|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Số: 4591/2024/DS-ST | Ngày: 24/9/2024 |
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5706/2024/QĐXXST–DS ngày 31 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 7232/2024/QÐST–DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Địa chỉ: H L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Thanh N – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 3150/7/2024/UQ-VPBank ngày 31/7/2024). (vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Võ Tuyết S, sinh năm: 1991.
Địa chỉ thường trú: 3 N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ tạm trú: A đường số C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
Ngày 12/8/2020, bà Võ Tuyết S ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ để vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Căn cứ thu nhập của bà S, ngân hàng cấp tín dụng với số tiền là 130.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 15,5%/năm, thời hạn cho vay là 60 tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà S đã vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng, các khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 01/11/2022.
Nay, ngân hàng yêu cầu bà S thanh toán số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng ngày 12/8/2020, tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 131.163.476 đồng, bao gồm: nợ gốc là 73.657.994 đồng và nợ lãi là 57.505.482 đồng; và tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 25/9/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Ngân hàng yêu cầu một mình bà S thanh toán tiền nợ, không yêu cầu trách nhiệm liên đới trả nợ đối với chồng bà S (nếu có).
2. Bị đơn bà Võ Tuyết S đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.
3. Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn bà Võ Tuyết S có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ bị đơn bà Võ Tuyết S đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng bà S vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn bà Võ Tuyết S.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
[2]. Về nội dung: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu bị đơn bà Võ Tuyết S thanh toán tổng số tiền còn nợ của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2008112654847 ngày 12/8/2020, tính đến ngày 24/9/2024 là 131.163.476 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/9/2024 đến khi thanh toán xong nợ.
Căn cứ vào lời khai của đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 05/01/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cấp tín dụng cho bà Võ Tuyết S vay số tiền 130.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân, lãi suất theo quy định tại hợp đồng, thời hạn vay là 60 tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 01/11/2022, ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 24/9/2024, bà S còn nợ tiền gốc là 73.657.994 đồng và nợ tiền lãi là 57.505.482 đồng.
Trong hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi, thỏa thuận về lãi suất theo biểu lãi suất của ngân hàng, bị đơn không thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Xem xét yêu cầu trả tiền nợ gốc, tiền lãi của ngân hàng là phù hợp thỏa thuận được quy định trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, buộc bà Võ Tuyết S phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2008112654847 ngày 12/8/2020, tạm tính đến ngày 24/9/2024 là 131.163.476 đồng và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng sau ngày xét xử đến khi thanh toán xong nợ.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được chấp nhận nên bị đơn bà Võ Tuyết S phải chịu án phí trên số tiền 131.163.476 đồng phải trả cho nguyên đơn. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Buộc bà Võ Tuyết S có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ của Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ LN2008112654847 ngày 12/8/2020, tính đến ngày 24/9/2024 là 131.163.476 đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu một trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm bảy mươi sáu) đồng; trong đó: nợ gốc là 73.657.994 (Bảy mươi ba triệu sáu trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi bốn) đồng, nợ lãi là 57.505.482 đồng (Năm mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn bốn trăm tám mươi hai) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Bà Võ Tuyết S phải chịu là 6.558.174 (Sáu triệu năm trăm năm mươi tám nghìn một trăm bảy mươi bốn) đồng.
2.2. H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp đã nộp là 2.310.231 (Hai triệu ba trăm mười nghìn hai trăm ba mươi mốt) đồng theo biên lai thu số 0000263 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, bà Võ Tuyết S vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 4591/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4591/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn
