|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 458/2024/HS-PT Ngày: 13 - 06 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thúy Cầu
Ông Nguyễn Văn Hùng
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 196/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N và bị cáo Nguyễn Thị Mai P do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
Bị cáo kháng cáo:
- Họ và tên: Lư Ngọc Vĩnh N, sinh ngày 04/6/1988 tại Cần Thơ. Nơi thường trú: số I đường số E, khu tái định cư T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: số I đường P, ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: công nhân; con ông Lư Vĩnh P1 (sống) và bà Nguyễn Thị L (sống); em có 01 người; chồng, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/11/2022 cho đến nay.
- Họ và tên: Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 07/7/1988 tại Vĩnh Long. Nơi thường trú: số C đường T, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: công nhân; con ông Nguyễn Minh C (sống) và bà Đoàn Thị Tuyết H (sống); chị có 01 người; bị cáo chưa có chồng, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2022 cho đến nay.
*Người bào chữa chỉ định cho các bị cáo N, P: Luật sư Lê Thị Quỳnh A, thuộc Đoàn Luật sư T3 (có mặt).
* Bị hại: Ông Phạm Hữu L1, sinh năm 1960; Nơi cư trú: số C đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Mai P là chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân thuộc Ngân hàng B, chi nhánh C1. Năm 2019, Lư Ngọc Vĩnh N đến Ngân hàng để giao dịch thì quen biết P. Sau khi quen biết, P vay mượn tiền của nhiều người cho N vay lại để hưởng lãi suất chênh lệch, với tổng số tiền 1.150.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ, P nhiều lần yêu cầu N thanh toán để P trả tiền cho các chủ nợ mà P đã vay nhưng N không có tiền nên yêu cầu P tìm và hỏi vay của người khác để lấy tiền trả lại cho P. P liên hệ với những người quen biết để hỏi vay nhưng không vay được tiền.
Ngày 18/8/2020, P được Ngân hàng phân công quản lý hồ sơ vay của ông Phạm Hữu L1 nên ông L1 điện thoại yêu cầu P làm thủ tục tất toán khoản vay 1.800.000.000 đồng. Lúc này, P nói dối ông L1 khách hàng của P tên N đang thế chấp bất động sản cho Ngân hàng B, chi nhánh C1 để vay vốn, hồ sơ vay của Nguyên do P quản lý và Ngân hàng đã đồng ý tái cấp hạn mức 1.500.000.000 đồng nhưng phải có tiền trả khoản tiền mà N vay trước đó nên đang cần tiền đáo hạn. P đề nghị ông L1 dùng khoản tiền này cho N vay để đáo hạn. Ông L1 yêu cầu P cung cấp các tài liệu liên quan đến tài sản và thông tin cá nhân của N. Do đó, N và P thống nhất chỉnh sửa thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành tên của N và chỉnh sửa thông tin trên thông báo cấp tín dụng ghi nhận Ngân hàng B, chi nhánh C1 đã cấp tín dụng cho N để đưa cho ông L1. Do trước đó, N có gửi P bộ hồ sơ vay nhưng không được duyệt do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đứng tên N nên N kêu P lấy thông tin thửa đất này chỉnh sửa qua tên N.
Sau khi có các giấy tờ trên, P dùng tài khoản Zalo của mình gửi cho tài khoản Zalo của ông L1 02 file PDF, 01 file thể hiện nội dung Lư Ngọc Vĩnh N, sinh năm 1988, chứng minh nhân dân số [...], ngụ số I đường số E, khu tái định cư T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ là chủ sở hữu quyền sử dụng thửa đất số 397, tờ bản đồ số 9, tại ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích 1.895 m²; 01 file là thông báo cấp tín dụng thể hiện Ngân hàng B, chi nhánh C1 cấp tín dụng cho Lư Ngọc Vĩnh N số tiền 1.500.000.000 đồng.
Sau đó, P hẹn gặp ông L1 tại quán C2, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ để gặp N. Tại đây, P giới thiệu N là người cần vay tiền để đáo hạn Ngân hàng, P cam kết với ông L1 là đang quản lý hồ sơ vay và tài sản thế chấp của N, sẽ đứng ra bảo lãnh và chịu trách nhiệm, khi nào Ngân hàng giải ngân thì P sẽ lấy tiền của N trả cho ông L1. P đưa thêm cho ông L1 một bộ hồ sơ phôtô gồm: Căn cước công dân và sổ hộ khẩu tên Lư Ngọc Vĩnh N; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 397, tờ bản đồ số 9, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C đứng tên Lư Ngọc Vĩnh N; 01 thông báo cấp tín dụng cho Lư Ngọc Vĩnh Nguyên do Ngân hàng B phát hành ngày 18/02/2020, với hạn mức được cấp là 1.500.000.000 đồng, để khẳng định thông tin đã giới thiệu về Nguyên là có thật. Ông L1 đối chiếu thông tin và hỏi trực tiếp thì N xác nhận những thông tin và tài liệu mà P cung cấp cho ông L1 là đúng sự thật.
Tin là thật, ông L1 đồng ý cho N vay 1.050.000.000 đồng. Ngày 19/8/2020, P và N đến nhà ông L1 tại số C đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ để nhận tiền. Tại đây, ông L1 đưa cho P và N 1.050.000.000 đồng, P đưa cho N một giấy mượn tiền mà P đã đánh máy và in ra trước đó, nội dung thể hiện ông L1 cho N vay 1.050.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 30/8/2020, với số tiền gốc và lãi 1.186.500.000 đồng, P là người ký tên chứng kiến.
Sau khi nhận tiền, N trả nợ cho P 650.000.000 đồng và một số người khác, phần còn lại tiêu xài cá nhân. Đến hạn trả nợ cho ông L1 nhưng không có tiền thanh toán nên N và P đưa ra nhiều lý do hồ sơ đang trục trặc nên đã trả lãi với tổng số tiền cho ông L1 là 69.500.000 đồng để ông L1 yên tâm mà không hối thúc. Ông L1 liên hệ P thì P đưa ra lý do hồ sơ của N chưa đảm bảo điều kiện quy trình, thủ tục nên chưa giải ngân được và viết giấy cam kết là có trách nhiệm quản lý tài sản của N, khi nào P làm thủ tục giải ngân cho N xong thì P sẽ chuyển tiền giải ngân cho ông L1 để ông L1 yên tâm. Sau nhiều lần hứa hẹn, N và P đã cắt đứt liên lạc với ông L1 và tháng 10/2020 P xin nghỉ việc tại Ngân hàng B, chi nhánh C1.
Tại Công văn số 224 ngày 02/8/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thành phố Cần Thơ xác định: Thửa đất số 397, tờ bản đồ số 9, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích là 1.895m² là tài sản hợp pháp của ông Trần Hoàng V, sinh năm 1977, cư trú: số B đường T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ trước đến nay, ông V không có giao dịch mua bán, ủy quyền thửa đất này cho người khác, không có thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng B, chi nhánh C1.
Tại Công văn ngày 27/10/2021 và Công văn số 03 ngày 10/02/2023 của Ngân hàng B, chi nhánh C1 xác định: Từ trước đến nay Lư Ngọc Vĩnh N không có làm thủ tục vay vốn tại Ngân hàng B, chi nhánh C1, Ngân hàng không có ban hành văn bản thông báo cấp tín dụng cho Lư Ngọc Vĩnh N.
Quá trình điều tra, Lư Ngọc Vĩnh N thừa nhận hành vi phạm tội cùng với Nguyễn Thị Mai P đưa ra giấy tờ và thông tin giả, tạo lòng tin cho ông L1 để chiếm đoạt 1.050.000.000 đồng.
Nguyễn Thị Mai P thừa nhận việc đưa ra thông tin gian dối là N đang thế chấp bất động sản để vay tiền tại Ngân hàng B mà P là người đang quản lý hồ sơ của N và cam kết sẽ giữ tài sản cho ông L1 khi Ngân hàng giải ngân sẽ trả tiền lại cho ông L1 nhằm mục đích cho ông L1 tin tưởng mà cho N vay tiền. P không thừa nhận bản thân là người chỉnh sửa tên chủ sở hữu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thông báo cấp tín dụng của Ngân hàng B chi nhánh C1 mà các tài liệu này là do N gửi cho P và P có xem các tài liệu này trước khi gửi cho ông L1.
Vật chứng thu giữ:
- Ông Phạm Hữu L1 giao nộp đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử: 01 căn cước công dân tên Lư Ngọc Vĩnh N (bản phôtô); 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nhận Lư Ngọc Vĩnh N, sinh năm 1988, chứng minh nhân dân số [...] là chủ sở hữu quyền sử dụng thửa đất số 397, tờ ban đồ số 9, địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, diện tích là 1.895 m² (bản phôtô); 01 thông báo cấp tín dụng thể hiện Ngân hàng B, chi nhánh C1 cấp tín dụng cho Lư Ngọc Vĩnh N số tiền 1.500.000.000 đồng (bản phôtô in màu); 01 giấy cam kết quản lý tài sản của Nguyễn Thị Mai P (bản phôtô in màu); 01 giấy mượn tiền (bản phôtô in màu); 01 tờ cam kết của Lư Ngọc Vĩnh N (bản phôtô in màu); 01 đoạn video độ dài 1 phút 32 giây ghi nhận Nguyễn Thị Mai P và Lư Ngọc Vĩnh N đang đếm và nhận tiền, trên góc phải ghi nhận ngày 19/8/2020 được lưu trữ trong USB.
- 01 (một) điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng (điện thoại đã qua sử dụng), có số imei: 354831090181918.
- 01 (một) điện thoại Samsung A71 màu xanh nhạt (điện thoại đã qua sử dụng), có số imei khe sim 1: 353408113911125, số imei khe sim 2 353409113911123.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thông báo cấp tín dụng do hai tài liệu này được chỉnh sửa và gửi qua Zalo cho ông L1 nên không có mẫu để giám định. Do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Đối với đơn của các ông, bà Bùi Thị T, Nguyễn Quốc D, Võ Thu T1, Nguyễn Lê Mai U, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Cao S tố giác Lư Ngọc Vĩnh N, Nguyễn Thị Mai P có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Nhận thấy, vụ việc trên là giao dịch dân sự, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Hữu L1 đã tự tính số tiền lãi 69.500.000 đồng đã nhận của N được trừ vào số tiền mà P và N chiếm đoạt của ông L1, do vậy ông L1 yêu cầu Lư Ngọc Vĩnh N và Nguyễn Thị Mai P trả lại số tiền 980.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS-P2 ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N và Nguyễn Thị Mai P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại bản án hình sự số 06/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của
Toà án nhân dân Thành phố Cần Thơ quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N và Nguyễn Thị Mai P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2022.
- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Mai P 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 25/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị Mai P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 29/01/2024, bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo N, P vẫn giữ yêu cầu kháng cáo cho rằng trước đây do không hiểu rõ pháp luật nên có hành vi sai phạm, bản thân không hưởng lợi từ số tiền của bị hại. Hiện tại, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, nên xin giảm hình phạt sớm trở về gia đình lao động có tiền trả cho bị hại.
- Luật sư bào chữa cho các bị cáo: Đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng, riêng mức hình phạt án sơ thẩm tuyên mỗi bị cáo 14 năm tù là quá nghiêm khắc. Luật sư đề nghị xem xét thêm về điều kiện, hoàn cảnh phạm tội do khó khăn, dịch bệnh covid, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về xử lý vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử. Điều này phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo, lời khai của bị hại và các biên bản đối chất và các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ, thể hiện:
Nguyễn Thị Mai P là chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân của Ngân hàng B, chi nhánh C1. Thông qua mối quan hệ quen biết, P có vay mượn tiền của nhiều người rồi cho Lư Ngọc Vĩnh N vay lại để hưởng lợi trên phần lãi suất chênh lệch. Quá trình cho vay, P nhiều lần yêu cầu N trả tiền để trả lại cho những chủ nợ khác do đã quá hạn thanh toán nhưng N không có tiền trả. Vì cần tiền trả các khoản nợ đến hạn nên N và P thống nhất đưa ra nhiều thông tin gian dối như N đang có tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng B – chi nhánh C1 để vay vốn nhưng đang cần tất toán để được cấp lại hạn mức tín dụng mới nên có nhu cầu vay có tính lãi suất trong thời gian ngắn đáo hạn Ngân hàng nhằm tạo dựng lòng tin và chiếm đoạt tài sản của bị hại Phạm Hữu L1.
Để thực hiện, các bị cáo chỉnh sửa thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ cấp tín dụng (bản file PDF) để gửi cho bị hại, đồng thời P còn trực tiếp hứa hẹn đang phụ trách hồ sơ vay của N và đồng ý đứng ra bảo lãnh và chịu trách nhiệm khi được Ngân hàng giải ngân sẽ lấy tiền trả ngay cho bị hại. Tin tưởng vào những thông tin mà N và P đưa ra nên bị hại đồng ý cho N vay số tiền 1.050.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, các bị cáo dùng một phần để trả nợ, phần còn lại chiếm đoạt tiêu xài hết.
Với hành vi nêu trên, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N, Nguyễn Thị Mai P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, thấy rằng:
Tội phạm do các bị cáo gây ra là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, có khung hình phạt từ 12 năm, 20 năm hoặc tù chung thân; Án sơ thẩm nhận định, trong vụ án này bị cáo P biết rõ những thông tin mà bị cáo N đưa ra là gian dối nhưng vẫn tích cực giúp sức, bỏ mặc hậu quả xảy ra nên cùng phải chịu phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm, mức độ ngang nhau. Để từ đó xử phạt mỗi bị cáo 14 năm tù là tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới theo quy định pháp luật. Nên không có căn cứ, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[3]. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] .Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
[5]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
- Tuyên bố:
Bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N và Nguyễn Thị Mai P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với 02 bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N, Nguyễn Thị Mai P.
- - Xử phạt: bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2022.
- - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Mai P 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2022.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo Lư Ngọc Vĩnh N, Nguyễn Thị Mai P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 458/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 458/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
