đồng (ba trăm ngàn) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã

nộp theo biên lai số 0000356 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã

Đức Phổ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - TAND thị xã Đức Phổ;
  • - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thu Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp về chia tài sản chung và thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung và thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger