Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 458/2025/HS-PT

Ngày 19 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Ngô Đức Thọ

2/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên cao

cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 19/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 289/2025/TLPT-HS ngày 22/4/2025. Do có kháng cáo của bị cáo Lương Thị Bích T và các người bị hại: Bà Trịnh Lý Khắc Xuân H, ông Hứa Tài H1, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 (đã được sửa chữa, bổ sung tại Thông báo số 467/2025/TB-TA ngày 14/4/2025) của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo kháng cáo: Lương Thị Bích T, sinh ngày: 15/3/1973; Nơi sinh: Thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nơi thường trú: Số D đường K, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở: Số A đường V, khóm T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Lương Bá L © và bà Nguyễn Bích N ©; Chồng: Dương Bỉnh T1; Con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ 24/5/2023 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay. (Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Nguyễn Bình N1, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

- Người bị hại có kháng cáo:

  1. Bà Trịnh Lý Khắc Xuân H, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Số B, đường C, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Vinh K, sinh năm 1979 (Có mặt); Địa chỉ: 1 N, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Hợp đồng ủy quyền được chứng thực ngày 13/6/2025 tại Văn phòng C3)

  2. Ông Hứa Tài H1, bà Dương Thị C; Cùng nơi cư trú: Số I, đường L, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

Ngoài ra, còn có 3 người bị hại và 46 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hành vi lừa đảo đối với bà Hứa Ngọc H2:

Bà H2 với bị cáo Lương Thị Bích T là bạn bè quen biết nhau. Đến năm 2018, bị cáo T quen biết với anh ruột của bà H2 là ông Hứa Tài H1, rồi sau đó làm người môi giới cho ông H1 mua, bán, cầm nhà, đất.

Trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2019, bà H2 nhiều lần cho bị cáo T vay, mượn tiền để làm ăn (mua bán trái cây...). Lợi dụng lòng tin của bà H2, bị cáo T đã đưa ra thông tin gian dối có phần đất tại thửa đất số 238, địa chỉ số D đường K, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để thỏa thuận bán đất cho bà H2, hứa hẹn sau khi hoàn thiện thủ tục đứng tên chủ sử dụng đất sẽ chuyển nhượng cho bà H2, sau 05 lần hứa hẹn thỏa thuận bán đất thì bị cáo T chiếm đoạt của bà H2 tổng số tiền 4.410.000.000 đồng, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào ngày 09/6/2019, bị cáo T đến nhà bà H2 đưa cho bà H2 một tờ “Di chúc” giả và một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất, thửa đất số 238, tờ bản đồ số 38, địa chỉ thửa đất: 48T, Kênh Xáng, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là giả mang tên ông Lương Bá L (là cha bị cáo T) và nói dối với bà H2 là ông Lương Bá L có để lại di chúc cho bị cáo T sở hữu một phần thửa đất số 238, tờ bản đồ số 38, diện tích 1051,8m2, địa chỉ số D, Kênh X, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là nơi bị cáo T đang ở và bị cáo T muốn bán cho bà H2 12 mét chiều ngang và 40 mét chiều dài của thửa đất này với giá 1.110.000.000 đồng, bà H2 đồng ý mua và giao số tiền 1.100.000.000 đồng cho bị cáo T (ghi giấy biên nhận bán đất).

Lần thứ hai: Vào ngày 14/10/2019, bị cáo T bán thêm diện tích thửa đất số 238 cho bà H2 10 mét chiều ngang với số tiền 700.000.000 đồng, bị cáo T ghi giấy biên nhận bán đất và nhận đủ tiền (tổng cộng trước sau đã bán 22m x 40m).

Lần thứ ba: Vào ngày 03/4/2020, bị cáo T bán thêm cho bà H2 13 mét chiều ngang thửa đất số 238 với số tiền 1.300.000.000 đồng, bị cáo T ghi giấy biên nhận bán đất tổng cộng là 35 mét ngang, 40 mét chiều dài và nhận đủ số tiền 3.110.000.000 đồng.

Lần thứ tư: Vào ngày 20/11/2020, bị cáo T tiếp tục bán cho bà H2 05 mét chiều ngang thửa đất số 238 với số tiền 500.000.000 đồng và ghi biên nhận bán đất là 40 mét ngang và 40 mét dài với số tiền bán đất là 3.610.000.000 đồng.

Lần thứ năm: Vào ngày 12/01/2021, bị cáo T bán thêm 8 mét ngang và 40 mét dài thửa đất số 238 cho bà H2 với tổng cộng diện tích đã bán trước sau là 48 mét ngang và 40 mét dài với số tiền 4.410.000.000 đồng.

Sau khi nhận được tiền, bị cáo T không làm thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất cho bà H2 mà lấy lý do đang tranh chấp di chúc nên không thể chuyển nhượng được.

Đến ngày 17/02/2023, bị cáo T nói với bà H2 là thửa đất đang tranh chấp không biết khi nào xong và thỏa thuận với bà H2 cho bị cáo T trả lại tiền từ từ nhưng bà H2 không đồng ý mà gửi đơn đến Ban N6, phường H để giải quyết.

Ngày 20/02/2023, tại biên bản hòa giải, bị cáo T đồng ý khi tranh chấp thửa đất số 238 xong phải sang tên chuyển nhượng cho bà H2. Sau đó, bà H2 đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Văn phòng C3 và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S để kiểm tra thì biết được đây là giấy giả nên ngày 25/02/2023, bà H2 đến Công an thành phố S tố giác hành vi bị cáo T lừa đảo chiếm đoạt tài sản và báo cho anh ruột là ông Hứa Tài H1 biết.

Hành vi lừa đảo đối với ông Hứa Tài H1, bà Dương Thị C:

Sau khi nghe tin từ bà H2, ông Hứa T2 Hạnh kiểm tra lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị cáo T môi giới cho ông H1 mua và cầm mới phát hiện là giấy giả nên đến Công an thành phố S tố giác bị cáo T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông.

Kết quả điều tra, xác định: Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2020 đến tháng 01/2023, bị cáo T nói với ông H1 là có người cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và số tiền cần cầm, bị cáo T làm môi giới để nhận tiền hoa hồng, thấy việc cầm đất có lãi và tin tưởng bị cáo T nên ông H1 giao cho bị cáo T làm các thủ tục cầm đất. Mỗi lần ông H1 đồng ý nhận cầm đất thì bị cáo T làm “Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất)” giữa ông H1 với bên cần cầm đất nội dung hợp đồng ghi thông tin về thửa đất, số tiền đặt cọc, bên bán là chủ đất, bên mua là ông H1, bên làm chứng là bị cáo T, tuy nhiên bị cáo T ký bên làm chứng và ký thay ông H1 bên mua mang đến giao cho ông H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với hợp đồng đặt cọc đã có chữ ký của bên bán rồi ông H1 đưa đủ số tiền cầm đất cho bị cáo T để giao cho người cầm đất.

Lợi dụng việc ông H1 không gặp trực tiếp thỏa thuận với những người cầm đất mà tin tưởng giao cho bị cáo T thay mặt ông thực hiện hết các việc này, giao tiền giữa ông H1 và bị cáo T không ghi nhận giấy tờ chỉ có vợ ông H1 là bà Dương Thị C chứng kiến, bị cáo T đã đưa cho ông H1 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và 10 hợp đồng đặt cọc để chiếm đoạt số tiền 6.700.000.000 đồng của ông H1 (những người đứng tên trong Hợp đồng đặt cọc không có giao dịch với ông H1 và bà C liên quan đến việc cầm đất), cụ thể:

  1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX752253, thửa đất số 724, tờ bản đồ số 31, địa chỉ: Khóm B, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên ông Sơn S, hợp đồng đặt cọc ngày 14/3/2022, với số tiền 600.000.000 đồng.
  2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN954634, thửa đất số 27, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Khóm D, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên bà Nguyễn Thị Á, hợp đồng đặt cọc ngày 01/11/2022, với số tiền 300.000.000 đồng.
  3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC624886 thửa đất số 1497.
  4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC624887 thửa đất số 1498, cùng thuộc tờ bản đồ số 42, địa chỉ: Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên bà Huỳnh Thị Anh Đ, hợp đồng đặt cọc ngày 21/12/2022, với số tiền 900.000.000 đồng.
  5. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU017996, thửa đất số 786, tờ bản đồ số 31, địa chỉ: Khóm D, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên Nhâm Tấn H3, hợp đồng đặt cọc ngày 14/01/2023, với số tiền 500.000.000 đồng.
  6. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC724786, thửa đất số 154, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên Trương Quốc T3, hợp đồng đặt cọc ngày 10/11/2022, với số tiền 1.000.000.000 đồng.
  7. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK315175, thửa đất số 229, tờ bản đồ số 51, địa chỉ: Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên ông Lê Thanh S, hợp đồng đặt cọc ngày 04/11/2022, với số tiền 1.000.000.000 đồng.
  8. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC624783, thửa đất số 5, tờ bản đồ số 20, địa chỉ: Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên ông Lê Công X, hợp đồng đặt cọc ngày 11/11/2022, với số tiền 1.000.000.000 đồng.
  9. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX762992, thửa đất số 168, tờ bản đồ số 66, địa chỉ: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng mang tên ông Trần Bách D, hợp đồng đặt cọc ngày 19/12/2022, với số tiền 400.000.000 đồng.
  10. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS042262, thửa đất số 73, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Khóm B, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng mang tên ông Nguyễn Tấn T4, hợp đồng đặt cọc ngày 22/6/2022, với số tiền 500.000.000 đồng.

Riêng đối với thửa đất số 893, tờ bản đồ số 11, địa chỉ thửa đất: khóm T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG481132 mang tên ông Nguyễn Trần Phan sở H4, bị cáo T đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng đặt cọc ngày 31/8/2022, với số tiền 500.000.000 đồng, sau đó nói với ông H1 là ông Phan C1 lấy lại giấy để vay ngân hàng để trả tiền cho ông H1 nên ông H1 đã đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này cho bị cáo T mà không nhận lại được tiền. Để che giấu hành vi gian dối của mình thời gian đầu sau khi cầm đất bị cáo T đóng tiền lãi cho ông H1 tổng cộng 764.000.000 đồng và nói dối là của người cầm đất đóng.

Trong thời gian từ 2021 đến cuối năm 2022, bị cáo T làm môi giới mua, bán nhà, đất cho ông H1, khi có người cần chuyển nhượng nhà đất bị cáo T nói cho ông H1 biết nếu ông H1 đồng ý mua, bị cáo T giúp ông H1 làm thủ tục chuyển nhượng, ông H1 không cần đến văn phòng C3 ký hợp đồng mà chỉ cần ký vào các hợp đồng được bị cáo T mang đến nhà và đưa tiền cho T để T giao cho bên bán. Sau đó, bị cáo T mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông H1 mua đã mang tên ông H1 về giao cho ông H1. Lợi dụng việc ông H1 tin tưởng, không trực tiếp thỏa thuận với chủ đất, không trực tiếp đến văn phòng C3 ký hợp đồng, không trực tiếp làm thủ tục chuyển nhượng và đưa tiền cho bị cáo T để giao dịch, bị cáo T đã thực hiện đưa ra thông tin gian dối và giao cho ông H1 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, chiếm đoạt số tiền 5.320.000.000 đồng của ông H1, cụ thể:

  1. Ngày 23/3/2021, bà Lương Thị Bích T đặt cọc số tiền 20.000.000 đồng mua thửa đất số 15, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: Khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do hộ ông Kim P đứng tên chủ sở hữu, rồi nói dối với ông H1 là ông Kim Phan M bán thửa đất số 15 với giá 900.000.000 đồng, ông H1 đồng ý mua thì bị cáo T lập và đưa ông H1 ký hợp đồng đặt cọc ngày 26/3/2021 và hợp đồng chuyển nhượng tại nhà ông H1 ngày 31/5/2021, rồi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 15 cho ông H1, bị cáo T đã 03 lần nhận và chiếm đoạt số tiền mua đất 900.000.000 đồng của ông H1. Tiếp tục bị cáo T đưa cho ông H1 hợp đồng thuê nhà và số tiền 6.000.000 đồng (2.000.000 đồng/tháng) nói dối là ông Phan C1 thuê lại nhà để ở. Ông H1 nhờ bị cáo T đi làm thủ tục sang tên, tách thửa thì bị cáo T lấy luôn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  2. Ngày 08/5/2021, bà Lương Thị Bích T đưa ra thông tin gian dối cho ông H1 về thửa đất số 387, tờ bản đồ số 79, tài sản gắn liền với đất là căn nhà, địa chỉ: số B V, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng của Mã Ngọc T5 (sinh năm: 1971, số G, đường T, Phường C, thành phố S) sở hữu, muốn bán với số tiền 650.000.000 đồng, ông H1 đồng ý mua, bị cáo T lập hợp đồng đặt cọc, rồi 02 lần nhận và chiếm đoạt số tiền đặt cọc mua đất 350.000.000 đồng của ông H1.
  3. Tháng 02/2022, bà Lương Thị Bích T đưa ra thông tin gian dối cho ông H1 về thửa đất số 733, tờ bản đồ số 31, địa chỉ: Khóm B, Phường E, thành phố S mang tên bà Lâm Mỹ A, sinh năm: 1988, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang sở hữu (xác minh Lâm Mỹ A không đứng tên chủ sở hữu thửa đất này và không có giao dịch liên quan đến thửa đất này với ông H1), để bán cho ông H1, ông H1 đồng ý mua, bị cáo T nhận 1.620.000.000 đồng tiền mua đất của ông H1 (có ghi biên nhận ngày 26/02/2022) và chiếm đoạt số tiền này rồi mang đến đưa ông H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số DC674836 thửa đất 733 đứng tên Hứa Tài H1, Dương Thị C. Tiếp tục, bị cáo T nói dối với ông H1 là có ông Lâm Tấn H5 muốn mua thửa đất với số tiền 1.900.000.000 đồng nhưng sau đó nói ông H5 không mua nên bị cáo T tiếp tục giới thiệu cho ông Nguyễn Bửu L1 (sinh năm: 1977, nơi cư trú: số G T, Khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng) thì ông L1 đồng ý mua và đã 03 lần đưa tiền đặt cọc mua đất cho bị cáo T, có ghi biên nhận: lần thứ nhất vào ngày 07/10/2022 với số tiền 450.000.000 đồng, lần thứ hai vào 12/11/2022 với số tiền 300.000.000 đồng và lần thứ ba vào ngày 19/12/2022 với 170.000.000 đồng, tổng cộng bị cáo T chiếm đoạt 920.000.000 đồng của ông L1. Sau khi nhận tiền từ ông L1, bị cáo T giao tiền cho ông H1 đề ngày 05/02/2023, bị cáo T làm hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 733 lần lượt đưa ông H1 ký với ông L1.
  4. Tháng 7/2022, bà Lương Thị Bích T đưa ra thông tin gian dối cho ông H1 về các thửa đất số 259, 260, 261 và 262, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: Khóm G, Phường C, thành phố S mang tên ông Trần Hoàng P1, để bán cho ông H1 mua, bị cáo T làm hợp đồng chuyển nhượng cho ông H1 ký tại nhà rồi lấy đi, bị cáo T nhận tiền mua đất chiếm đoạt số tiền 1.750.000.000 đồng của ông H1, rồi mang đến đưa ông H1 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số DC724781 thửa đất 259 đứng tên Dương Thị C, số DC724782 thửa đất 260 đứng tên Hứa Tài H1, số DC734688 thửa đất 261 đứng tên Hứa Tài H1, số DC734692 thửa đất 262 đứng tên Dương Thị C. Sau đó, bị cáo T đưa ra thông tin gian dối với ông H1 là giới thiệu bán các thửa đất cho ông Viên Phước T6 (sinh năm: 1977, số 446, N, Phường I, thành phố S) với số tiền 2.300.000.000 đồng, bị cáo T ghi hợp đồng đặt cọc và đưa tiền đặt cọc 100.000.000 đồng rồi kêu vợ chồng ông H1, bà C đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cho bên mua đi vay ngân hàng rồi trả tiền mua đất nên vợ chồng ông H1, bà C đưa lại 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo T và chờ nhận tiền bán đất nhưng không nhận lại được tiền.
  5. Ngày 12/12/2022, bà Lương Thị Bích T đưa ra thông tin gian dối cho ông H1 về thửa đất số 141, tờ bản đồ số 40, tài sản gắn liền với đất là căn nhà, địa chỉ: Khóm E, Phường G, thành phố S của ông Huỳnh Minh H6 (sinh năm: 1980, địa chỉ: số E Đ, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng) muốn bán cho ông H1 với số tiền 700.000.000 đồng, ông H1 đồng ý nên bị cáo T lập hợp đồng đặt cọc và đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CX824332 cho ông H1 rồi nhận và chiếm đoạt số tiền mua đất 700.000.000 đồng của ông H1. Sau đó, bị cáo T tiếp tục nói dối là có ông Đặng Thu Đ1 muốn thuê căn nhà trên thửa đất này số tiền 2.500.000 đồng/tháng ông H1 đồng ý thì bị cáo T lập “Hợp đồng thuê nhà ở” đề ngày 27/11/2022, mỗi tháng bị cáo T đưa cho ông H1 tiền thuê nhà đến tháng 02/2023 tổng cộng được 7.500.000 đồng.

Trong quá trình mua, bán nhà, đất, ông H1 tin tưởng giao bị cáo T làm các giấy tờ, thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gộp thửa. Lợi dụng việc này, bị cáo T đã đưa ra thông tin gian dối về việc được ông H1 đồng ý cho chuyển nhượng đối với các thửa đất này để chiếm đoạt tiền của ông Đặng Công M1 và Trịnh Lý Khắc Xuân H cụ thể:

  1. Đầu tháng 11/2022, ông H1 đưa Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 580109 cấp ngày 18/8/2003 thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, số nhà: 1 N, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho bị can T để làm thủ tục đổi giấy mới và ngày 08/11/2022, vợ chồng ông H1, bà C đến Văn phòng C3 ký hợp đồng ủy quyền nhưng không xem nội dung. Đến ngày 15/11/2022, bị cáo T nói cho ông là có ông KEVIN N2, địa chỉ thường trú “Cali, USA” đặt cọc mua đất để ông H1 đồng ý bán thửa đất số 127 cho ông KEVIN N2, địa chỉ thường trú “Cali, USA” với số tiền 3.200.000.000 đồng và làm hợp đồng đặt cọc, bị cáo T đưa tiền đặt cọc 100.000.000 đồng cho ông H1. Ngày 22/11/2022, bị cáo T đưa cho ông H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CX824332 thửa đất số 127. Ngày 12/12/2022, bị cáo T nói là ông K1 N2 không mua nữa và bỏ tiền đặt cọc. Trong khi đó, bị cáo T dựa vào hợp đồng ủy quyền do ông H1, bà C ký ngày 08/11/2022 có nội dung ủy quyền cho bị cáo T chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 127 và tài sản gắn liền với đất nên ngày 21/11/2022, bị cáo T dùng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 580109 để ký chuyển nhượng thửa đất, nhà này cho bà Trịnh Lý Khắc Xuân H (sinh ngày: 1980, địa chỉ: số B, đường C, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng) để chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng.
  2. Ngày 08/11/2022, ông H1, bà C đến Văn phòng công chứng Võ Duy T7 để ký ủy quyền cho bị cáo T làm thủ tục gộp thửa đối với thửa đất số 65 và 66, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: Khóm F, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, ông H1, bà C tin tưởng bị cáo T nên ký mà không xem nội dung nên đã ký hợp đồng chuyển nhượng đối với 02 thửa đất 65 và 66 cho ông Đặng Công M1 (sinh năm: 1963, địa chỉ: số A, đường Y, Khóm B, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng), trước đó bị cáo T thỏa thuận vay tiền ông M1 với hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 65 và 66 cho ông M1 (bị cáo T nói với ông M1 về việc có hùn vốn với ông H1 để mua 02 thửa đất này) nên sau khi ông H1 ký hợp đồng chuyển nhượng 02 thửa đất số 65 và 66 cho ông M1 thì ông M1 cho bị cáo T vay số tiền 500.000.000 đồng và đưa cho ông M1 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V065006 thửa đất số 65 và số DG506651 thửa đất số 66. Ngày 10/01/2023, bị cáo T đưa cho vợ chồng ông H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CX824332 thửa đất số 65 (diện tích đã gộp với thửa 66).

Với tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ xác định bị can Lương Thị Bích T đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối về việc mua, bán, cầm đất và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức chiếm đoạt của bà Hứa Ngọc H2 số tiền 4.410.000.000 đồng, của ông Hứa Tài H1 số tiền 12.020.000.000 đồng, chiếm đoạt của ông Nguyễn Bửu L1 số tiền 920.000.000 đồng, của ông Đặng Công M1 số tiền 500.000.000 đồng, của bà Trịnh Lý Khắc Xuân H 2.000.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 76/KLTL-KTHS ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S, đối với: chữ ký, chữ viết trong các biên nhận ngày 09/6/2019, 14/10/2019, 03/4/2020 và 20/11/2020, kết luận: Chữ ký mang tên Lương Thị Bích T, chữ viết trên các “Biên nhận” tài liệu cần giám định (Ký hiệu A1 đến A4) so với chữ ký, chữ viết của Lương Thị Bích T trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M1 đến M6) do cùng một người ký, viết ra.

Kết luận giám định số 98/KLTL-KTHS ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận:

14 (mười bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số CI 097269, cấp ngày 26/7/2015; số CX 752253, cấp ngày 05/3/2021, số CS 042262, cấp ngày 01/10/2020; số DC 724786, cấp ngày 20/5/2021; số DC 624783, cấp ngày 15/8/2019; số CX 824332, cấp ngày 09/7/2021; số CX 762992, cấp ngày 14/12/2021; số DC 624886, cấp ngày 20/02/2019; số DC 624887, cấp ngày 20/02/2019; số CU 017996, cấp ngày 06/02/2018; số CX 824332, cấp ngày 10/01/2023; số CX 824332, cấp ngày 22/11/2022; số DC 674836, cấp ngày 10/3/2022; số BK 315175, cấp ngày 05/02/2021 cần giám định (Ký hiệu: A1-A14) so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên các mẫu so sánh (Ký hiệu: M1-M5) không phải do Cơ quan có thẩm quyền cấp, là giả.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 954634, cấp ngày 15/12/2008 cần giám định (Ký hiệu: A15) so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 453887 mẫu so sánh (Ký hiệu: M6) không phải do Cơ quan có thẩm quyền cấp, là giả.

Kết luận giám định số 99/KLTL-KTHS ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận:

Chữ ký, chữ viết mang tên Lương Thị Bích T và chữ viết trên các Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 26/3/2021; ngày 8/5/2021; ngày 14/3/2022; ngày 17/6/2022; ngày 22/6/2022; ngày 1/7/2022; ngày 31/8/2022; ngày 1/11/2022; ngày 4/11/2022; ngày 10/11/2022; ngày 11/11/2022; ngày 12/12/2022; ngày 19/12/2022; ngày 21/12/2022; ngày 14/1/2023 tài liệu cần giám định (Ký hiệu A1 đến A15) so với chữ ký, chữ viết của Lương Thị Bích T trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M1 đến M5) do cùng một người ký, viết ra.

Chữ ký mang tên Sơn S dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” trên Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 14/3/2022 tài liệu cần giám định (Ký hiệu A3) so với chữ ký của S trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M6, M7) không đủ cơ sở kết luận.

Chữ viết họ tên Sơn S dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” trên Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 14/3/2022 tài liệu cần giám định (Ký hiệu A3) so với chữ viết của S trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M6, M7) không phải do cùng một người viết ra.

Chữ ký mang tên Huỳnh Thị Anh Đ dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” trên Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 21/12/2022 tài liệu cần giám định (Ký hiệu A14) so với chữ ký của Huỳnh Thị Anh Đ trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M8, M9) không đồng dạng, không tiến hành giám định.

Chữ viết họ tên Huỳnh Thị Anh Đ dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” trên Hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất), ngày 21/12/2022 tài liệu cần giám định (Ký hiệu A14) so với chữ viết của Huỳnh Thị Anh Đ trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M8, M9) không phải do cùng một người viết ra.

Chữ ký mang tên Lâm Mỹ A dưới mục “Người nhận” trên Biên nhận, ngày 26/2/2022 tài liệu cần giám định (Ký hiệu A16) so với chữ ký của Lâm Mỹ A trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M10, M11) không đồng dạng, không tiến hành giám định.

Chữ viết họ tên Lâm Mỹ A dưới mục “Người nhận” trên Biên nhận, ngày 26/2/2022 tài liệu cần giám định (Ký hiệu A16) so với chữ viết của Lâm Mỹ A trên các tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu M10, M11) không phải do cùng một người viết ra.

Kết luận giám định số: 113/KLTL-KTHS ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, đối với: hình dấu trên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, kết luận:

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA X.H.X.N VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên 05 (Năm) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A2 đến A6) là hình dấu giả, được in ra bằng phương pháp in phun màu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên 02 (Hai) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A7, A13) là hình dấu giả, được in ra bằng phương pháp in phun màu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S1 T. SÓC TRĂNG ★” dưới mục “PHÓ CHỦ TỊCH” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A14) là hình dấu giả, được in ra bằng phương pháp in phun màu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên 04 (Bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A8, A9, A11, A12) là được đóng ra từ cùng một con dấu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A1) so với hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” trên các tài liệu (Ký hiệu A8, A9, A11, A12) là không được đóng ra từ cùng một con dấu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A1) so với hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên tài liệu (Ký hiệu A10) là không được đóng ra từ cùng một con dấu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A1) so với hình dấu tròn màu đỏ nội dung “U .B .N .D TP. SÓC TRĂNG - TỈNH SÓC TRĂNG *” dưới mục “KT. CHỦ TỊCH” trên tài liệu (Ký hiệu A15) là không được đóng ra từ cùng một con dấu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các tài liệu (Ký hiệu A8, A9, A11, A12) so với hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên tài liệu (Ký hiệu A10) là không được đóng ra từ cùng một con dấu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, các tài liệu (Ký hiệu A8, A9, A11, A12) so với hình dấu tròn màu đỏ nội dung “U.B.N .D TP. SÓC TRĂNG - TỈNH SÓC TRĂNG *” dưới mục “KT. CHỦ TỊCH” trên tài liệu (Ký hiệu A15) là không được đóng ra từ cùng một con dấu.

Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG * CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM * TỈNH SÓC TRĂNG” dưới mục “Phó Giám Đốc” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tài liệu (Ký hiệu A10) so với hình dấu tròn màu đỏ nội dung “U .B .N .D TP. SÓC TRĂNG *” dưới mục “KT. CHỦ TỊCH” trên tài liệu (Ký hiệu A15) là không được đóng ra từ cùng một con dấu.

Kết luận giám định số 175/KLTL-KTHS ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1: Chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1 dưới mục “NGƯỜI NỘP PHIẾU” trên 06 (sáu) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng giao dịch cần giám định (Ký hiệu: A1 đến A6) so với chữ ký, chữ viết của Hứa Tài H1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Hứa Tài H1 ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1 dưới mục Bên A trên 03 (ba) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cần giám định (Cùng ký hiệu: A7) so với chữ ký, chữ viết của Hứa Tài H1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Hứa Tài H1 ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1 dưới mục Bên A trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cần giám định (Ký hiệu: A8) so với chữ ký, chữ viết của Hứa Tài H1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Hứa Tài H1 ở cuối trang 1 và chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1 dưới mục Bên A trên Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần giám định (Ký hiệu: A9) so với chữ ký, chữ viết của Hứa Tài H1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Hứa Tài H1 ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1 dưới mục Bên A trên Hợp đồng ủy quyền cần giám định (Ký hiệu: A10) so với chữ ký, chữ viết của Hứa Tài H1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Hứa Tài H1 ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1 dưới mục Bên A trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần giám định (Ký hiệu: A11) so với chữ ký, chữ viết của Hứa Tài H1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Hứa Tài H1 ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Hứa Tài H1 dưới mục Bên A trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần giám định (Ký hiệu: A12) so với chữ ký, chữ viết của Hứa Tài H1 trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M1) do cùng một người ký, viết ra.

Chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C: Chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C dưới mục “NGƯỜI NỘP PHIẾU” trên 06 (sáu) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch cần giám định (Ký hiệu: A1 đến A6) so với chữ ký, chữ viết của Dương Thị C trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Dương Thị C ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C dưới mục Bên A trên 03 (ba) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cần giám định (Cùng ký hiệu: A7) so với chữ ký, chữ viết của Dương Thị C trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Dương Thị C ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C dưới mục Bên A trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cần giám định (Ký hiệu: A8) so với chữ ký, chữ viết của Dương Thị C trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Dương Thị C ở cuối trang 1 và chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C dưới mục Bên A trên Hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần giám định (Ký hiệu: A9) so với chữ ký, chữ viết của Dương Thị C trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Dương Thị C ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C dưới mục Bên A trên Hợp đồng ủy quyền cần giám định (Ký hiệu: A10) so với chữ ký, chữ viết của Dương Thị C trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Dương Thị C ở cuối trang 1, trang 2 và chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C dưới mục Bên A trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần giám định (Ký hiệu: A11) so với chữ ký, chữ viết của Dương Thị C trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký mang tên Dương Thị C ở cuối trang 1 và chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị C dưới mục Bên A trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần giám định (Ký hiệu: A12) so với chữ ký, chữ viết của Dương Thị C trên mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) do cùng một người ký, viết ra.

Kết luận giám định số 21/KLSĐT-KTHS ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S, đối với: ảnh chụp mặt trước, mặt sau “DI CHÚC” đề ngày 10 tháng 6 năm 2019 tên Lương Bá L, kết luận:

Tệp ảnh tên “VIMX2575".JPG, dung lượng 0.1495 MB, mã MD5: 4f2a9430b704304ff1b1cb9a1cc08631 (Ký hiệu A1): Phát hiện thấy dấu vết chỉnh sửa nội dung. Vị trí cụ thể được thể hiện trong phụ lục kèm theo; Tìm thấy thông tin dữ liệu EXIF (Exchangeable Image F) về ngày tạo tệp tin là: 20 giờ 02 phút 16 giây ngày 24/4/2020; Không tìm thấy thông tin dữ liệu EXIF về: công cụ, phương tiện chỉnh sửa tệp ảnh; thời gian chụp ảnh; thiết bị chụp ảnh; vị trí chụp ảnh.

Tệp ảnh tên “XUKT3440".JPG, dung lượng 0.1045 MB, mã MD5: “7bc6c8604331d408f806ac511be652df” (Ký hiệu A2): Không phát hiện thấy dấu vết chỉnh sửa nội dung; Không tìm thấy thông tin dữ liệu EXIF về: thời gian chụp ảnh; thiết bị chụp ảnh; vị trí chụp ảnh.

Kết luận giám định số: 16/KLKTSĐT-KTHS ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, đối với: khôi phục, trích xuất dữ liệu điện tử (Dữ liệu điện thoại di động thu được trong quá trình điều tra), kết luận:

Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 10 (Ký hiệu A1). Tìm thấy: 1998 Cuộc gọi: 910 cuộc gọi Event Log, 26 cuộc gọi Facebook, 910 cuộc gọi Phone by G, 152 cuộc gọi Zalo; 2651 Tin nhắn: 109 tin nhắn SMS, 09 tin nhắn MMS, 78 tin nhắn Facebook, 202 tin nhắn Facebook Messenger Lite, 44 thư Google Mail, 142 tin nhắn Messenger B, 2067 tin nhắn Zalo; 43972 Tệp đa phương tiện: 43161 tệp hình ảnh, 810 tệp video, 01 tệp ghi âm (Chi tiết thể hiện trong thư mục “A1 - Redmi Note 10” lưu trữ trong tệp ISO có tên: “Du lieu 2024 - VU 16.iso”, dung lượng 10.2 GB, mã MD5: 5e973afaeff9456e3ad48060f5485506, kèm theo).

Điện thoại di động nhãn hiệu Vivo T1x (Ký hiệu A2). Tìm thấy: 197 Cuộc gọi: 87 cuộc gọi Event Log, 09 cuộc gọi Facebook, 09 cuộc gọi Facebook Messenger, 92 cuộc gọi Zalo; 1085 Tin nhắn: 92 tin nhắn Facebook, 86 tin nhắn Facebook Messenger, 44 thư Google Mail, 863 tin nhắn Zalo; 12969 Tệp đa phương tiện: 12945 tệp hình ảnh, 24 tệp video (Chi tiết thể hiện trong thư mục “A2 - Vivo Tlx” lưu trữ trong tệp ISO có tên: “Du lieu 2024 - VU 16.iso”, dung lượng 10.2 GB, mã MD5: 5e973afaeff9456e3ad48060f5485506, kèm theo).

Kết luận định giá số 68/KL-HĐĐGTTHS ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Sóc Trăng, kết luận:

Giá trị quyền sử dụng đất và công trình xây dựng trên đất tại thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại số A đường N, Khóm A, Phường I, thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Sóc Trăng tại thời điểm ngày 08/11/2022 theo giá nhà nước là 765.248.000 đồng, theo giá thị trường là 1.741.000.000 đồng.

Giá trị quyền sử dụng tại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 14, đường C (Đoạn từ X - hẻm B T), khóm F, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tại thời điểm ngày 08/11/2022 theo giá nhà nước là 121.200.000 đồng, theo giá thị trường là 539.764.000 đồng.

Giá trị quyền sử dụng tại thửa đất số 66, tờ bản đồ số 14, đường C (Đoạn từ X - hẻm B T), khóm F, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tại thời điểm ngày 08/11/2022 theo giá nhà nước là 13.110.000 đồng, theo giá thị trường là 99.068.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSST-P2 ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, có nội dung:

Truy tố bị cáo Lương Thị Bích T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự;

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 (đã được sửa chữa, bổ sung tại Thông báo số 467/2025/TB-TA ngày 14/4/2025) của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, đã tuyên xử:

  1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng Điều 584; Điều 585, 586 và Điều 589 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Xử phạt bị cáo Lương Thị Bích T 18 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 22 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 24/5/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Áp dụng Điều 116, Điều 127; Điều 131; Điều 133 Bộ Luật Dân sự năm 2015 tuyên bố các giao dịch dân sự sau vô hiệu và xử lý hậu quả:

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/11/2022 đối với 02 thửa đất số 65 và 66, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: khóm F, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giữa vợ chồng Hứa Tài H1 và Dương Thị C ký với ông Đặng Công M1, buộc ông M1 trả lại cho ông H1 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 65 và 66.

    Hợp đồng ủy quyền ngày 08/11/2022 đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giữa vợ chồng ông Hứa Tài H1 và Dương Thị C với bị cáo Lương Thị Bích T.

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/11/2022 đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giữa bà Trịnh Lý Khắc Xuân H và bị cáo Lương Thị Bích T được ông H1 ủy quyền, buộc bà H trả lại lấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

    Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền cho các bị hại: Trong đó, bà Hứa Ngọc H2, số tiền: 4.410.000.000 đồng; Ông Hứa Tài H1 số tiền 12.020.000.000 đồng; Ông Nguyễn Bửu L1 số tiền 920.000.000 đồng; Ông Đặng Công M1 số tiền 500.000.000 đồng.

    Đối với số tiền 2.000.000.000 đồng mà bị cáo Lương Thị Bích T chiếm đoạt của bà Trịnh Lý Khắc Xuân H từ việc bán căn nhà số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng bà H không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên tách thành vụ kiện dân sự khác giành quyền khởi kiện cho bà H khi có yêu cầu.

    Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:

    Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Trả cho ông Lâm Khánh T8 01 điện thoại di động hiệu Vivo T1x màu xanh (đã qua sử dụng).

    Trả cho Lương Thị Bích T 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10, màu xanh đã qua sử dụng;

    Buộc ông Hứa Tài H1, bà Dương Thị C có trách nhiệm nộp lại số tiền 920.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị hại ông Nguyễn Bửu L1.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 25/3/2025 bị cáo Lương Thị Bích T làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bị cáo xin xem xét lại tội trạng, bị cáo bị xử oan.

Ngày 26/3/2026 bà Trịnh Lý Khắc Xuân H làm đơn kháng cáo, nêu lý do: hợp đồng mua bán nhà đất hợp pháp và ngay tình, nên yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà đất nêu trên.

Ngày 26/3/2025 ông Hứa Tài H1 làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Ông không hề nhận tiền 920.000.000 đồng của bị cáo T, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử lại không buộc ông nộp số tiền trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng, đây là quan hệ dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là chưa đúng tội, chưa đúng người, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại.

Luật sư của bị cáo cho rằng, các giấy tờ giả nêu trên chưa xác định được có phải là của bị cáo đưa cho ông H1 hay không. Đối với hồ sơ về chuyển nhượng nhà cho bà H2, tờ di chúc mà bị cáo đưa theo bị cáo trình bày là tờ di chúc thật nhưng khi đưa đi giám định thì phía bà H2 lại đưa một tờ di chúc khác. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại. Luật sư thì đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Ông H1 xác định rằng số tiền 920.000.000 đồng ông không hề nhận của bị cáo T, việc buộc ông nộp tiền để trả lại cho phía ông L1 là chưa đúng vì bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo phải trả cho ông L1 920.000.000 đồng, thực tế bị cáo và ông L1 chưa hề gặp nhau, nên việc mua bán này bị cáo đã nhận tiền của ông L1 thì bị cáo phải trả cho L1.

Người đại diện cho bà H cho rằng, quá trình mua bán nhà đất của bà H với bị cáo T là hợp pháp, đã thực hiện công chứng và các trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật, phía bà H xác định không yêu cầu giải quyết đối với việc bồi thường bằng tiền mà chỉ yêu cầu công nhận việc chuyển nhượng nhà đất nêu trên và được tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm thì cho rằng, Hành vi của bị cáo thực hiện việc giao dịch mua bán, cầm cố và cung cấp sử dụng các giấy tờ giả nêu trên là rất nguy hiểm cho xã hội. Cơ quan pháp luật cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục thu thập các tài liệu, chứng cứ, đối chất, để chứng minh việc làm sử dụng giả các tài liệu, giấy tờ giả và chiếm đoạt số tiền rất lớn của các bị hại. Bị cáo nại ra không nhận tiền và không đưa những giấy tờ giả, nhưng tài liệu trong hồ sơ đã chứng minh đầy đủ, nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Đối với những người bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét yêu cầu của những người bị hại theo hồ sơ thì đây là một vụ án hình sự về hành vi lừa đảo bởi các giấy tờ và các hành vi giả mạo. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã hủy các hợp đồng nêu trên và xác định vô hiệu là phù hợp.

Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Trịnh Lý Khắc Xuân H, bà không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tách thành vụ kiện dân sự khác giành quyền khởi kiện cho bà H khi có yêu cầu, là đã bảo đảm được quyền lợi cho phía bà H, nên đề nghị giữ nguyên phần này.

Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Hứa Tài H1, đề nghị giữ nguyên, không chấp nhận kháng cáo của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Thị Bích T9, ông Hứa Tài H1, bà Trịnh Lý Khắc Xuân H, làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

[2.1] Trong thời gian từ năm 2018 đến năm 2019, bà H2 đã nhiều lần cho bị cáo vay mượn tiền để làm ăn, lợi dụng lòng tin, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối là có một thửa đất tại 238 địa chỉ 48T, đường K, khóm D, phường H, thành phố S. Bị cáo T9 đưa cho bà H2 một tờ di chúc, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thỏa thuận mua bán đất cho bà H2 hứa hẹn, khi hoàn thành thủ tục thì đứng tên chủ sử dụng đất sẽ chuyển cho bà H2.

Sau năm lần hứa hẹn thỏa thuận bị cáo đã chiếm đoạt của bà H2 tổng cộng 4.410.000.000 đồng. Đến nay số tiền này thì bị cáo chưa trả lại cho bị hại.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định lời trình bày của bà H2 và qua biên bản đối chất với bị cáo, với người bị hại cũng như các tờ biên nhận mà bà H2 giao nộp qua giám định đều là chữ viết, chữ ký của bị cáo phù hợp với số tiền mà bị hại đã tố giác nên bị cáo cho rằng việc có tiền lãi trong đó là 2.405.000.000 đồng, nhưng bị cáo không chứng minh được những tài liệu, chứng cứ nào để cho rằng có số tiền lãi nêu trên. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận đối với lời nại này của bị cáo là phù hợp.

[2.2] Đối với hành vi về cầm cố tài sản, những người đứng tên trong hợp đồng đặt cọc, đứng tên trong các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đều không có giao dịch với ông H1, không biết ông H1. Qua các lời khai và các biên bản làm việc thể hiện, ông H1 và những người cầm cố đất không có quan hệ quen biết mà chỉ có bị cáo mới biết được thông tin của những người này và thông tin đối với số thửa đất mà ông H1 đã cầm cố.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định, việc bị cáo cho rằng bị cáo không biết và không nhận tiền từ ông H1 để giao cho những người này, nhưng hàng tháng bị cáo có thu lãi được thể hiện khi kiểm tra, thu giữ điện thoại của ông H1 và của bị cáo, thể hiện nội dung bị cáo và ông H1 về việc trao đổi tiền lãi đối với tiền hợp đồng đặt cọc này của những người mà đi cầm cố về giao cho ông H1.

Như vậy, những người này không hề quen biết và không có giao dịch với ông H1 thì đó chính là số tiền của bị cáo, bị cáo không nhận tiền từ ông H1 thì sẽ không có hành vi đưa tiền lãi. Nhận định nêu trên của cấp sơ thẩm là phù hợp với các chứng cứ và tài liệu cũng như các phân tích như đã nêu trên.

Theo kết quả giám định của cơ quan chức năng thì có 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị cáo đưa cho ông H1, nay ông H1 đã giao nộp cho cơ quan điều tra đều thể hiện là giấy giả, chữ viết và chữ ký trên các hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều là giả, những giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này phù hợp với hợp đồng đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ viết, chữ ký của bị cáo.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo đưa ra thông tin giả dối về việc cầm cố các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để cầm cho ông H1 và bà C từ đó chiếm đoạt số tiền 6.700.000.000 đồng của ông H1 và bà C là phù hợp.

[2.3] Ngoài ra, trong thời gian từ năm 2021 đến năm 2022, bị cáo T9 làm môi giới, mua bán nhà đất cho ông H1, khi có người cần chuyển nhượng nhà đất, bị cáo nói cho ông H1 biết, nếu ông đồng ý mua, bị cáo T9 giúp ông H1 làm thủ tục chuyển nhượng, ông H1 không cần đến Văn phòng C3 ký hợp đồng mà chỉ cần ký vào các hợp đồng được bị cáo T9 đưa đến nhà và đưa tiền cho bị cáo T9 để giao cho bên bán. Qua đó, bị cáo T9 đã mang 5 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông H1 mua về giao cho ông H1. Từ đó chiếm đoạt số tiền 5.320.000.000 đồng. Bị cáo cho rằng không giới thiệu cho ông H1 mua các thửa đất và không có nhận tiền từ ông H1, bà C. Bị cáo chỉ ghi trong các hợp đồng theo sự hướng dẫn của ông H1. Trong đó thì có một số thửa đất thể hiện như sau:

Đối với thửa 733 tờ bản đồ 31. Địa chỉ: Khóm B, phường E, thành phố S, bà Lâm Mỹ A thể hiện ông Nguyễn Văn N3, bà Lê Thị N4, ông N3 có chuyển nhượng cho ông Bùi Văn D1 và đăng ký biến động ngày 12/1/2022. Ông N3 không có quen biết với bị cáo T9 và ông H1, còn bà Lâm Mỹ A không có đứng tên và không có giao dịch mua bán thửa đất 733 với ông H1 và địa chỉ trong hợp đồng cũng không phải là địa chỉ của Lâm Mỹ A. Văn phòng C3 không có chứng thực đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 733 này, vì đây là công chứng giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC674836 thửa 733 qua giám định là giấy giả. Kết quả điều tra thì ông Lâm Tấn H5 không có đặt cọc tiền để mua bán đối với thửa đất 733.

Đối với căn cước công dân của ông Đinh Công T10 Em thì Tú E nhận chuyển nhượng thửa đất số 776 tờ bản đồ 5a. Địa chỉ thửa đất: Khóm C, phường B, thành phố S (trên thửa đất có căn nhà nhưng chưa ghi nhận trên Giấy chứng nhận) từ ông H1 và bà Dương Thị C với số tiền là 1.240.000.000 đồng, công chứng hợp đồng chuyển nhượng ngày 21/1/2022 tại Văn phòng C3, nhưng Tú E thỏa thuận và thanh toán số tiền cho bị cáo T9. Cụ thể là đặt cọc 50.000.000 đồng, trả tiền mặt là 390.000.000 đồng, còn lại 800.000.000 đồng thì làm biên nhận nợ với bị cáo T9.

Ngày 21/1/2022, sau khi sang tên vay thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B chi nhánh S2, thành phố S. Khi được giải ngân thì rút tiền trả bị cáo T9. Tú Em không có trực tiếp gặp ông H1 và bà C.

Đối với Nguyễn Vũ L2 có đặt cọc 920.000.000 đồng, vào ngày 01/10/2022 đưa trước 450.000.000 đồng, vào ngày 12/11/2022 đưa tiếp 300.000.000 đồng và ngày 19/12/2022 đưa 170.000.000 đồng cho bị cáo T9 để mua thửa đất 733.

Bị cáo T9 nói là của ông H1, bà C nhưng một thời gian sau bị có T9 đưa cho ông L2 hợp đồng đặt cọc ngày 5/2/2023. Thực tế ông L2 chưa từng quen biết và gặp ông H1 và bà C.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định có đủ cơ sở chứng minh bị cáo T9 đã sử dụng hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/2/2022, có công chứng tại văn phòng Nguyễn C2 là công chứng giả, biên nhận tiền ngày 26/2/2022 cũng là giả và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC674836 thửa 733 cũng là giả để lừa ông H1 mua đất và chiếm đoạt số tiền 1.620.000.000 đồng của ông H1. Ngoài ra, việc đưa ra thông tin gian dối về việc chuyển nhượng thửa đất 733 mà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đứng tên ông H1, bị cáo đã lừa ông Nguyễn Vũ L2 để lấy số tiền 920.000.000 đồng.

Đối với thửa đất 172 ở tại số nhà A N, Phường I, thành phố S, ngày 8/11/2022, ông H1, bà C đến Văn phòng công chứng ký công chứng hợp đồng ủy quyền cho T9 tại Văn phòng C3 đối với thửa đất số 566. Địa chỉ: Khóm B, phường B, thành phố S để cho bị cáo gộp thửa cùng nhiều hợp đồng khác. Lợi dụng việc ông H1 và bà C không đọc kỹ hợp đồng về việc ủy quyền cho bị cáo đối với các thửa đất nêu trên, bị cáo đã đưa cho ông H1 ký nhiều hợp đồng ủy quyền và chuyển nhượng cho ông M1 để vay 1.200.000.000 đồng. Sau đó chuyển nhượng qua cho Trịnh Lý Khắc Xuân H với số tiền 2.000.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã điều tra và chứng minh ngày 8/11/2022, bị cáo đã được ông H1 ủy quyền, mà theo bị cáo là chuyển nhượng cho bị cáo, nhưng ngày 15/11/2022, bị cáo vẫn ký thay ông H1 đối với hợp đồng đặt cọc với ông Kenvin N5 để chuyển nhượng thửa đất này. Kết quả điều tra không có ông Kenvin N5 và ông L3 cũng không có chứng kiến hợp đồng này. Bị cáo cũng đã đưa về cho ông H1 một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đã được cấp đổi sổ mới đối với thửa đất này.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định, bị cáo T9 đưa ra thông tin gian dối về việc cấp đổi giấy chứng nhận số 580109 cấp ngày 18/8/2003, để ông H1 đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lợi dụng việc ông H1 ký ủy quyền đối với thửa 65, thửa 66 cho bị cáo T9 đi gộp thửa nhưng không đọc kỹ nội dung đã ký hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất 127. Từ đó, T9 đưa lại giấy chứng nhận CX824332 giả cho ông H1, lợi dụng hợp đồng ủy quyền cho bị cáo của ông H1, bị cáo đã chuyển nhượng cho bà H để chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng của bà H.

[2.4] Xét thấy, hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được rằng việc xâm phạm đến tài sản người khác một cách trái pháp luật sẽ bị xử lý. Lợi dụng lòng tin và sơ hở của người bán, người mua, người cầm nhà đất cũng như những người bị hại khác để đưa ra thông tin, tài liệu không có thật, tài liệu gian dối, tài sản không thuộc sở hữu bị cáo, đồng thời sử dụng các tài liệu giả cơ quan, tổ chức để tạo lòng tin cho các bị hại chiếm đoạt của các bị hại với tổng số tiền 22.229.822.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận các hành vi trên là phạm tội, nhưng kết quả điều tra xác định bị cáo đã sử dụng số tiền chiếm đoạt vào việc mua bán trái cây, mua bán nhà đất, bị cáo trả tiền gốc và lãi các khoản vay, chi trả tiền lãi khi thực hiện hành vi gian dối, cầm các thửa đất, chi tiền cọc mua đất, tiền thuê nhà để che giấu hành vi gian dối. Việc bị cáo thực hiện hành vi như trên đó là hành vi lừa đảo, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại một cách trái pháp luật, xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo với mức án nêu trên là phù hợp, trong đó có xem xét các tình tiết tăng nặng như vi phạm tội nhiều lần và những tình tiết giảm nhẹ như bị cáo chưa tiền án, tiền sự, bị cáo cũng được Ủy ban nhân dân phường H7 tặng giấy khen. Những tình tiết này được pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 51, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo tiếp tục kêu oan, nhưng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình ngoài các lời khai lặp lại giống như lời khai tại cấp sơ thẩm. Do đó cấp phúc thẩm không có cơ sở để xem xét theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

[2.5] Đối với trách nhiệm dân sự thì Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định pháp luật xử lý hậu quả và tuyên bố hủy các giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, do bị lừa dối là phù hợp với quy định, trong đó có việc hủy đối với hợp đồng chuyển nhượng cho bà H đối với căn nhà 1 đường N là phù hợp.

Về số tiền 2.000.000.000 đồng bị cáo T9 đã chiếm đoạt của bà Trịnh Lý Khắc Xuân H từ hợp đồng chuyển nhượng căn nhà nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã tách ra giải quyết thành một vụ kiện khác do bà H không có yêu cầu là cũng bảo đảm quyền lợi của bà H và phù hợp với các quy định pháp luật. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà H về việc đòi tiếp tục mua bán căn nhà này là không có cơ sở để chấp nhận.

[2.6] Đối với số tiền 920.000.000 đồng mà bị cáo T9 chiếm đoạt của ông L2, đây là số tiền mà bị cáo khai nhận là đã nhận của ông L2 làm ba đợt vào năm 2022, đến năm 2023 bị cáo có ký hợp đồng đặt cọc với ông H1, bị cáo khai là đưa số tiền này cho ông H1, nhưng ông H1 bà C khai có ký hợp đồng đặt cọc nhưng ở phần ký nội dung xác nhận đã nhận đủ tiền thì ông bà không ký, vì thực tế bị cáo T9 không có đưa số tiền này cho ông bà.

Xét thấy, tại hợp đồng đặt cọc, ngoài phần nội dung đặt cọc, không có nội dung đã nhận đủ số tiền nêu trên. Mặc khác, thực tế thì số tiền này bị cáo nhận làm ba lần và việc làm hợp đồng đặt cọc vào năm 2023 này là để nhằm hợp thức hóa đối với số tiền bị cáo đã nhận từ ông L2. Bị cáo không có gì chứng minh là đã đưa trực tiếp số tiền này cho ông H1 và bà C. Toà án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường số tiền nêu trên cho ông L2 là đúng, nhưng lại buộc ông H1, bà C phải nộp số tiền này là chưa phù hợp, vì cùng một số tiền mà buộc bị cáo và ông H1, bà C cùng chịu là chưa phù hợp, Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại phần này cho đúng quy định của pháp luật.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên bị cáo Lương Thị Bích T phải chịu theo luật định.

[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo kêu oan của bị cáo Lương Thị Bích T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trịnh Lý Khắc Xuân H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần này.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hứa Tài H1, sửa bản án sơ thẩm về phần này.

Tuyên xử:

  1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng Điều 584; Điều 585, 586 và Điều 589 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

    Xử phạt bị cáo Lương Thị Bích T 18 (mười tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 (bốn) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 24/5/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Áp dụng Điều 116, Điều 127; Điều 131; Điều 133 Bộ Luật Dân sự năm 2015 tuyên bố các giao dịch dân sự sau vô hiệu và xử lý hậu quả:

    • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/11/2022 đối với 02 thửa đất số 65 và 66, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: khóm F, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giữa vợ chồng Hứa Tài H1 và Dương Thị C ký với ông Đặng Công M1, buộc ông M1 trả lại cho ông H1 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 65 và 66.
    • Hợp đồng ủy quyền ngày 08/11/2022 đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giữa vợ chồng ông Hứa Tài H1 và Dương Thị C với bị cáo Lương Thị Bích T.
    • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/11/2022 đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng giữa bà Trịnh Lý Khắc Xuân H và bị cáo Lương Thị Bích T được ông H1 ủy quyền, buộc bà H trả lại lấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 01, số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

    Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền cho các bị hại: Trong đó, bà Hứa Ngọc H2, số tiền: 4.410.000.000 đồng; Ông Hứa Tài H1 số tiền 12.020.000.000 đồng; Ông Nguyễn Bửu L1 số tiền 920.000.000 đồng; Ông Đặng Công M1 số tiền 500.000.000 đồng.

    Đối với số tiền 2.000.000.000 đồng mà bị cáo Lương Thị Bích T chiếm đoạt của bà Trịnh Lý Khắc Xuân H từ việc bán căn nhà số nhà : đường N, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng bà H không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên tách thành vụ kiện dân sự khác giành quyền khởi kiện cho bà H khi có yêu cầu.

    Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:

    Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả cho ông Lâm Khánh T8 01 điện thoại di động hiệu Vivo T1x màu xanh (đã qua sử dụng); Trả cho Lương Thị Bích T 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 10, màu xanh đã qua sử dụng.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Thị Bích T phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Thị Bích T phải chịu số tiền 125.850.000 (một trăm hai mươi lăm triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
  6. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lương Thị Bích T phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng.
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng.
  • - Công an tỉnh Sóc Trăng.
  • - Trại TG Công an tỉnh Sóc Trăng.
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 458/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 458/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa 1 phần án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger