Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY ĐỨC

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số: 46/2022/HS-ST

Ngày 16 - 11 - 2022

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Lưu Ngọc Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Ứng – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 46/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Sẩm Phí L, sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Thuận; Số căn cước công dân: 600...; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Sẩm A C, sinh năm 1970 và bà Chềnh Xí Ph, sinh năm 1968; có vợ là Mai Thị Đoan, sinh năm 1991 và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh tháng 10/2022. Hiện đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Điểu M (đã chết);

Người đại diện theo pháp luật của anh Manh: Bà Thị P, sinh năm 1977 (là vợ của anh Manh), chị Thị D, sinh năm 1997; chị Thị N, sinh năm 2001; chị Thị P1, sinh năm 2003 (là các con của anh Manh).

Người đại diện theo ủy quyền của chị Thị D, chị Thị N, chị Thị P1: Bà Thị P, sinh năm 1977 – Có mặt tại phiên tòa.

Cùng địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Sẩm A C, sinh năm 1970 - Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

Những người làm chứng:

- Anh Điểu L, sinh năm 1984, anh Điểu Ch, sinh năm 1984 – Đều vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông

- Anh Sẩm Phí A, sinh năm 1992 – Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông

- Anh Điểu G, sinh năm 1993 – Vắng mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/4/2022, Sẩm Phí L điều khiển xe máy kéo rơ mooc (không có biển số) lưu thông theo hướng từ đường tỉnh lộ 681 về Ủy ban nhân dân xã Đắk R'Tih, huyện Tuy Đức, để đi chở hạt điều. Cùng đi với Sẩm Phí L còn có anh Sẩm Phí A là em trai của Sẩm Phí L điều khiển xe mô tô biển số 49N9-9630 đi theo sau. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi xe máy kéo rơ mooc đi đến đoạn đường thuộc bon Bu Koh, xã Đắk R'Tih, huyện Tuy Đức thì bị hết nhiên liệu, xe dừng trên mặt đường. Sau đó, anh Sẩm Phí A đi mua nhiên liệu, còn Sẩm Phí L rời khỏi vị trí lái xe. Mặc dù lúc này, trời đã tối, tầm nhìn bị hạn chế nhưng Sẩm Phí L không thực hiện các biện pháp như bật tín hiệu hoặc đặt biển báo nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để cảnh báo cho người điều khiển phương tiện khác biết mà đứng ở bên phải đầu xe theo hướng đi và sử dụng điện thoại cá nhân.

Khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, anh Sẩm Phí A đi mua nhiên liệu về thì anh Điểu M điều khiển xe mô tô biển số 48K1-023.16 đi cùng chiều, do không kịp quan sát đã va chạm vào phía bên trái của rơ mooc xe máy kéo, ngã ra đường. Anh Sẩm Phí A cùng một số người dân gần đó đưa anh Điểu M đi cấp cứu nhưng anh M đã chết trên đường đưa đi cấp cứu.

Hiện trường vụ án thể hiện: Hướng khám nghiệm hiện trường xác định theo hướng tỉnh lộ 681 đi Ủy ban nhân dân xã Đắk R'Tih (là mép đường chuẩn theo hướng đi của hai xe). Vị trí xảy ra tai nạn tại đoạn đường liên xã thuộc bon Bu Koh, xã Đắk RTih, huyện Tuy Đức, mặt đường nhựa, không có giải phân cách giữa, lòng đường rộng 04 mét, chia phần đường ra làm hai, mỗi bên rộng 02 mét, tại vị trí xe máy kéo rơ mooc đỗ trên mặt đường có trục số 01 cách mép đường chuẩn là 1,65 mét, trục số 02 cách mép đường chuẩn là 02 mét, trục số 03 cách mép đường chuẩn là 1,65 mét; tại vị trí xe mô tô biển số 48K1-023.16 có trục trước cách mép đường chuẩn là 1,8 mét, trục sau cách mép đường chuẩn là 02 mét. Điểm đụng được xác định ngay phía sau bên trái của Rơ mooc xe máy kéo cách mép đường chuẩn là 2,1 mét.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 57/TT ngày 04/5/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông, kết luận anh Điểu M bị: Nứt xương hộp sọ vùng trán phải; gãy xương sườn số 08, 09 cung trước bên phải; gãy cung trước các xương sườn bên trái. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não/ đa chấn thương.

Cáo trạng số: 46/CT-VKS ngày 03/10/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Sẩm Phí L về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Sẩm Phí L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Sẩm Phí L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại 01 xe mô tô biển số 48K1-023.16 cho chị Thị P và 01 xe máy kéo cho ông Sẩm A C là các chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Sẩm Phí L đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại là chị Thị P số tiền 90.000.000 đồng, tại phiên tòa chị P không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo rất hối hận và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có thời gian chăm lo cho gia đình vì các con của bị cáo còn rất nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Vào khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 07/4/2022 tại đoạn đường liên xã thuộc bon Bu Kóh, xã Đắk RTih, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, Sẩm Phí L đã có hành vi đậu xe máy kéo rơ moóc trên đường không có tín hiệu, không đặt biển báo nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để cảnh báo cho người điều khiển phương tiện khác biết, làm cho anh Điểu M điều khiển xe mô tô biển số 48K1-023.16 lưu thông cùng chiều, va chạm vào rơ mooc xe máy kéo ngã xuống đường và chết trên đường đi cấp cứu do chấn thương sọ não, đa chấn thương. Sẩm Phí L đã vi phạm vào khoản 3 Điểu 18 Luật giao thông đường bộ, cụ thể:

... 3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Sẩm Phí L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự và Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại điểm a khoảng 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. Làm chết người”

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rằng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã gây tai nạn hậu quả làm anh Điểu Manh chết.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nãi, giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

[6] Về hình phạt: Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, theo biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh lưu trong hồ sơ thì bị hại khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm là không đảm bảo nguyên tắc an toàn nên cũng có một phần lỗi. Mặt khác, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà xử hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương, gia đình quản lý, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt.

[7] Về việc bồi thường thiệt hại: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho đại diện theo pháp luật của bị hại số tiền 90.000.000 đồng, tại phiên tòa đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.

[8] Về việc xử lý vật chứng vụ án: Đối 01 xe mô tô biển số 48K1-023.16 là tài sản hợp pháp của bà Thị P và 01 xe máy kéo là tài sản hợp pháp của ông Sẩm A nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp cần chấp nhận.

[9] Đối với 01 xe máy kéo rơ moóc của ông Sẩm A C đưa cho Sẩm Phí L đi chở nông sản. Quá trình điều tra, xác định ông Sẩm A C không biết hành vi đỗ xe trên đường của Sẩm Phí L nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Sẩm Phí Lồng phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Sẩm Phí L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Sẩm Phí L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PV06, PC10 - CA tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Tuy Đức;
  • - CA huyện Tuy Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện theo pháp luật của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nông Văn Nhu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2022/HS-ST ngày 16/11/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về vụ án hình sự

  • Số bản án: 46/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm 03 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger