Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK


Bản án số: 46/2021/DSPT
Ngày 05-3 -2021
“Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức

Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Phương, bà Lưu Thị Thu Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Ngụ Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 297/2020/TLPT-DS ngày 08/12/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Duy H2 đối với Bản án sơ thẩm số: 37/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2021/QĐ-PT ngày 19 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1983; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn NT, xã CK, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Trần Văn C, bà Lê Thị H1; Trú tại: Thôn NT, xã CK, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Bùi Duy H2, sinh năm 1979; Trú tại: Số 223 Đường Đ, phường AL, thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
    • 3.2. Chi cục thi hành án dân sự huyện KB, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
  4. Người làm chứng:
    • 4.1. Ông Nguyễn Đình T1, bà Nguyễn Thị L1; Trú tại: Thôn NT, xã CK, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.
    • 4.2. Ông Nguyễn Đình Đ; Trú tại: Thôn EK, xã CN, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.
    • 4.3. Bà Lê Thị N; Trú tại: Thôn EK, xã CN, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.
    • 4.4. Ông Lê Văn L; Trú tại: Thôn NT, xã CK, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.
    • 4.5. Bà Võ Anh P; Trú tại: Thôn EK, xã CN, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk. (Đều vắng mặt)

* Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Duy H2 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Thị H trình bày:

Vợ chồng ông Nguyễn Đình T, Nguyễn Thị H và vợ chồng ông Trần Văn C, Lê Thị H1 làm rẫy giáp ranh giới với nhau tại thôn EK, xã CN, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk. Ông C, bà H1 có nhu cầu chuyển nhượng đất rẫy còn vợ chồng Trung, bà H có nhu cầu mua rẫy nên các bên thỏa thuận chuyển nhượng đất rẫy, cụ thể như sau:

Lần đầu, vào ngày 22/12/2015, ông C, bà H1 chuyển nhượng diện tích đất của 66 cây cà phê, hai bên chỉ đếm số lượng cây cà phê là 66 cây, giá chuyển nhượng là 38.280.000 đồng, tức tương đương 01 cây cà phê là 580.000 đồng. Có viết giấy tay và xác định tứ cận như sau:

  • Phía đông giáp đường và tiếp theo là giáp rẫy ông N1, bà N;
  • Phía nam giáp phần đất còn lại của ông C, bà H1;
  • Phía bắc giáp rẫy của vợ chồng ông T, bà H;
  • Phía tây giáp đất ông L (nay của ông Y);

Vợ chồng ông T đã trả cho ông C, bà H1 38.280.000 đồng.

Lần thứ hai, ngày 04/01/2016 vợ chồng ông C, bà H1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T 2000m2, giáp ranh với diện tích đất của 66 cây cà phê trên. Hai bên đo đạc lại diện tích đất là khoảng 2.000m2, có viết lại giấy sang nhượng đất; Giá chuyển nhượng 100.000.000 đồng. Vợ chồng ông T đã giao đủ tiền cho ông C, bà H1 và đã bàn giao đất cho vợ chồng ông T. Khi đó, trên đất chỉ có cà phê nhưng đã hư hỏng vì không được chăm sóc.

Toàn bộ diện tích của 02 lần chuyển nhượng trên đều thuộc một phần thửa đất số 43, tờ bản đồ số 83, tổng diện tích 11.365,2m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 499383, do UBND huyện KB cấp ngày 08/7/2014, đứng tên ông Trần Văn C, bà Lê Thị H1. Sau khi nhận bàn giao đất thì vợ chồng ông T đã phải nhổ bỏ hết cà phê và trồng lại toàn bộ cây trồng khác gồm khoảng 500 trụ tiêu, 10 cây bơ booth trồng năm 2016, 45 cây cà phê trồng năm 2017 và có đào 01 giếng vào năm 2018. Việc chuyển nhượng đất giữa hai gia đình có thôn xóm và những người gần rẫy đều biết.

Lần thứ ba, ngày 02/5/2017 do không còn khả năng đầu tư, chăm sóc rẫy nên ông C, bà H1 và vợ chồng ông T thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ phần diện tích đất rẫy còn lại cho vợ chồng ông T với giá 505.000.000 đồng, diện tích đất còn lại của thửa đất có tứ cận:

  • Phía đông giáp đường, tiếp theo là rẫy của ông N1, bà N;
  • Phía nam giáp đường mòn, tiếp theo là rẫy của ông H3, bà P;
  • Phía tây giáp rẫy ông Y;
  • Phía bắc giáp rẫy của vợ chồng ông T.

Trên đất có khoảng 738 trụ tiêu. Vợ chồng ông T đã trả đủ tiền cho ông C, bà H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho nguyên đơn không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn...

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các giấy chuyển nhượng ngày 22/12/2015 giữa ông Trần Văn C, bà Lê Thị H1 với ông Nguyễn Đình T, bà Nguyễn Thị H; giấy sang nhượng đất ngày 04/01/2016 giữa ông Trần Văn C với ông Nguyễn Đình T và giấy chuyển nhượng đất rẫy ngày 02/5/2017 giữa ông Trần Văn C, bà Lê Thị H1 với ông Nguyễn Đình T...

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Duy H2 – Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2020/DSST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 158, Điều 161, Điều 162, Điều 165, điểm e khoản 1 Điều 192; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự...

Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện Krông Búk;
- CCTHADS huyện KB;
- Đương sự;
- Công thông tin điện tử Tòa án;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà



(Đã ký)

Nguyễn Tấn Đức
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2021/DSPT ngày 05/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 46/2021/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các giấy chuyển nhượng ngày 22/12/2015 giữa ông Trần Văn C, bà Lê Thị H1 với ông Nguyễn Đình T, bà Nguyễn Thị H; giấy sang nhượng đất ngày 04/01/2016 giữa ông Trần Văn C với ông Nguyễn Đình T và giấy chuyển nhượng đất rẫy ngày 02/5/2017 giữa ông Trần Văn C, bà Lê Thị H1 với ông Nguyễn Đình T; Căn cứ vào Kết luận giám định số 91/PC09 ngày 24/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ; đồng thời căn cứ vào lời khai của các đương sự xác định được: Do có mối quan hệ quen biết nên từ năm 2015 đến năm 2017 vợ chồng ông Nguyễn Đình T, bà Nguyễn Thị Hiền đã nhận chuyển nhượng đất 03 lần của bị đơn là vợ chồng ông Trần Văn C, bà Lê Thị H1 như đã nên cụ thể như trên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger