|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 459/2024/DS-PT Ngày: 04.11.2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 297/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 417/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Thái Thị Thu V, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số I ấp Đ, xã Đ, huyện C, TP .. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Đỗ Vinh Q - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.
-
- Bị đơn: Ông Võ Văn D, sinh năm 1970.
Địa chỉ: KV H, phường T, quận Ô, TP .. -
Đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Võ Văn T, sinh năm 1955.
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, TP (Văn bản ủy quyền ngày 10/6/2024). - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn S, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, TP ..
-
Người làm chứng:
- Ông Mai Văn C, sinh năm 1976. (Xin vắng mặt)
- Ông Trần Phi L, sinh năm 1980. (Xin vắng mặt)
- - Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Văn D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Thái Thị Thu V trình bày: Bà Thái Thị Thu V với ông Võ Văn D có thỏa thuận đặt cọc mua lúa nhiều lần với nhau, bà V đưa cho ông Võ Văn D số tiền cọc 140.000.000 đồng để mua lúa cho bà V (vì ông D là cò mua lúa), thỏa thuận là: “ông D mua được cho bà V số lượng lúa bao nhiêu thì bà V sẽ trực tiếp trả tiền cho chủ lúa, còn khoản tiền cọc trên thì bà V sẽ trừ dần cho ông D theo số tiền ông D đã đặt cọc trước cho chủ lúa khi bà V đã nhận lúa, nếu ông D không mua được lúa cho và V thì ông D phải trả lại cho bà V số tiền cọc và phải bồi thường cho bà V gấp hai lần số tiền cọc”. Sau khi ông D nhận tiền cọc thì mua được cho bà V 100 tấn lúa, trừ tiền cọc 50.000.000 đồng, ông D còn nợ lại bà V là 90.000.000 đồng để tiếp tục mua lúa thêm cho bà V. Đối với số tiền 90.000.000 đồng, bà V giao cho ông D 02 lần: lần thứ nhất giao 30.000.000 đồng (ngày 01/7/2023) và lần thứ hai 60.000.000 đồng (ngày 03/7/2023). Nhưng đến nay, ông D không mua thêm lúa cho bà V và không trả lại số tiền cọc còn lại cho bà V. Nhiều lần bà V yêu cầu trả lại số tiền cọc còn nợ nhưng ông D không thực hiện. Đến ngày 28/7/2023, ông Võ Văn D viết tờ “Biên nhận”, nội dung ông D nhận còn nợ bà V tổng số tiền là 130.000.000 đồng, trong đó gồm: Tiền nợ cọc là 90.000.000 đồng, tiền bồi thường cọc (ghi nhận là tiền lãi) là 40.000.000 đồng, vì ông D đã xin giảm số tiền bồi thường cọc là 50.000.000 đồng, thay vì số tiền ông D phải bồi thường cọc đúng cho bà V là 90.000.000 đồng (tức gấp đôi số tiền cọc còn nợ) như đã thỏa thuận nêu trên. Theo tờ “Biên nhận”, ông Võ Văn D hẹn đến ngày 02/8/2023 sẽ trả hết số nợ trên cho bà V. Do đó, bà V yêu cầu ông D phải trả số cho bà V số tiền 130.000.000 đồng theo Tờ biên nhận ngày 28/7/2023.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Võ Văn T trình bày:
Ông Võ Văn D là cò lúa và chỉ làm ăn mua bán lúa với ông Đặng Văn S là thương lái mua lúa, không có làm ăn chung với bà V, việc bà V có hùn hạp làm ăn chung với ông S hay không thì ông D hoàn toàn không biết. Ông D thừa nhận chữ viết và chữ ký Võ Văn D được thể hiện tại Tờ Biên nhận này 28/7/2023 là của ông D. Về nội dung của Tờ biên nhận ngày 28/7/2023, ông D cho rằng không chính xác vì giữa ông D và bà V không có giao kết hợp đồng đặt cọc, ông D không có nhận của bà V bất cứ số tiền nào, ông D ký vào tờ biên nhận là vì ông D nhờ ông Đặng Văn S ghi dùm biên nhận nợ giữa ông D và ông K (khi ghi biên nhận ngày 28/7/2023 không có mặt không K), việc D và ông K nợ nần với nhau không liên quan gì đến ông Đặng Văn S và bà Thái Thu V, khi ông S ghi sai thì ông D có nói là hủy bỏ tờ biên nhận ngày 28/7/2023. Việc ông D ký tên vào Tờ biên nhận nợ ngày 28/7/2023, là do ông D có trình độ nhận thức thấp, nên ký tên vào tờ biên nhận. Quá trình mua bán lúa với ông S thì ông D không có thiếu tiền nợ ông S vì ông chỉ là cò lúa dắt ông S mua lúa. Ông Đặng Văn S có kêu ông D đến quán cà phê để nhận tiền cọc mua lúa thì có bà Thái Thị Thu V trực tiếp đưa cho ông D số tiền 02 lần tiền là 90.000.000 đồng, ông S có trực tiếp đưa thêm cho ông D 50.000.000 đồng, tổng cộng số tiền ông D nhận 140.000.000 đồng (ông D đã trừ 50.000.000 đồng), nên còn lại là 90.000.000 đồng. Ông D khẳng định là vẫn còn giữ số tiền cọc của ông S 90.000.000 đồng. Nên, ông D không đồng ý trả cho bà V số tiền 130.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn S trình bày: Ông S khẳng định số tiền cọc bà V đưa cho ông D 90.000.000 đồng gồm 02 lần, lần thứ nhất vào ngày 01/7/2023 là 30.000.000 đồng và lần thứ hai vào ngày 03/7/2023 là 60.000.000 đồng, đây là tiền của bà V không phải của ông S, vì ông S không có liên quan đến việc giao nhận cọc giữa bà V và ông D. Đối với Tờ biên nhận ngày 28/7/2023, thì ông D đọc lại rất kỹ và là người trực tiếp ký tên vào tờ biên nhận còn nợ 130.000.000 đồng, không có việc ông D nhờ ông S viết biên nhận dùm cho ông K mà viết sai nội dung gì cả, mà đó là Tờ biên nhận ông D xác nhận còn nợ bà V số tiền cọc 90.000.000 đồng và tiền phạt cọc 40.000.000 đồng, khi đó ông S là người trực tiếp chứng kiến. Ông S hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của bà V.
Tại bản án sơ thẩm số 66/2024/TLST-DS, ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã tuyên xử như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Thu V đối với ông Võ Văn D.
Buộc ông Võ Văn D có nghĩa vụ trả cho bà Thái Thị Thu V số tiền 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 22/7/2024, bị đơn ông Võ Văn D có đơn kháng cáo yêu cầu cấp Phúc thẩm xem xét lại án sơ thẩm, ông D cho rằng không trực tiếp hợp đồng với bà V nên không đồng ý trả só tiền 130.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn ông Võ Văn D trình bày: Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị xem xét lại ngày ký biên nhận thì bà V không có mặt chứng tỏ ông D không ký hợp đồng mua bán lúa với bà V nên không có trách nhiệm trả 130.000.000 đồng cho bà V.
Nguyên đơn bà Thái Thị Thu V trình bày: Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông Võ Văn D. Khi nguyên đơn khởi kiện đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho toà án, ông D đã nhận tiền đặt cọc mua lúa của bà V và ký vào tờ biên nhận 28/7/2023. Đề nghị xem xét, ông D có lời khai đã nhận tiền từ bà V hai lần tổng số tiền là 90.000.000 đồng nhưng nay lại khai khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn S trình bày: Ông S khẳng định ông D có nhận tiền cọc mua lúa cho bà V hai lần tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Nhưng đến ngày hẹn, thì giá lúa lên nên ông D không giao lúa cho bà V mà bán lại cho người khác, không trả tiền đã nhận cọc cho bà V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Nhận thấy, trên cơ sở lời trình bày của các đương sự và qua diễn biến tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Võ Văn D thực hiện thủ tục kháng cáo đúng thời hạn và nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.
[3] Về nội dung tranh chấp và yêu cầu kháng cáo của bị đơn, xét thấy:
[3.1] Theo tài liệu chứng cứ là Biên nhận nợ ngày 28/7/2023, nội dung thể hiện ông D nhận tiền mua lúa cho bà V nhưng không đủ lúa giao nên đồng ý trả lại tiền cọc 90.000.000 đồng và tiền lời 40.000.000 đồng.
Theo bà V cho rằng ngày 12/5/2023, bà V có giao cho ông D 140.000.000 đồng tiền cọc để mua lúa cho bà V. Sau khi nhận tiền, ông D chỉ giao được 100 tấn lúa nên bà V đã trừ số tiền 50.000.0000 đồng vào tiền cọc, như vậy ông D còn giữ của bà V số tiền cọc còn lại 90.000.000 đồng, nhưng không tiếp tục mua lúa theo thỏa thuận. Đến này 28/7/2023, ông D ký vào tờ biên nhận xác nhận còn nợ bà V số tiền cọc 130.000.000 đồng, trong đó tiền nợ cọc là 90.000.000 đồng, tiền bồi thường cọc 40.000.000 đồng (biên nhận ghi là tiền lãi). Ông D hẹn đến ngày 02/8/2023 sẽ trả nhưng không thực hiện.
Quá trình giải quyết vụ án, ông D thừa nhận chữ ký và chữ viết Võ Văn D trong tờ biên nhận ngày 28/7/2023 là của ông D, nhưng cho rằng ông nhờ ông S ghi dùm biên nhận nợ giữa ông D và ông K (lúc ghi biên nhận không có mặt ông K, ông K cũng không liên đến ông và bà V), không phải là nội dung xác nhận nợ của bà V, nội dung biên nhận không chính xác vì giữa ông và bà V không có giao kết hợp đồng đặt cọc, ông không nhận số tiền nào của bà V. Tuy nhiên, ông D không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc ký tên vào biên nhận là sự nhầm lẫn hoặc bị ép buộc vào thời điểm ký nên lời trình bày của ông D không có cơ sở thuyết phục.
Mặt khác, tại Biên bản hòa giải ngày 21/5/2024, ông D trình bày: “...ông S có kêu ông D đến quán cả phê để nhận tiền cọc mua lúa, lúc này có bà V trực tiếp đưa cho ông D 02 lần số tiền là 90.000.000 đồng, ông S có trực tiếp đưa thêm cho ông D 50.000.000 đồng, tổng cộng số tiền ông D nhận 140.000.000 đồng (ông D đã trừ 50.000.000 đồng) nên còn lại 90.000.000 đồng”. Như vậy, lời trình bày của ông D về số tiền còn nợ là phù hợp với nội dung biên nhận ngày 28/7/2024.
Đối chiếu lời thừa nhận của ông D tại Biên bản hòa giải ngày 21/5/2024, với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn S và 02 người làm chứng Mai Văn C và Trần Phi L về việc bà V có giao cho ông D 02 lần tiền, lần thứ nhất ngày 01/7/2023 là 30.000.000 đồng và lần thứ hai ngày 03/7/2023 là 60.000.000 đồng là không có sự mâu thuẩn.
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “... Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”. Từ các cơ sở trên, chứng minh ông D có nhận tiền cọc mua lúa cho bà V và còn nợ lại số tiền cọc là 90.000.000 đồng. Do ông D vi phạm nghĩa vụ không thực hiện đúng thoả thuận nhận tiền cọc nhưng không giao lúa cho bà V nên phải trả lại số tiền đã nhận.
[3.2] Đối với số tiền phạt cọc, quá trình thực hiện giao dịch theo thoả thuận ông D không thực hiện được thì phải chịu số tiền phạt cọc. Tuy nhiên, theo biên nhận ngày 28/7/2023, giữa bà V và ông D đã thỏa thuận số tiền còn nợ cọc là 90.000.000 đồng cùng số tiền phạt cọc là 40.000.000 đồng, (trong tờ biên nhân ghi là tiền lời), sự thỏa thuận này có lợi cho ông D và hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V buộc ông D phải trả số tiền 130.000.000 đồng là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận. Xét quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn D.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Thu V đối với ông Võ Văn D.
-
Buộc ông Võ Văn D có nghĩa vụ trả cho bà Thái Thị Thu V số tiền 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Võ Văn D chịu 6.500.000 đồng;
- - Bà Thái Thị Thu V được nhận lại 3.250.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004586 ngày 14/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Văn D phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004726 ngày 24/7/2024 tại Chi cục thi hánh án dân sự quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bích Hải |
Bản án số 459/2024/DS-PT ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 459/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
