Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 459/2024/DS-PT

Ngày 28-11-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 406/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 276/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 318/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trịnh Văn Đ, sinh năm: 1965. Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1970. Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1981. Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Thị H, sinh năm: 1971. Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
    2. Bà Trần Thị Cẩm N, sinh năm: 1997. Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
    3. Ông Trần Quang Đ2, sinh năm: 2001. Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
  • - Người kháng cáo: Trần Văn T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trịnh Văn Đ trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp, vào năm 1990 do ông Trịnh Văn H1 (Là cha ruột ông Trịnh Văn Đ) cùng ông Đ nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn T1 (Là cha ruột ông Trần Văn T) và của ông Trần Văn T2, địa chỉ ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau. Phần đất ông Đ nhận chuyển nhượng của ông T2 cũng có nguồn gốc từ đất của ông T1. Năm 1993, ông Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất C 124367, diện tích 5.500m². Đến năm 2003, ông Đ chuyển quyền sử dụng đất cho ông Trịnh Văn H1, năm 2019 ông H1 chuyển lại quyền sử dụng đất cho ông Đ. Khi nhận chuyển nhượng phía giáp ranh ông T có bờ nhỏ, phần bờ nằm bên phần ông Đ nhận chuyển nhượng.

Năm 2001, giữa hai bên có xảy ra tranh chấp sau đó có thống nhất lại ranh, có cặm cây gỗ địa phương. Ông Đ không thường xuyên ở địa phương, phần đất hàng năm thường do những người thân trong họ hàng canh tác. Khi chuyển dịch sang nuôi tôm, bờ cũ đã lở không còn, người canh tác đất là ông Trinh Văn M, địa chỉ ấp T, xã L đã đào thêm phần bờ lớn hơn để phục vụ việc nuôi tôm, sau này sử dụng đất sau này như ông Lê Văn N1, địa chỉ ấp R, xã L cũng có múc con bờ này. Đến năm năm 2022, ông T liên hệ cho ông Đ về địa phương để xác định cụ thể ranh đất để ông T đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông phát hiện phía ông T đã múc vuông phía ông T, lấn chiếm qua đất của ông Đ, hai bên không thống nhất được ranh nên phát sinh tranh chấp. Ông Đ xác định ông T lấn qua phần đất của ông yêu cầu ông T trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 387,9m².

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Trần Văn T là ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày:

Việc chuyển nhượng giữa ông H1 và ông T1 cụ thể như thế nào ông T không biết. Ông T được ông T1 cho sử dụng đất từ khoảng những năm 1996-1997. Đến năm 2001, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất T 044162 cho hộ ông Trần Văn T hộ ông Trần Văn T gồm có ông T, vợ ông T là bà Trần Thị H, các con là Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2, diện tích 7.600m².

Vào năm 2000, có đo đạc để xác định phần đất của ông T1 chuyển nhượng cho ông H1, việc này không có lập biên bản. Khi này ông T1 đã chết, ông T đại diện gia đình có xác định vị trí chuyển nhượng, khi này xác định vị trí chuyển nhượng chỉ hết phần đất ruộng, còn phần mương giáp lộ xe không có chuyển nhượng nhưng quá trình sử dụng đất phía ông Đ sử dụng luôn phần này, việc này ông T không đồng ý nhưng ông T không khởi kiện đối với ông Đ. Về phần tranh chấp, phần giáp ranh là hiện trạng bờ, được đào vào năm 2001, khi này do chuyển dịch sang nuôi tôm, hai bên cùng đào con bờ này, phía ông Đ là do ông Trịnh Văn M1 đào. Ông T xác định phần bờ mỗi người là ½, do vậy ông T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Đ, ông T đồng ý trả lại cho ông Đ ½ chiều ngang bờ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị H, bà Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2 thống nhất trình bày:

Tất cả thống nhất với trình bày của ông T và đại diện theo uỷ quyền của ông T, không có ý kiến gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Văn Đ. Buộc ông Trần Văn T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2 trả cho ông Trịnh Văn Đ phần đất diện tích 387,9m² (Thửa số 2, vị trí M21M15M3M2, kèm theo bản vẽ hiện trạng), toạ lạc ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 bị đơn là ông Trần Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đ, buộc ông Đ trả lại phần đất tiếp giáp với lộ hiện tại mà ông Đ lấn chiếm của ông có diện tích 1.200m².

Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ1 xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày cái bờ một nửa là của nguyên đơn một nửa là của bị đơn, bị đơn chỉ đồng ý trả một nửa bờ. Nguyên đơn trình bày đất của ông theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 5.500m² thì đất của ông thiếu, còn đất ông T dư.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 276/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo hướng: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ; buộc ông T, bà H, bà N, ông Đ2 trả cho ông Đ diện tích ½ cái bờ. Không chấp nhận một phần kháng cáo của ông T về việc yêu cầu ông Đ trả diện tích 1,200m² lý do trong giai đoạn sơ thẩm ông T không có yêu cầu giải quyết nên cấp phúc thẩm không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của bị đơn là ông Trần Văn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Theo trình bày của nguyên đơn là ông Đ thì phần đất tranh chấp là cái bờ khi ông H1 (cha ông Đ) nhận chuyển nhượng từ ông T1 (cha ông T) có thỏa thuận chuyển nhượng luôn cái bờ này nên thuộc về ông H1. Tại tờ chuyển nhượng đất lập ngày 09/9/1990 không thể hiện gì về cái bờ này.

Mặc khác trình bày của ông Trịnh Văn M1 là người thuê đất của ông Đ sử dụng thể hiện: Khoảng năm 2002, khi ông M1 nhận canh tác phần đất hiện đang có tranh chấp với ông T. Hiện trạng khi nhận sử dụng đất là đất trồng lúa, giữa hai phần đất có phần bờ lạng phía ngoài lộ Rạch R – Rau Dừa vào được đoạn khoảng 5-6m, mặt tiền và hậu có cặm cây gỗ địa phương làm ranh. Ông T là người chỉ cây cặm ranh để ông M1 biết vị trí đất để canh tác. Đến khi chuyển dịch sang nuôi tôm, ông M1 có đào bờ dài từ tiền đến hậu, bờ ngang hơn 3m, phía ông T không có đào bờ. Ông M1 sử dụng đất đến năm 2004, quá trình ông M1 sử dụng đất phía ông T không có đào bờ nhưng sau này có đào hay không thì ông không biết.

Theo trình bày của ông N1 là người sử dụng phần đất phía bên ông Đ từ khoảng từ năm 2016 đến năm 2022 xác định, khi ông N1 nhận đất canh tác, giữa đất ông Đ và ông T có phần bờ dài từ tiền đến hậu ngang khoảng 2m. Khoảng năm 2017, ông N1 có thuê múc bờ, ngang phía lộ Rạch Lăng khoảng 4m, ngang lộ Rạch R – Rau Dừa khoảng 03m. Quá trình ông N1 canh tác thì phía ông T có múc vuông 1 hay 2 lần, múc đất bỏ lên bờ có sẵn chứ không kè ra thêm phía ông T.

Theo ông Đ trình bày trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm xác định khi tách quyền sử dụng đất từ ông T1 sang thì ông Đ cũng không đo đạc thực tế tổng diện tích sử dụng mà chỉ tách trên giấy tờ. Diện tích ghi nhận trên giấy quyền sử dụng cũng chỉ thể hiện tổng diện tích đất mà hoàn toàn không thể hiện số đo chiều ngang và dài là bao nhiêu. Do vậy diện tích đất sử dụng thực tế nếu có sai lệch so với diện tích đã cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng là có thể xảy ra. Ông Đ cũng thừa nhận thời điểm nhận đất đó hiện trạng đã có bờ ngang 01m từ tiền đến hậu. Như vậy bờ hiện hữu đã có sẵn từ khi ông H1 nhận chuyển nhượng đất từ ông T1 phù hợp với trình bày của ông M1, ông N1 khi thuê đất sử dụng đã có bờ hiện hữu giữa hai bên.

Trong quá trình canh tác từ khi làm ruộng đến khi chuyển dịch sang nuôi tôm thì cả hai bên ông Đ và ông T đều có sử dụng và có cải tạo mở rộng thêm diện tích bờ này. Thực tế cả hai bên ông T và ông Đ đều cùng sử dụng chung phần bờ này làm đường đi lại tiện cho việc canh tác nuôi tôm, ngoài phần bờ này phía ông T và cả ông Đ chỉ có mương nước cặp bờ ranh này chạy dài từ tiền đến hậu mà không có thêm bờ nào khác, khi cải tạo múc vuông ông T cũng quăng đất lên phần bờ này. Như vậy có cơ sở chấp nhận phần diện tích đất tranh chấp là bờ chung của hai bên mỗi bên có quyền sử dụng ½ diện tích là phù hợp.

Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là ông Trịnh Văn Đ cũng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu nào chứng minh phần đất tranh chấp là toàn bộ cái bờ do phía bị đơn ông Trần Văn T lấn chiếm.

[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của ông T về việc yêu cầu ông Đ trả diện tích đất 1,200m². Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy trong giai đoạn sơ thẩm ông T không có yêu cầu giải quyết nên cấp phúc thẩm không xem xét.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông T. Sửa một phần Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo hướng chia đôi cái bờ mỗi bên ½ diện tích cụ thể: Lấy điểm giữa mặt tiền là A kéo dài điểm cuối mặt hậu là M15 làm cạnh để xác định ranh giới đất giữa hai bên đất của ông Đ và ông T, căn cứ theo Bản vẽ hiện trạng bổ sung ngày 27/11/2024 của Công ty TNHH MTV T3 thì diện tích bờ mỗi bên là vị trí AM15M2 có diện tích 194m² và AM15M3 có diện tích 193,9m².

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng: Ông Trịnh Văn Đ đã nộp chi phí đo đạc số tiền 17.119.000 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 400.000 đồng. Ông Đ yêu cầu phía bị đơn hoàn lại chi phí tố tụng cho ông Đ theo quy định của pháp luật. Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận ½, nên buộc phía bị đơn phải hoàn lại cho nguyên đơn ½ chi phí tố tụng của số tiền 17.519.000 đồng là 8.759.500 đồng.

[6] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2 phải chịu án phí đối với giá trị đất tranh chấp mà nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn ông Trịnh Văn Đ phải chịu án phí đối với phần giá trị đất tranh chấp không được chấp nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Văn T không phải chịu theo quy định, đã dự nộp được nhận lại.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 276/2024/DS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Văn Đ. Buộc ông Trần Văn T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2 trả cho ông Trịnh Văn Đ phần đất diện tích 194m² tại thửa số 2, vị trí AM15M2 (Kèm theo bản vẽ hiện trạng bổ sung ngày 27/11/2024 của Công ty TNHH MTV T3), toạ lạc ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Văn Đ về việc buộc ông Trần Văn T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2 trả cho ông Trịnh Văn Đ phần đất diện tích 193,9m² tại thửa số 2, vị trí AM15M3 (Kèm theo bản vẽ hiện trạng bổ sung ngày 27/11/2024 của Công ty TNHH MTV T3), toạ lạc ấp R, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2 phải trả cho ông Trịnh Văn Đ ½ chi phí tố tụng với số tiền là 8.759.500 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn năm trăm đồng).

    Đối với khoản tiền nêu trên, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền phải thanh toán thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

  4. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:
      • + Ông Trần Văn T, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Cẩm N, ông Trần Quang Đ2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 388.000 đồng (Ba trăm tám mươi tám nghìn đồng).
      • + Ông Trịnh Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 388.000 đồng (Ba trăm tám mươi tám nghìn đồng). Ngày 24/4/2023, ông Đ đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 2.228.000 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006618 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được đối trừ, ông Đ được nhận lại 1.840.000 đồng.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Văn T không phải chịu. Ngày 17/9/2024 ông T đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005586 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hùng Quang – Đinh Cẩm Đào

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 459/2024/DS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 459/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 1 phần kháng cáo, sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger