Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI


Số: 46/2022/DS-PT
Ngày: 15-3-2022
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân;

Các Thẩm phán: Ông Võ Hồng Sơn và ông Nguyễn Xuân Phách.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 15 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2021/TLPT-DS ngày 02 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh T.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1600/2022/QĐ-PT ngày 27 tháng 2 năm 2022 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông H, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm 1, xã Z, huyện N, tỉnh T; có mặt tại phiên tòa.
  • Bị đơn: Ông P, sinh năm 1960; địa chỉ: Xóm 7, xã A, huyện N, tỉnh T; có mặt tại phiên tòa.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • Anh Q, sinh năm 1981; địa chỉ: Xóm 1, xã Z, huyện N, tỉnh T, vắng mặt.
    • Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh T; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
    • Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh T; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 30/10/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông H trình bày:

Năm 2002, ông mua một mảnh đất của ông X (xóm 7, xã A, huyện N) diện tích 1.177 m2 (đính chính lại ngày 11/12/2013 là 1.117 m2), đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) số 300842, ngày 12/11/2002, tại tờ bản đồ số 3, số thửa 278, vào sổ cấp giấy số 297. Năm 2004, ông mua của Ủy ban nhân dân (UBND) xã A một mảnh đất liền kề, diện tích 100 m2. Do hôm nộp tiền đất ông đi vắng nên đưa tiền nhờ em trai ông là Q nộp hộ nên giấy CNQSDĐ mang tên Q, số BE 110670, cấp ngày 29/3/2011, tại thửa số 44, tờ bản đồ số 9, vào sổ cấp giấy số 00237. Từ năm 2002 đến năm 2016, ông sử dụng hai mảnh đất này không có vấn đề gì, nhưng đến năm 2017 thì ông P (con trai ông X) mang cây cối đến trồng vào mảnh đất của ông, ông đã nói nhiều lần mà ông P không nghe, còn chửi bới, đe dọa. Ông đã làm đơn báo cáo với UBND xã A và UBND xã A đã nhiều lần giải quyết và hòa giải giữa hai bên nhưng ông P tiếp tục lấn chiếm, gần đây ông P chở đá vào để đào móng xây tường trên mảnh đất của ông. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P trả lại đất cho ông, đồng thời di dời toàn bộ cây cối cũng như đá trả lại mặt bằng cho ông.

* Tại bản tự khai ngày 15/11/2017, ngày 10/9/2018 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông P trình bày:

Năm 1985, ông được UBND xã A, huyện N xét cấp đất ở với diện tích khoảng 400 m2. Năm 1986-1987, vợ chồng ông vào miền Nam làm ăn, ông chưa hoàn thành thủ tục gì về việc cấp đất ở. Năm 2002, bố ông là ông X đã bán cho anh H một mảnh đất ở cạnh Ba Hàng, trị giá 50.000.000đ, diện tích bao nhiêu ông không biết, ông không yêu cầu gì về mảnh đất này. Đối với thửa đất liền kề, có nguồn gốc là đất bỏ hoang, gia đình ông đã khai phá cải tạo trồng cây và làm màu các loại từ năm 1985. Khi gia đình ông đi miền Nam, toàn bộ diện tích đất trên vẫn có người ở nhà chăm sóc, cải tạo và thu hoạch. Thời điểm năm 2003, xã thực hiện chủ trương thu hồi và bán đất, có thông báo cho bố ông hay không thì ông không biết, còn khi đó gia đình ông đang ở trong miền Nam nên không nhận được thông báo nào cả. Thời điểm bố ông chết năm 2006, mẹ ông chết năm 2011, ông đều về quê, nhưng đến năm 2014 gia đình ông mới chính thức về xã A để sinh sống. Hiện tại gia đình ông có một vườn cây trên thửa đất đang tranh chấp gồm khoảng 20 đến 30 cây, sau năm 2017 thì ông H múc đi một số cây, nên ông trồng thêm khoảng 16 cây bạch đàn, 20 cây mít. Nay ông yêu cầu Tòa án hủy 02 giấy CNQSDĐ số 297/QĐUBND cấp ngày 12/11/2002 mang tên ông H và giấy CNQSDĐ số BE 110670 cấp ngày 29/3/2011 mang tên ông Q vì đất của hai người này chồng lấn lên đất của gia đình ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Nguyên đơn ông H yêu cầu ông P trả lại tài sản là quyền sử dụng diện tích đất đang tranh chấp, tại thửa đất số 278, tờ bản đồ số 03, được cấp giấy CNQSDĐ số w 300842 ngày 12/11/2002, và thửa đất số 44, tờ bản đồ số 09, được cấp giấy CNQSDĐ số BE 110670 ngày 29/3/2011; bị đơn ông P yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông H và Q, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh T là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nguồn gốc sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất: Diện tích tranh chấp hiện hữu tại hai thửa đất (số 278, tờ bản đồ số 03 và thửa đất số 44, tờ bản đồ số 09) trong đó thửa 278 mang tên ông H và thửa 44 mang tên ông Q (em trai ông H). Tại văn bản báo cáo số 96/BC-UBND ngày 26/10/2020 và sổ 03/BC-UBND ngày 07/01/2021 của UBND xã A thì thửa đất số 278, tờ bản đồ số 03 có diện tích 5.529 m2 thuộc đất nông nghiệp của xã. Sau khi chỉnh lý theo bản đồ địa chính năm 2000 chia ra nhiều thửa khác nhau, trong đó thửa 45 tờ bản đồ số 09 thuộc hộ ông P có diện tích 812 m2. Thửa đất số 44a, tờ bản đồ số 09, diện tích 100 m2 cấp cho ông Q theo giấy CNQSDĐ số BE 110670, ngày 29/3/2011 thuộc một phần thửa số 45 và một phần thửa số 17, tờ bản đồ số 04.

[3] Ông H trình bày: Năm 2002, ông X (bố ông P) đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 278 cho ông, sau đó ông X đưa tài liệu giấy tờ để ông H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông H đã được cấp giấy CNQSDĐ số w300842 ngày 12/11/2002. Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thể thu thập được (lý do: hồ sơ lưu trữ tại UBND huyện N bị ngấm nước, hư hỏng) nhưng ông H trình bày nội dung chuyển nhượng phù hợp nội dung giấy nhận tiền ngày 13/11/2002; phù hợp với nội dung UBND xã A cung cấp. Như vậy, mặc dù diện tích tranh chấp được ông P khai phá và trồng một số cây nhưng có căn cứ xác định thửa đất 278 đã được chuyển nhượng cho ông H; ông P biết và nhất trí việc chuyển nhượng của bố mình nên ông P cho rằng chỉ chuyển nhượng 400 m2 đất ở, còn phần diện tích ông khai phá để trồng cây không chuyển nhượng nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Vì vậy, không có căn cứ hủy giấy CNQSDĐ số w300842 do UBND huyện N cấp ngày 12/11/2002 cho ông H.

[4] Đối với diện tích thửa 44, tờ bản đồ số 9 có diện tích 100 m2: UBND xã A đã xác định diện tích trên thuộc quỹ đất hoang thuộc Cồn gai, mả dứa của xã, ông X khai phá và trồng một số cây nhưng không làm hợp đồng với xã, cũng chưa thực hiện nghĩa vụ về tài chính cho UBND xã. Năm 2003, UBND xã A thực hiện chủ trương quy hoạch, thu hồi những diện tích đất hoang hóa để đưa vào sử dụng, bán những người có nhu cầu. Ông H là người đăng ký mua đất và nộp tiền mua đất (do ông Q nộp) nên việc cấp giấy CNQSDĐ cho ông Q là có căn cứ.

[5] Đối với một số cây cối trên đất tranh chấp được xác định là do ông P trồng nhưng một số cây trên đất đã chuyển nhượng từ năm 2002 nên thuộc về người nhận chuyển nhượng là ông H; ông P cho rằng cây cối trồng 36 năm vẫn là tài sản của gia đình ông là không có căn cứ bởi lẽ quá trình thu hồi đất, chính quyền địa phương đã có thông báo thu hoạch cây cối đã trồng trên đất khai hoang, nếu không thực hiện thì phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn H có ý kiến sẽ tự nguyện bồi thường giá trị những cây trồng lâu năm trên đất. Cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông H về việc bồi thường cho ông P số tiền trị giá các cây trồng lâu năm trên đất là 4.080.000 đồng là hợp lý.

[6] Từ phân tích trên cho thấy, việc ông P cho rằng diện tích đất ông H đang sử dụng đã chồng lấn lên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông là không có cơ sở. Mặt khác, ông P không xuất trình được tài liệu chứng minh về quyền sử dụng diện tích đối với diện tích tranh chấp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo về việc hủy giấy CNQSDĐ mà UBND huyện N cấp cho ông H và ông Q, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân nhân tỉnh T.
  2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông P.
  3. Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
- VKSNDCC tại Hà Nội;
- TAND thành phố T;
- VKSND thành phố T;
- Cục THADS thành phố T;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu HS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Nguyễn Thị Thanh Xuân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2022/DS-PT ngày 15/03/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/03/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger