|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 459/2024/DS-PT Ngày 25 - 6 - 2024 V/v Tranh chấp Thừa kế. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | bà Huỳnh Thanh Duyên |
| Các Thẩm phán: | ông Lê Thành Long |
| bà Lê Thị Tuyết Trinh |
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 170/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 03 năm 2024.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1831/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
-
Bà Phạm Thị X; sinh năm 1946;
Địa chỉ: 3 đường C (nay là số A đường Đ), Khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
-
Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1941;
Địa chỉ: 3 đường C, Khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bà N: Bà Phạm Thị X;
Địa chỉ: 3 đường C (nay là số A đường Đ), Khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (theo Văn bản uỷ quyền ngày 30/12/2021);
-
Bà Phạm Thị H, sinh năm 1936;
Địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện hợp pháp của bà H: Ông Nguyễn Văn N1;
Địa chỉ: 3 đường C (nay là số A đường Đ), Khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (theo Văn bản uỷ quyền ngày 29/12/2021);
-
Bà Phạm Thị D (sinh năm 1935 chết 04/9/2019);
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà D gồm:
-
Chị Trần Thị H1;
Địa chỉ: A ấp M, xã M, huyện B, Vĩnh Long;
-
Chị Trần Thị P;
Địa chỉ: B Khóm D, đường H T, Phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long;
-
Chị Trần Thị N2, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long;
-
Anh Trần Văn P1;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long;
-
Chị Trần Thị H2;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long;
-
Anh Trần Văn L;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long;
-
Chị Trần Như L1;
Địa chỉ: Xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long;
-
- Bị đơn:
-
Bà Phạm Thị T, sinh năm 1949;
Địa chỉ: Tổ H, Khóm D, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
-
Chị Ngô Thị Bé D1, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Tổ H, Khóm D, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Chị Ngô Thị Bé D1;
Địa chỉ: Tổ H, Khóm D, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Thanh P2 là Luật sư Văn phòng Luật sư Trần Thanh P2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Tổ 3, Khóm 4, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long
-
Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Tổ G, Khóm D, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
-
UBND thị xã B, tỉnh Vĩnh Long;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành C – Chủ tịch;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn D2 –Phó chủ tịch;
Địa chỉ: Số A đường N, Khóm E, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
(Nguyên đơn bà Phạm Thị X, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N1, bà Trần Thị P, bị đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị T chị Ngô Thị Bé D1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Luật sư Trần Thanh P2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thanh T1 có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Đ, UBND thị xã B, tỉnh Vĩnh Long vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị N, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị D là nguyên đơn trình bày:
Vợ chồng cụ Phạm Văn T2 và cụ Phan Thị X1 có tất cả 05 người con gồm: 04 nguyên đơn và bà Phạm Thị T. Cụ T2 chết năm 2004, cụ X1 chết năm 1995 đều không để lại di chúc.
Vào năm 1964 cụ T2 và cụ X1 có mua 7 công đất ruộng và 4.673 m² đất vườn. Đến năm 1985 cụ T2 và cụ X1 không sống chung với nhau, cụ X1 cất nhà ra sống riêng. Năm 1990 hai cụ thỏa thuận phân chia tài sản, theo đó cụ X1 được quyền sử dụng 4 công đất ruộng, cụ T2 được quyền sử dụng 3 công đất ruộng và 4.673m² đất vườn. Năm 1995 cụ X1 chết, để lại 4 công đất ruộng sau đó bà T bán 4 công đất ruộng của cụ X1 và 3 công đất ruộng của cụ T2 để cất căn nhà tường (căn nhà hiện nay tọa lạc trên thửa đất số 93 đang tranh chấp thừa kế).
Ngày 12/7/2001 cụ T2 kê khai đăng ký quyền sử dụng 4.673m² đất vườn, đến ngày 12/4/2002 cụ Phạm Văn T2 được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 30, sau đó cụ T2 tách 217,1m² chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Đ1, diện tích còn lại là 4.455,9m². Năm 2004 cụ T2 chết, bà T làm thủ tục nhận thừa kế thửa đất 30 vào ngày 25/6/2005 nhưng không có sự đồng ý của các nguyên đơn. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T tách thửa 30 thành 02 thửa gồm: thửa 93 diện tích 4.362,8m² và thửa 94 diện tích 93m², bà T chuyển nhượng thửa 94 cho ông Lê Văn Đ, bà T tiếp tục tách 52,8m² thửa 93 chuyển nhượng anh Lê Thanh T1 (chồng chị Ngô Thị Bé D1), nay anh T1 đứng tên là thửa 441, đến ngày 31/7/2012 bà T sang tên cho con gái là Ngô Thị Bé D1 thửa 93 diện tích 4.296,6m², nay chị D1 đã được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Các nguyên đơn xác định: trong vụ án này không tranh chấp căn nhà tường mà bà T xây cất trên thửa 30, các nguyên đơn khởi kiện chỉ yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ T2 chết để lại là quyền sử dụng đất các thửa: 93 diện tích 4.296,6m² hiện do chị D1 đứng tên + 94, diện tích 93m² do ông Lê Văn Đ đứng tên + 441 diện tích 52,8m² do anh Lê Thanh T1 đứng tên cho 05 người con của cụ T2, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 93 của chị D1, cây trồng anh T1 trồng trên phần đất tranh chấp thừa kế thì anh T1 tự di dời.
3
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà D chết, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà D là các con của bà gồm: chị H1, anh P1, chị N2, chị P, chị H2, anh L và chị L1 đều có yêu cầu được nhận một kỷ phần thừa kế từ di sản của cụ T2 như ý nguyện của bà D.
Tại bản khai ý kiến và trong quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị T trình bày:
Thống nhất lời khai của các nguyên đơn về hàng thừa kế của cụ T2. Khi cụ T2 và cụ X1 chung sống có mua của người khác tổng cộng là 07 công đất ruộng và 4.673m² đất vườn. Thời gian sau, cụ T2 và cụ X1 tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, cụ T2 chia cho cụ X1 4 công đất ruộng, phần cụ T2 là 3 công đất ruộng và 4.673m² đất vườn. Khi còn sống cụ T2 có chuyển nhượng cho người khác một phần nên diện tích đất còn lại là 4.455,9m², phần đất này là tài sản riêng của cụ T2, cụ T2 đã cho bà T vào trước năm 1990 vì bà T là con út sống chung nhà nuôi dưỡng, chăm sóc cụ T2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 30 cấp cho hộ cụ Phạm Văn T2 trong hộ gồm có 02 người là cụ T2 và bà T.
Năm 2004 cụ T2 chết, bà T làm thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng thửa đất 30, sau đó bà có chiết chuyển nhượng cho ông Lê Văn Đ 93m², chiết chuyển nhượng cho anh Lê Thanh T1 52,8m² các nguyên đơn đều biết nhưng không ai tranh chấp. Đến ngày 18/7/2012 bà T chuyển nhượng cho con gái là chị Ngô Thị Bé D1 thửa số 93 diện tích 4.296,6m² với giá 300.000.000 đồng, nhưng khi làm thủ tục sang tên là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, bà T đã nhận đủ tiền và giao đất cho chị D1 quản lý sử dụng, trên phần đất này vợ chồng chị D1 và anh T1 đã cải tạo đất để trồng mít, chị D1 là người sử dụng hợp pháp thửa số 93 diện tích 4.296,6m².
Nay bà T không đồng ý yêu cầu của các nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế thửa đất 93 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị D1, vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T được cấp là hợp pháp, bà Thành lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho chị D1 cũng hợp pháp.
Tại đơn phản tố ngày 04/01/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Ngô Thị Bé D1 trình bày:
Chị là con của bà T, nguồn gốc thửa đất số 93 diện tích 4.296m² được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp cho hộ cụ Phạm Văn T2 vào năm 2002, vào thời điểm cấp giấy thì trong hộ chỉ có cụ T2 và bà T. Năm 2012 bà T chuyển nhượng thửa 93 cho chị với giá 300.000.000 đồng (nhưng làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất), chị D1 đã trả đủ tiền và nhận đất sử dụng đến nay, vợ chồng chị trồng mít trên đất không ai tranh chấp. Nay chị không đồng ý yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Trong trường hợp Tòa án xử chia thừa kế cho các nguyên đơn thì chị D1 yêu cầu Tòa án công nhận cho chị quyền sử dụng thửa đất 93 diện tích 4.296,6m² chị được tiếp tục sử dụng đất, chị sẽ cùng bà T chịu trách nhiệm trả giá trị kỷ phần thừa kế cho các nguyên đơn theo giá của Hội đồng định giá.
4
Tại các biên bản hòa giải, biên bản ghi lời khai ngày 03/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Thanh T1 (chồng của chị D1) trình bày:
Anh có nhận chuyển nhượng của bà T thửa đất số 441, diện tích 52,8m² hiện anh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với phần đất tranh chấp thửa số 93 diện tích 4.296,6m² là tài sản riêng của chị D1 do chị D1 dùng tiền riêng để nhận chuyển nhượng đất của bà T, nhưng cây trồng trên thửa đất này là tài sản chung của anh và chị D1 vì sau khi chị D1 nhận chuyển nhượng đất của bà T thì anh có trồng mít trên đất. Anh không đồng ý yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Ông Lê Văn Đ đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và không dự phiên tòa.
UBND thị xã B có đơn xin xét xử vắng mặt, không có ý kiến về việc giải quyết vụ án
Tại Bản án sơ thẩm số: 02/2022/DS-ST ngày 25/3/2022 quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 93, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.296,6m², loại đất ở và đất trồng cây lâu năm, tọa lạc khóm D, phường T, thị xã B do Ủy ban nhân dân thị xã B ký cấp ngày 31/7/2012 cho chị Ngô Thị Bé D1. Công nhận cho chị D1 được quyền sử dụng thửa đất 93. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Buộc bà T và chị D1 phải trả cho bà X, bà H, bà N, bà D mỗi người một kỷ phần thừa kế tương ứng 319,67m² đất tính bằng số tiền 90.412.000 đồng.
Tại bản án phúc thẩm số: 513/2022/DS-PT ngày 08/8/2022 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số: 02/2022/DS-ST ngày 25/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại vụ án, với lý do: thửa đất 93 diện tích 4.296,6m² là di sản của cụ T2 chết để lại, chia di sản của cụ T2 thành 06 kỷ phần thì mỗi kỷ phần bằng 639,6m² trường hợp này bảo đảm đủ điều kiện để chia hiện vật cho các nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm không chia hiện vật mà chia giá trị cho nguyên đơn là không đúng qui định, nên hủy án sơ thẩm giao hồ sơ về cấp sơ thẩm tiến hành khảo sát, đo đạc lại và định giá cây trồng trên đất để giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.
Sau khi thụ lý lại vụ án sơ thẩm (lần 2), các nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:
Rút lại yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 93 của chị D1. Yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng (tặng cho) quyền sử dụng đất thửa 93 ký ngày 18/7/2012 giữa bà T với chị D1. Chia thừa kế theo pháp luật di sản của cụ T2 để lại gồm: quyền sử dụng đất thửa 93, loại đất ở và cây lâu năm, diện tích
5
đo đạc thực tế là 3.836,1m² theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 01/6/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V và phần đất bà T bán cho ông Đ 93m², bán cho ông T1 52,8m² (như vậy diện tích đất đặt ra chia thừa kế là 3.981,9m²) cho 05 người con của cụ T2, bà X yêu cầu chia làm 06 phần, trong đó chia cho bà T 02 phần, còn lại 04 chị em mỗi người một phần, chị H1 yêu cầu chia 05 phần bằng nhau. Căn cứ theo trích đo ngày 01/6/2021 chia đất ở vị trí như sau: Phần bà X, bà H và bà N hưởng chung 03 suất thừa kế, loại đất cây lâu năm, vị trí phía trong cùng của thửa đất; phần thừa hưởng của bà D một suất thừa kế, vị trí giáp phía trước bà X, loại đất cây lâu năm; phần đất còn lại phía trước giáp với đường đal chia cho bà T, loại đất ở và cây lâu năm. Do phần đất chia cho bà X, bà H, bà N và bà D nằm phía sau đất của bà T không tiếp giáp đường công cộng nên khi chia đất phải có đường đi ngang 02m để đi ra đường C, đường đi nằm bên phần đất giáp thửa 29 và 465.
Ý kiến của bà Phạm Thị T:
Thửa đất số 30 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ, trong hộ sử dụng đất có bà và cụ T2, như vậy cụ T2 được quyền sử dụng ½, bà được quyền sử dụng ½. Cụ T2 chết không để lại di chúc nên chỉ ½ thửa đất thuộc quyền sử dụng của cụ T2 là di sản thừa kế sẽ chia theo pháp luật, ½ thửa đất còn lại thuộc quyền sử dụng của bà không phải di sản nên không đặt ra chia thừa kế. Nay bà đồng ý chia thừa kế di sản của cụ T2 nhưng yêu cầu chia làm 06 phần, trong đó bà được hưởng 2/6 lý do bà có công nuôi dưỡng cụ T2 và tôn tạo đất, còn lại 4/6 chia cho các đồng thừa kế là bà X, bà N, bà H và bà D. Tuy nhiên, bà không đồng ý chia thừa kế bằng hiện vật cho các đồng thừa kế mà bà yêu cầu chia giá trị, tức bà trả tiền giá trị đất cho bà X, bà N, bà H và bà D theo giá thị trường, vì phần đất hiện nay bà đã chuyển nhượng cho chị D1, bà hiện không còn đất để giao cho các đồng thừa kế. Phần đất mà bà bán cho ông Đ và anh T1 là phần đất thuộc quyền sử dụng của bà, không nằm trong di sản thừa kế của cụ T2 nên bà không yêu cầu giải quyết. Bà không đồng ý vô hiêu hợp đồng chuyển nhượng (tặng cho) quyền sử dụng đất với chị D1, trong trường hợp tòa án xử vô hiệu hợp đồng thì bà không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu trong vụ án này, mà để bà với chị D1 tự giải quyết với nhau.
Ý kiến chị Ngô Thị Bé D1:
Không đồng ý vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng (tặng cho) quyền sử dụng đất thửa 93 ký ngày 18/7/2022 giữa chị với bà T, lý do việc chuyển nhượng là hợp pháp, chị đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang sử dụng đất nên yêu cầu công nhận cho chị được tiếp tục sử dụng đất. Trong trường hợp Tòa án xử vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng (tặng cho) quyền sử dụng đất thì chị không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu trong vụ án này mà để chị với bà T tự giải quyết với nhau. Chị không yêu cầu nguyên đơn bồi thường giá trị cây trồng trên đất.
Ý kiến anh Lê Thanh T1:
6
Anh không yêu cầu định giá các cây mít anh trồng trên phần đất tranh chấp. Tòa án xử chia đất cho ai thì người đó được sở hữu cây trồng trên đất, anh không yêu cầu bồi thường giá trị cây trồng trên đất cho anh.
Sau khi thụ lý lại vụ án sơ thẩm (lần 2), Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến hành thủ tục khảo sát, đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đất tranh chấp và cây trồng trên đất để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, bà T, chị D1 và anh T1 cương quyết không cho đoàn công tác vào khu đất để thực hiện nhiệm vụ. Do đó, việc đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá cây trồng trên đất không thực hiện được, Hội đồng định giá chỉ định được giá đất theo giá thị trường là 2.951.880đ/m² đất thổ, 1.923.600đ/m² đất cây lâu năm.
Quan điểm Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Chỉ có ½ diện tích đất tranh chấp là di sản của cụ T2, ½ diện tích còn lại tài sản riêng của bà T. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chỉ đặt ra chia thừa kế đối với phần đất là di sản của cụ T2, trong đó chia cho bà T 02 phần do bà có công nuôi dưỡng cụ T2 và giữ gìn tôn tạo đất, còn lại 04 phần bà T sẽ hoàn giá trị đất cho các đồng thừa kế chứ không giao đất. Đối với hợp đồng tặng cho (chuyển nhượng) quyền sử dụng đất giữa bà T với chị D1 không cần thiết tuyên vô hiệu vì bà T đồng ý hoàn tiền giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế. Yêu cầu công nhận cho chị D1 quyền sử dụng thửa đất số 93.
Tại Bản án số 36/2023/DS-ST ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Áp dụng: các Điều 468, 612, 618, 624, 630, 650, 651, 652 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 122, 127, 128, 135, 634 Bộ luật Dân sự 2005; các Điều 230, 232, 637 Bộ luật Dân sự 1995; Điều 166, Điều 170 Luật Đất đai 2013; các Điều 12, 27, 28 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Đình chỉ xét xử đối yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 93, tờ bản đồ số 7, thị trấn C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, do UBND thị xã B ký cấp cho chị Ngô Thị Bé D1 ngày 31/12/2012.
-
Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 17/8/2012 giữa bà Phạm Thị T với chị Ngô Thị Bé D1 đối với thửa đất số 93 tờ bản đồ số 7, thị trấn C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
-
Chia cho bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị H và bà Phạm Thị N được quyền sử dụng chung 900m² đất trồng cây lâu năm thuộc chiết thửa 93, tờ bản đồ số 7, thị trấn C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, vị trí thửa đất gồm các mốc 3, 4, 5, B, A, 3 theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 30/10/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V và sở hữu cây trồng gắn liền trên đất.
7
-
Chia cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị D gồm: Trần Văn P1, Trần Thị N2, Trần Thị H2 ,Trần Văn L, Trần Thị P, Trần Thị Như L2 và Trần Thị H1 được quyền sử dụng 300m² đất trồng cây lâu năm thuộc chiết thửa 93, tờ bản đồ số 7, thị trấn C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, vị trí thửa đất gồm các mốc B, D, E, 5, B theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 30/10/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V và sở hữu cây trồng gắn liền trên đất.
-
Chia cho bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị N và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị D (gồm:Trần Văn P1, Trần Thị N2, Trần Thị H2,Trần Văn L, Trần Thị P, Trần Thị Như L2 và Trần Thị H1) được quyền sử dụng chung 129,7m² đất trồng cây lâu năm, thuộc chiết thửa 93, tờ bản đồ số 7, thị trấn C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, vị trí thửa đất gồm các mốc A, B, D, 2', C, 1, 2, A theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 30/10/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V và sở hữu cây trồng gắn liền trên đất.
-
Công nhận cho chị Ngô Thị Bé D1 quyền sử dụng 2.443,4m² đất (trong đó có 120m² đất ở đô thị còn lại 2.323,4m² đất trồng cây lâu năm) thuộc chiết thửa 93, tờ bản đồ số 7, thị trấn C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, vị trí thửa đất gồm các mốc D, E, f, e, 7, 8, d, c, b, a, 10, C, 2', D theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 30/10/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V và sở hữu cây trồng gắn liền trên đất.
-
Buộc bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị H, bà Phạm Thị N mỗi người hoàn trả cho bà Phạm Thị T tiền giá trị đất chênh lệch 31.499.000 đồng (ba mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn đồng).
Buộc những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị D gồm: Trần Văn P1, Trần Thị N2, Trần Thị H2 ,Trần Văn L, Trần Thị P, Trần Thị Như L2 và Trần Thị H1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Phạm Thị T tiền giá trị đất chênh lệch 31.499.000 đồng (ba mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn đồng).
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Các đương sự được chia quyền sử dụng đất, được công nhận quyền sử dụng đất, có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký biến động đất đai theo quy định pháp luật
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05/01/2024, nguyên đơn bà Phạm Thị X, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn cụ Phạm Thị D là chị Trần Thị H1 kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
8
Nguyên đơn bà Phạm Thị X, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn cụ Phạm Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
Đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tranh luận: Đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm vì đất trên đã cấp cho hộ, bà T được hưởng ½ diện tích đất trên, ½ diện tích còn lại chia thừa kế như bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy ngày 12/1/2001 cụ T2 đăng ký với thửa đất 30 với hình thức cấp cho hộ gia đình, theo hồ sơ đăng ký chỉ có tên bà T được đăng ký tại phần liệt kê các thành viên trong hộ gia đình, như vậy mặc dù cụ T2 tạo lập cá nhân nhưng khi thực hiện quyền của người sử dụng đất thì cụ T2 đồng ý cho bà Thành đ đứng tên nên có cơ sở để xác lập quyền sử dụng đất của bị đơn. Sau khi cụ T2 mất thì bà T tự ý kê khai và tặng cho bà D1 mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế nên có cơ sở hủy 1 phần hợp đồng tặng cho. Do đó, phần diện tích đất còn lại lấy ½ chia thừa kế theo pháp luật theo như Bản án sơ thẩm. Phần đất chia theo thực tế cho bà X bà H, bà N, bà D nhiều hơn so với kỷ phần được hưởng nên yêu cầu hoàn tiền giá trị đất chênh lệch cho bà T là có cơ sở. Bà X, bà H1 kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới làm thay đổi nội dung giải quyết vụ án nên không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
-
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị X và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phạm Thị D là bà Trần Thị H1 nộp trong thời hạn quy định của pháp luật, nên hợp lệ.
-
Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà D1 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
Thời hiệu khởi kiện: cụ Phạm Văn T2 (chết năm 2004), đến ngày 19/3/2019, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ T2 để lại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn còn thời hiệu khởi kiện.
9
Về nội dung:
-
Xác định hàng thừa kế:
Các đương sự thống nhất cụ Phạm Văn T2 có tất cả 05 người con gồm: Phạm Thị X, Phạm Thị N, Phạm Thị H, Phạm Thị D và Phạm Thị T, cụ T2 không có con riêng, không có con nuôi. Căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định 05 người con của cụ T2 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
-
Về xác định di sản thừa kế:
Nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T2 để lại diện tích 4.296,6m² (thửa 93), các bên thống nhất diện tích đo đạc thực tế 3.836,1m² và phần đất bà T bán cho ông Đ 93m² (thửa 94), bán cho ông T1 52,8m² (một phần thửa 93 cũ nay là thửa 441). Tổng diện tích các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là 3.981,9m².
Toà án cấp sơ thẩm nhận định: Tuy tài sản là của cá nhân cụ T2 song năm 2001 khi cụ T2 kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, cụ đã tự nguyện đăng ký hình thức hộ gia đình, trong hộ gồm 2 thành viên là cụ T2 và bà T, như vậy cụ T2 đã tự nguyện cho bà T được quyền sử dụng đất chung diện tích đất trên. Nên, cụ T2 và bà T có quyền và nghĩ vụ ngang nhau trong việc sử dụng thửa đất trên. Vì vậy, xác định di sản của cụ T2 là ½ diện tích đất mà các nguyên đơn yêu cầu chia.
Xét thấy, nguồn gốc đất mà các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là của cụ T2 tạo lập. Ngày 12/7/2001, cụ T2 có đơn đăng ký quyền sử dụng đất. Ngày 12/4/2002, UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 30 diện tích 4.673m² (sau này là thửa 93) cho hộ cụ Phạm Văn T2. Mặc dù thời điểm này, hộ cụ T2 gồm có 2 thành viên là cụ T2 và bà T. Tuy nhiên theo Luật Đất đai năm 1993 và 2003 thời điểm này chưa nêu rõ khái niệm như thế nào là hộ gia đình. Đến Luật Đất đai năm 2013 thì tại khoản 29 Điều 3 quy định giải thích hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Theo khái niệm trên, hộ gia đình sử dụng đất phải đáp ứng các yếu tố:
-
Có quan hệ hôn nhân (vợ, chồng), quan hệ huyết thống (cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại,..), quan hệ nuôi dưỡng (cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi)
-
Đang sống chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất (thời điểm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận cho, nhận thừa kế,...)
-
Có quyền sử dụng đất chung bằng các hình thức như: cùng nhau đóng góp, tạo lập hoặc được tặng cho, thừa kế chung...
Đối chiếu quy định trên thì yếu tố thứ 3 bà T không thoả mãn. Do vậy, việc UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cho hộ cụ T2 trên cơ sở quá trình sử dụng đất của cụ T2, không phải trường hợp giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình sản xuất. Toà án cấp sơ thẩm cho rằng tại thời điểm này
10
thành viên hộ có cụ T2 và bà T nên thửa đất số 93 là tài sản chung của cụ T2 và bà T; từ đó xác định di sản thừa kế của cụ T2 để lại là ½ quyền sử dụng thửa đất là không có cơ sở.
Hơn nữa, bản thân bà T cũng xác định thửa đất số 93 là tài sản của cụ T2; trước đây cụ T2 đã tặng cho bà T do bà T sống chung với cụ T2. Tuy nhiên, bà T không đưa ra được chứng cứ chứng minh về việc cụ T2 tặng cho.
Do đó, có cơ sở xác định phần diện tích đất còn lại 3.981,9m² của thửa đất số 93 là di sản của cụ T2 để lại.
-
Để chia thừa kế bằng hiện vật, cần tiến hành định giá cây trồng trên đất tương ứng với diện tích đất mỗi thừa kế được hưởng để buộc người nhận thừa kế bằng hiện vật hoàn trả giá trị cây trồng, tài sản trên đất cho chủ sở hữu hợp pháp. Đồng thời cần xác định vị trí, tứ cận của từng kỷ phần được chia, lối đi giữa các phần diện tích đất và phần mộ trên đất. Những nội dung này cấp sơ thẩm chưa thực hiện được nên cấp phúc thẩm không thể thực hiện tại phiên toà được. Nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Phạm Thị D là bà Trần Thị H1, huỷ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho toà án về toà án cấp sơ thẩm xử lại theo quy định pháp luật.
-
Về án phí:
Án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định khi xét xử lại sơ thẩm vụ án.
Án phí phúc thẩm: Do bản án bị huỷ, nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị X và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị D3 (có người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị H1).
Huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 21/12/2023 của Toà án nhân tỉnh Vĩnh Long.
Chuyển hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm lại vụ án.
Về án phí:
Án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định khi xét xử lại sơ thẩm vụ án.
Án phí phúc thẩm: Do bản án bị huỷ, nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị D3 do bà Trần Thị H1 đại diện được nhận lại 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm
11
ứng án phí số 0014885 ngày 10/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thanh Duyên |
12
Bản án số 459/2024/DS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 459/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo, huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
