|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 46/2023/HSST Ngày: 05/12/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Minh
- Bà Nông Thị Giới
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Hồng – Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Tuấn V (Bi Sún), sinh năm 1990, tại Bình Phước
Hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Nơi ở: Tổ D, khu phố P, phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M, sinh năm 1966 và bà Lại Thị H, sinh năm 1967; Vợ bị cáo tên Văn Cẩm T, sinh năm 1998; có 01 con chung, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú ngày 03/8/2023 và bị tạm giữ hình sự. Đến ngày 12/8/2023 bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Ngày 12/10/2023, Viện KSND thị xã B cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh để truy tố.
Ngày 02/12/2023, TAND thị xã cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Triệu Bảo Đ, sinh năm 1998 (Có mặt)
- Văn Cẩm T, sinh năm 1998 (Có đơn xin vắng mặt)
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1977 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 04, ấp Chà Là, xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
Địa chỉ: Tổ 04, khu phố Phú Xuân, phường Phú Thịnh, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu vay tiền nên ngày 03/6/2022, anh Triệu Bảo Đ đến nhà gặp Lê Tuấn V tại tổ D, khu phố P, phường P, thị xã B hỏi vay tiền thì V đồng ý và cho anh Đ vay 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) với mức lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày và đóng tiền lãi theo tháng [mỗi tháng anh Đ phải trả cho Vũ 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi]. Ngoài ra V còn cho anh Đ vay các lần như sau:
Ngày 14/7/2022, V cho anh Đ vay 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng); ngày 04/8/2022, V cho anh Đ vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng); ngày 23/9/2022 V cho anh Đ vay 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng); ngày 28/9/2022, V cho anh Đ vay 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) các lần này anh Đ nhận tiền tại nhà của V. Tiếp đến ngày 08/11/2022, Lê Tuấn V tiếp tục cho anh Đ vay tiền thông qua việc V sử dụng tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1) số [...] của vợ là chị Văn Cẩm T chuyển 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) sang tài khoản số [...] S1 của anh Triệu Bảo Đ. Tổng số tiền V cho anh Đ vay là 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng), với mức lãi suất như thỏa thuận ngày 03/6/2023.
Tổng số tiền anh Triệu Bảo Đ sử dụng tài khoản 050094078277 chuyển trả tiền lãi các khoản vay cho Lê Tuấn V qua tài khoản số [...] của chị Văn Cẩm T là 94.950.000đ (chín mươi tư triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) tiền lãi, cụ thể:
- - Ngày 06/7/2022 trả 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền lãi của khoản vay ngày 03/6/2022, còn thừa 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) anh Đ và V thống nhất trừ vào kỳ lãi tiếp theo.
- - Ngày 15/8/2022 trả 7.000.000đ (bảy triệu đồng) tiền lãi của khoản vay các ngày 14/7/2022 và 03/6/2022. Anh Đ và V thống nhất trừ số tiền thừa của lần trả lãi trước 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) nên anh Đ còn nợ Vũ 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).
- - Ngày 04/9/2022 trả 7.700.000đ (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền lãi của các khoản ngày 03/6/2022 và 04/8/2022. Anh Đ và V thống nhất cộng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) của lần trả lãi 15/8/2022 nên anh Đ còn nợ Vũ 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng).
- - Ngày 16/9/2022 trả 6.100.000₫ (sáu triệu một trăm nghìn đồng) tiền lãi của khoản ngày 14/7/2022. Anh Đ và V thống nhất trừ 2.800.000₫ (hai triệu tám trăm nghìn đồng) của lần trả lãi ngày 04/9/2022 nên anh Đ còn nợ Vũ 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng).
- - Ngày 01/10/2022 trả 9.090.000đ (chín triệu không trăm chín mươi nghìn đồng) tiền lãi của khoản vay các ngày 03/6/2022 và 04/8/2022. Anh Đ và V thống nhất cộng 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) anh Đ thiếu lần trả lãi ngày 16/9/2022 nên anh Đ còn nợ Vũ 1.110.000đ (một triệu một trăm mười nghìn đồng).
- - Ngày 19/10/2022 trả 3.870.000đ (ba triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) tiền lãi của khoản vay ngày 14/7/2022. Anh Đ và V thống nhất cộng số tiền anh Đ thiếu lần trả lãi ngày 01/10/2022 là 1.110.000đ (một triệu một trăm mười nghìn đồng) nên anh Đ còn nợ Vũ 1.740.000đ (một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - Ngày 28/10/2022 trả 9.000.000đ (chín triệu đồng) tiền lãi của khoản vay các ngày 23/9/2022 và 28/9/2022. Anh Đ và V thống nhất còn nợ Vũ 1.740.000đ (một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) của lần trả lãi ngày 19/10/2022.
- - Ngày 07/11/2022 trả 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền lãi của khoản vay các ngày 03/6/2022 và 04/8/2022. Anh Đ và V thống nhất trừ 1.740.000đ (một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) của lần trả lãi ngày 28/10/2022 nên anh Đ còn nợ Vũ 740.000đ (bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - Ngày 24/11/2022 trả 13.090.000đ (mười ba triệu không trăm chín mươi nghìn đồng) tiền lãi của khoản vay các ngày 14/7/2022, 23/9/2022 và 28/9/2022. Anh Đ và V thống nhất cộng 740.000đ (bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) nên anh Đ còn nợ V số tiền 1.150.000đ (một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Ngày 06/12/2022 trả 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền lãi của khoản vay các ngày 03/6/2022, 04/8/2022 và 08/11/2022. Anh Đ và V thống nhất cộng 1.150.000 đ (một triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) lần trả lãi ngày 24/11/2022 nên anh Đ còn nợ Vũ 4.650.000đ (bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Ngày 09/12/2022 trả 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi lần trả lãi ngày 06/12/2022 nên anh Đ còn nợ Vũ 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Ngày 14/12/2022 trả 9.600.000đ (chín triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền lãi của khoản vay các ngày 14/7/2022, 23/9/2022 và 28/9/2022. Anh Đ và V thống nhất cộng 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) anh Đ thiếu lần trả lãi ngày 09/12/2022 nên anh Đ còn nợ Vũ 4.050.000đ (bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền lãi.
Do không còn khả năng tiếp tục trả tiền nên V liên tục đòi anh Đ trả nợ. Đến ngày 02/8/2023 anh Đ tố cáo vụ việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B. Tiếp nhận tin báo Cơ quan điều tra tiến hành xác minh thu thập chứng cứ việc V chuyển tiền cho anh Đ vào ngày 08/11/2022 và anh Đ chuyển trả tiền lãi cho V trên điện thoại và các sao kê giao dịch giữa anh Triệu Bảo Đ và chị Văn Cẩm T vợ của Lê Tuấn V do S1 - Phòng G.
Ngày 03/8/2023, Lê Tuấn V đến Cơ quan điều tra để đầu thú và khai nhận rõ việc cho anh Đ vay tiền với lãi suất như anh Đ tố cáo.
Đối chiếu với khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, quy định “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
………” và khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì từ ngày 03/6/2022 đến ngày 14/12/2022, Lê Tuấn V cho anh Triệu Bảo Đ vay 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) với lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương với mức 109,5%/01 năm đã vượt quá 05 lần lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định.
Anh Đ đã trả 94.950.000đ (chín mươi bốn triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) tiền lãi cho V, sau khi khấu trừ phần lãi tối đa theo theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và gấp 05 lần theo Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tương đương 100%/01 năm là 17.340.000đ (mười bảy triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng) thì Lê Tuấn V đã thu lợi bất chính được 77.610.000đ (bảy mươi bảy triệu sáu trăm mười ngàn đồng) của anh Đ.
Cáo trạng số 44/CT-VKS-BĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long truy tố Lê Tuấn V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35; Điều 50; khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự và bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” nên căn cứ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo còn “đầu thú” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, tuyên phạt bị cáo: từ 50.000.000đ đến 70.000.000đ.
Về vật chứng:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
- - Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 17.340.000đ (mười bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) từ Lê Tuấn V là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự mà anh Triệu Bảo Đ đã trả cho Lê Tuấn V.
- - Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) từ anh Triệu Bảo Đ là tiền Lê Tuấn V cho anh Đ vay.
- - Đề nghị buộc Lê Tuấn V trả lại cho anh Triệu Bảo Đ 77.610.000đ (bảy mươi bảy triệu sáu trăm mươi nghìn đồng) anh Đ trả lãi vượt mức quy định cho V.
- - Đối với 49.200.000đ (bốn mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) do Cơ quan điều tra tạm giữ trong lúc khám xét nơi ở của Lê Tuấn V, đây là tài sản của chị Văn Cẩm T nên đề nghị trả cho chị T.
Những vấn đề liên quan:
- - Đối với việc V cho Nguyễn Thị N vay 10.000.000đ (mười triệu đồng) từ tháng 06/2023 đến tháng 07/2023 với thỏa thuận lãi suất hai bên là 3.000 đồng/01triệu đồng/01ngày = 0,3%/01 ngày = 109,5%/01 năm. Tuy nhiên khi chị N trả nợ gốc và V không yêu cầu tính tiền lãi.
- - Đối với việc Lê Tuấn V sử dụng tài khoản của vợ là Văn Cẩm T cho anh Triệu Bảo Đ vay tiền và nhận lãi suất do anh Đ trả nhưng bị cáo không nói cho vợ biết tiền cho vay lãi nặng, chỉ là tiền kinh doanh đất đai, nên không xử lý đối với chị T.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ý người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Từ khoảng 06/2022 đến tháng 12/2022, Lê Tuấn V cho anh Triệu Bảo Đ vay tiền với lãi suất vượt mức gấp 05 lần của mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 và thu lợi bất chính 77.610.000₫ (Bảy mươi bảy triệu sáu trăm mười nghìn đồng). Như vậy, đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo cho vay với lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất nhà nước quy định, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm hại trật tự công cộng, ảnh hưởng nếp sống văn minh, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Xét tình tiết giảm nhẹ thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Hội đồng xét áp dụng hình phạt tiền là đúng quy định của điều luật, phù hợp với hành vi phạm tội.
[4] Về vật chứng:
- - Buộc bị cáo V phải nộp lại 17.340.000đ (mười bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự để tịch thu sung ngân sách Nhà nước 17.340.000₫ (mười bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - Buộc bị cáo V phải nộp lại 300.000.000đ tiền gốc cho vay để tịch thu sung ngân sách Nhà nước 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
- - Buộc Lê Tuấn V trả lại cho anh Triệu Bảo Đ số tiền 77.610.000đ (bảy mươi bảy triệu sáu trăm mươi nghìn đồng) anh Đ trả lãi vượt mức quy định cho V.
- - Đối với 49.200.000 đ (bốn mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) do Cơ quan điều tra tạm giữ trong lúc khám xét nơi ở của Lê Tuấn V, đây là tài sản của chị Văn Cẩm T, nên trả cho chị T.
[5] Những vấn đề liên quan:
- - Đối với việc V cho Nguyễn Thị N vay 10.000.000đ (mười triệu đồng) từ tháng 06/2023 đến tháng 07/2023 với thỏa thuận lãi suất hai bên là 3.000 đồng/01triệu/01ngày = 0,3%/01 ngày = 109,5%/01 năm. Tuy nhiên khi chị N trả nợ gốc và V không yêu cầu tính tiền lãi.
- - Đối với việc Lê Tuấn V sử dụng tài khoản của vợ là Văn Cẩm T cho anh Triệu Bảo Đ vay tiền và nhận lãi suất do anh Đ trả nhưng bị cáo không nói cho vợ biết tiền cho vay lãi nặng, chỉ là tiền kinh doanh đất đai, nên không xử lý đối với chị T.
[6] Kiểm sát viên đề nghị hình phạt tiền và xử lý vật chứng là đúng quy định pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Tuấn V (B), phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ khoản 1 Điều 201, Điều 35, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Tuấn V (Bi Sún): 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng)
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1, 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
- - Buộc bị cáo V phải nộp lại 17.340.000đ (mười bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự để tịch thu sung ngân sách Nhà nước 17.340.000đ (mười bảy triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - Buộc bị cáo V phải nộp lại 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) tiền gốc cho vay để tịch thu sung ngânNhà300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
- - Buộc bị cáo V trả lại cho anh Triệu Bảo Đ số tiền 77.610.000đ (bảy mươi bảy triệu sáu trăm mươi nghìn đồng) anh Đ trả lãi vượt mức quy định cho V.
- - Trả lại số tiền 49.200.000đ (bốn mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng) cho chị Văn Cẩm T, theo ủy nhiệm chi ngày 15/11/2023 của Công an thị xã B, tỉnh Bình Phước cho Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước
Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Nguyễn Thành Đức |
Bản án số 46/2023/HSST ngày 05/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 46/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo: 60.000.000đ
