|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2023/HS-PT Ngày: 22/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức;
- Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Nguyễn Việt Hùng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 41/2023/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974 tại Phú Yên; Nơi cư trú: 0 T, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở hiện nay: 1 T, phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 04/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1940 (chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1941; Có chồng Lê Văn H1, sinh năm 1970 (Đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 1996. Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Đặng Lâm T, sinh năm 1978. Địa chỉ: I D, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ liên hệ: 26 D, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 13/7/2022 tại nhà số I D, Phường E, thành phố T, Nguyễn Thị Thu H trong khi dọn dẹp quán cơm gà để trả lại cho bà Nguyễn Đặng Lâm T thì xảy ra mâu thuẫn cãi vã với bà T về việc chưa dọn hết đồ ra khỏi nhà. Do tủ cồng kềnh, khó di chuyển nên bà H nói bà T cho để tạm phía sau nhưng bà T không đồng ý. Lúc này, giữa bà T và bà H xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, xô xát với nhau, bà H dùng phần đầu cây chổi sương đánh 01 cái trúng vào vùng mi trái bà T gây thương tích. Ngày 08/11/2022, bà Nguyễn Đặng Lâm T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 318/2022/TgT ngày 20/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ thương tích của bà Nguyễn Đặng Lâm T là 03%, bị vật có cạnh gây ra.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HSST ngày 26/4/2023 của TAND thành phố Tuy Hoà đã tuyên bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng điểm a, Khoản 1 Điều 134, điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 26/4/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật hình sự; các điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự. Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Đặng Lâm T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), bị cáo đã bồi thường được 1.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002605 ngày 21/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/5/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thu H kháng cáo phần trách nhiệm dân sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận tình tiết vụ án diễn ra như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 13/7/2022 tại nhà số I D, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Trong lúc cãi nhau, Nguyễn Thị Thu H cầm phần đầu cây chổi sương đánh phần cán trúng mắt trái của Nguyễn Đặng Lâm T gây thương tích, tỷ lệ 03%; mặc dù thương tích của bị hại dưới 11%, nhưng bị cáo sử dụng phần cán chổi là vật chứng, chắc đánh trúng mắt trái bị hại gây thương tích là thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm. Nên cấp sơ thẩm đã phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 06 thàng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là thoả đáng.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo về phần trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, gồm các khoản chi phí hợp lý như sau: Tiền điều trị thương tích có hoá đơn, chứng từ: 6.000.000 đồng; Tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ: 2.000.000đ; Tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện 22 ngày x 350.000 đồng = 7.700.000 đồng; Tiền công người chăm sóc trong thời gian bị hại nằm viện 22 ngày x 300.000đồng = 6.600.000đồng; Tiền tổn thất tinh thần tại thời điểm xét xử sơ thẩm, 02 tháng lương cơ sở x 1.490.000đồng = 2.980.000đồng. Tổng cộng: 25.280.000đồng.
Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo và bị hại tự nguyện thoả thuận; bị cáo Nguyễn Thị Thu H chấp nhận bồi thường cho bị hại Nguyễn Đặng Lâm T số tiền 25.000.000đồng. Xét sự thỏa thuận của bị cáo với bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự và không cao hơn số tiền đáng lẽ bị cáo phải bồi thường, nên án sơ thẩm đã ghi nhận là phù hợp, không gây bất lợi cho bị cáo.
Đối với khoản chi phí thẩm mỹ chưa phát sinh chi phí thực tế nên bị hại có quyền khởi kiện bị cáo bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Do đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[3] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án .
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a, Khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự ;
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự;
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Xử phạt: Nguyễn Thị Thu H - 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân phường C1, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C1 trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho bị hại Nguyễn Đặng Lâm T số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng), bị cáo đã bồi thường 1.000.000đ (Một triệu đồng), nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 24.000.000₫ (Hai mươi bốn triệu đồng).
T1 trả cho bị hại Nguyễn Đặng Lâm T số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) tại Biên lai thu tiền số 0002605 ngày 21/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huy Đức |
Bản án số 46/2023/HS-PT ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 46/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu H cố ý gây thương tích
