|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 458/2025/DS-PT
Ngày: 31 - 12 -2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Ông Hoàng Rung K'Nhơn
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Xuân Hiếu là thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Đinh Tiến Hoà – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 09/2025/DS-ST ngày 15-7-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Lâm Đồng bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 572/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 414/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Lê Nữ Hàng D, sinh năm 1986; địa chỉ: Hẻm A L, phường B, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Hẻm A L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số A L, phường A B, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Số A L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng). (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 02-01-2025). Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Đình T - Luật sư, Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1985; địa chỉ: Số B Â, phường B, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Số B Â, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trịnh Xuân H, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Số G, thôn B, xã H, tỉnh Lâm Đồng. (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 30-12-2025)
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Xuân H, sinh năm: 1973; nơi thường trú: Số B Â, phường B, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Số B Â, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng). Nơi cư trú hiện nay: thôn B, xã H, tỉnh Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Ông Trịnh Xuân H – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23-12-2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Lê Nữ Hàng D và người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Xuân L trình bày:
Vào ngày 17-5-2023 bà D cho bà L1 vay số tiền 1.000.000.000 đồng để bà L1 sử dụng vào việc đáo hạn ngân hàng và lo kinh tế cho gia đình bà. Lãi suất thỏa thuận theo mức lãi suất của ngân hàng, thời gian vay tính từ ngày 17-5-2023 đến ngày 17-01-2024. Sau khi nhận đủ tiền vay thì bà L1 đã viết giấy mượn tiền giao cho bà L1 giữ bản chính. Khi vay tiền bà L1 có thế chấp cho bà D 01 giấy chứng nhận QSD đất số BM 865455 do UBND thành phố B cấp cho ông Huỳnh Thanh L2, bà Nguyễn Thị K ngày 05-02-2013 đến ngày 14-4-2023 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B điều chỉnh sang tên người sử dụng là ông Trịnh Xuân H, bà Nguyễn Thị L1, việc thế chấp này không lập hợp đồng, đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Đến thời hạn trả nợ, mặc dù bà D có đòi tiền nhiều lần nhưng bà L1 không trả tiền gốc và lãi suất theo thỏa thuận. Khi vay tiền, chỉ một mình bà L1 và bà D trực tiếp giao dịch nhưng mục đích vay của bà L1 sử dụng để đáo hạn ngân hàng đối với các khoản vay của vợ chồng bà L1, ông H; phần còn lại để lo kinh tế gia đình. Nay bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc vợ chồng bà L1, ông H phải trả cho bà D số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 80.000.000 đồng (tương ứng 01%/tháng, thời gian từ 17-5-2023 đến ngày 17-01-2024 là 08 tháng) và lãi quá hạn 225.000.000 đồng (tương ứng 1,5%/tháng, từ ngày 18-01-2024 đến ngày 18-4-2025 là 15 tháng). Tổng cộng là 1.305.000.000đ (Một tỷ ba trăm linh năm triệu đồng). Bà D đồng ý trả cho vợ chồng bà L1, ông H 01 giấy chứng nhận QSD đất số BM 865455 do UBND thành phố B cấp cho ông Huỳnh Thanh L2, bà Nguyễn Thị K ngày 05-02-2013 đến ngày 14-4-2023 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B điều chỉnh sang tên người sử dụng là ông Trịnh Xuân H, bà Nguyễn Thị L1.
Bị đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị L1 đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với vụ án, không đến Tòa án làm việc, tham gia các phiên họp, không giao nộp tài liệu, chứng cứ.
3
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: vợ ông, bà L1 có vay giúp cho bạn số tiền 1.000.000.000 đồng của bà D với lãi suất 50.000.000 đồng/tháng. Do kinh tế khó khăn bạn vợ ông chưa có tiền trả nên vợ ông chưa trả được tiền cho bà D. Nay bà D khởi kiện thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị bà D phải trả lại 01 Giấy chứng nhận QSD đất số BM 865455 cho vợ chồng ông.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn bà Nguyễn Thị L1 vắng mặt không có lý do; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Xuân H có đơn xin vắng mặt. Mặt khác, bà Nguyễn Thị Xuân L, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 09/2025/DS-ST ngày 15-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của nguyên đơn bà Trần Lê Nữ Hàng D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Xuân H.
Buộc bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Trần Lê Nữ Hàng D số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và 253.150.000 đồng tiền nợ lãi, tổng cộng là 1.253.150.000 đồng.
Không chấp nhận phần yêu cầu tiền lãi là 51.850.000 đồng của nguyên đơn bà Trần Lê Nữ Hàng D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Xuân H.
Ghi nhận sự tự nguyện, bà Trần Lê Nữ Hàng D có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H 01 (Một) bản chính giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM 865455 do UBND thành phố B cấp cho ông Huỳnh Thanh L2, bà Nguyễn Thị K ngày 05-02-2013, đến ngày 14-4-2023 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B điều chỉnh sang tên người sử dụng là ông Trịnh Xuân H, bà Nguyễn Thị L1.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Lê Nữ Hàng D; bị đơn bà Nguyễn Thị L1 không kháng cáo.
Ngày 23-7-2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân H kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Trịnh Xuân H thay đổi nội dung kháng cáo. Cụ thể: chỉ đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cấn trừ số tiền 110.000.000 đồng mà trong quá trình vay mượn ông đã chuyển qua tài khoản ngân hàng cho bà Trần Lê Nữ Hàng D để trả tiền lãi suất.
4
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Trần Lê Nữ Hàng D thống nhất với ý kiến của ông H, đề nghị cấp phúc thẩm cấn trừ số tiền 110.000.000 đồng ông H đã thực hiện nghĩa vụ vào tiền lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm và phiên tòa với là đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân H; sửa Bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng theo hướng cấn trừ số tiền 110.000.000 đồng ông Trịnh Xuân H đã chuyển khoản cho bà Trần Lê Nữ Hàng D vào số tiền lãi mà Toà án cấp sơ thẩm đã buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H phải thực hiện nghĩa vụ đối với bà Trần Lê Nữ Hàng D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quy định của pháp luật, đơn kháng cáo của bà ông Trịnh Xuân H trong thời hạn luật định và thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về việc vắng mặt đương sự:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có liên quan đến kháng cáo là nguyên đơn bà bà Trần Lê Nữ Hàng D cùng người đại diện theo uỷ quyền bà Nguyễn Thị Xuân L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, bà L theo thủ tục chung.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Trịnh Xuân H thì thấy rằng:
Theo Giấy mượn tiền không đề ngày tháng thể hiện nội dung: “Tôi tên Nguyễn Thị L1 sinh năm 1985 CC: 096185013520 cùng chồng là Trịnh Xuân H sinh năm 1973 CC: 038073020751 địa chỉ: B Â, L, B có mượn của Trần Lê Nữ Hàng Dương C: 066186011601 DC: Hẻm A L, L, Bảo L3 số tiền 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) để sử dụng đáo hạn Ngân hàng và lo kinh tế gia đình. Lãi suất được tính theo ngân hàng, thời gian vay 17/5/2023 đến 17/01/2024 sẽ trả lại số tiền trên”. Dưới mục người vay có chữ ký, ghi họ tên Nguyễn Thị L1. Trên cơ sở giấy mượn tiền này nguyên đơn bà
5
Trần Lê Nữ Hàng D khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị L1, cùng chồng ông Trịnh Xuân H thực hiện nghĩa vụ trả cho bà D số tiền gốc 1.000.000.000 đồng, cùng lãi suất kể từ ngày 17-5-2023 cho đến thời điểm xét xử. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, ông Trịnh Xuân H đồng thời cũng là người đại diện theo uỷ quyền cho bị đơn bà Nguyễn Thị L1 tham gia tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm thừa nhận vợ chồng ông, bà có vay của bà Trần Lê Nữ Hàng D số tiền 1.000.000.000 đồng nêu trên và đến nay chưa trả cho bà D do khó khăn trong làm ăn kinh tế. Xét việc vay mượn là có thật, xảy ra trong thực tế, được các đương sự thừa nhận nên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Vì vậy, án sơ thẩm buộc vợ chồng bà L1, ông H thực hiện nghĩa vụ trả cho bà D số tiền 1.000.000.000 đồng tiền gốc chưa thanh toán là đúng thực tế.
Đối với lãi suất tiền vay: Bà D yêu cầu vợ chồng bà L1, ông H thực hiện nghĩa vụ trả lãi với số tiền lãi 305.000.000 đồng (Tiền lãi suất trong hạn 80.000.000 đồng lãi 01%/tháng, thời gian từ 17/5/2023 đến ngày 17/01/2024 là 08 tháng và tiền lãi quá hạn 225.000.000 đồng, lãi 1,5%/tháng, từ ngày 18/01/2024 đến ngày 18/4/2025 là 15 tháng). Toà án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định lãi suất trong hạn từ ngày 17/5/2023 đến ngày 17/01/2024 là 08 tháng: 1.000.000.000 đồng x 0,83%/tháng (10%/năm) x 08 tháng = 66.400.000 đồng; lãi suất quá hạn: từ ngày 18/01/2024 đến ngày 18/4/2025 là 15 tháng: 1.000.000.000 đồng x 1,245%/tháng (0,83%/tháng x 150%) x 15 tháng = 186.750.000 đồng; tổng tiền lãi trong hạn và quá hạn là: 66.400.000 đồng + 186.750.000 đồng = 253.150.000 đồng là phù hợp với quy định trên. Do đó, đã bác yêu cầu của bà D đối với số tiền lãi 51.850.000 đồng (305.000.000 đồng - 253.150.000 đồng) là có căn cứ.
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, ông Trịnh Xuân H đề nghị cấn trừ số tiền lãi 110.000.000 đồng trong thời gian vay ông là người trực tiếp chuyển khoản qua ngân hàng cho bà Trần Lê Nữ Hàng D để trả lãi theo thỏa thuận. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Trần Lê Nữ Hàng D xác nhận có sự việc này và thống nhất cần trừ. Xét ý kiến trình bày này của ông H là phù hợp với các chứng từ chuyển khoản ngân hàng do ông H cung cấp tại giai đoạn phúc thẩm nên chấp nhận cấn trừ số tiền 110.000.000 đồng vào số tiền 253.150.000 đồng lãi suất mà án sơ thẩm đã buộc vợ chồng bà L1, ông H phải thực hiện nghĩa vụ đối với bà D. Như vậy, số tiền lãi còn lại vợ chồng bà L1, ông H phải thực hiện nghĩa vụ đối với bà D là 125.150.000 đồng.
Từ phân tích nêu trên, cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trịnh Xuân H, sửa bản án sơ thẩm về nghĩa vụ thanh toán lãi của vợ chồng bà L1, ông H đối với bà D theo hướng phân tích.
[4] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
6
Vợ chồng bà L1, ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền 1.125.000.000 đồng phải thực hiện nghĩa vụ đối với bà D.
Bà D phải chịu án phí tương ứng với số tiền 161.850.000 đồng yêu cầu vợ chồng bà L1, ông H phải thực hiện nghĩa vụ trả lãi không được Toà án chấp nhận.
-Án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Trịnh Xuân H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân H. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 09/2025/DS-ST ngày 15-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Lê Nữ Hàng D về: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với vợ chồng bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H.
- Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H có nghĩa thanh toán cho bà Trần Lê Nữ Hàng D số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và số tiền lãi là 125.150.000 đồng, tổng cộng là 1.125.150.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận yêu cầu tính lãi suất của bà Trần Lê Nữ Hàng D đối với số tiền 161.850.000 đồng.
- Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H có nghĩa thanh toán cho bà Trần Lê Nữ Hàng D số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và số tiền lãi là 125.150.000 đồng, tổng cộng là 1.125.150.000 đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Lê N Hàng D:
Bà Trần Lê Nữ Hàng D có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H 01 (Một) bản chính giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
7
gắn liền với đất số BM 865455 do UBND thành phố B cấp cho ông Huỳnh Thanh L2, bà Nguyễn Thị K ngày 05/02/2013, đến ngày 14/4/2023 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B điều chỉnh sang tên người sử dụng là ông Trịnh Xuân H, bà Nguyễn Thị L1.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H phải chịu 45.375.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001832 ngày 05-8-2025 Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng bà bà Nguyễn Thị L1, ông Trịnh Xuân H còn phải nộp 45.075.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc bà Trần Lê Nữ Hàng D phải chịu 8.092.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 24.675.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006271 ngày 31-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng). Hoàn trả cho bà Trần Lê Nữ Hàng D số tiền 16.582.500 đồng tạm ứng án phí còn dư.
- Án phí dân sự phúc thẩm: ông Trịnh Văn H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0001832 ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Hoàn |
Mẫu số 75-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
Bản án số 458/2025/DS-PT ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 458/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
