TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
Bản án số: 458/2025/DS -ST
Ngày: 13-06-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Phan Thị Diệu Hoa
- 2. Ông Trần Công Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 799/2024/TLST-DS ngày 15/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 525/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 745/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S1
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D
Người đại diện theo ủy quyền : Ông Nguyễn Ngọc M – sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt)
Văn bản ủy quyền: số 507/2024/UQ-TTXLN ngày 25/06/2024
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Thái Thái S – sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số B N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/07/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S2 (Gọi tắt Ngân hàng S2) do ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền có lời khai thể hiện:
Ngày 21/10/2021 ông Thái Thái S và Ngân hàng S2 ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng. Mục đích vay tiêu dùng cá nhân; Lãi suất là 2.482%/ tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 109.675.212 đồng.
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Ông S phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông S đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 77.821.427 đồng (Chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước;
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ;
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ;
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông S vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông S vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Ngày 06/01/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 59.252.452 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (Là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông S, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông S vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Tính đến ngày 19/05/2025, ông S còn nợ Ngân hàng S2 theo Thẻ tín dụng số : 436438-9922, số tiền cụ thể:
- Nợ gốc: 59.252.452 đồng
- Lãi quá hạn: 36.766.000 đồng
- Tổng cộng : 96.018.452 đồng.
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 59.252.452 đồng với lãi suất quá hạn là 3.723%/ tháng (2.482%*150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Ngân hàng S2 yêu cầu ông S phải thanh toán một lần số tiền nợ trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay: Ngân hàng S2 do ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Thái Thái S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và Hợp đồng thẻ tín dụng, xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.
Thời hạn tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án : Nguyên đơn Ngân hàng S2 khởi kiện yêu cầu ông Thái Thái S trả số tiền vay còn thiếu theo Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên đã ký kết cùng với tiền lãi tổng cộng số tiền là 96.018.452 đồng và thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ yêu cầu khởi kiện, Hợp đồng thẻ tín dụng, lời trình bày của nguyên đơn, chứng cứ thu thập được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện ông S có vay tiền của Ngân hàng thông qua hình thức sử dụng tài khoản thẻ tín dụng. Ông S có sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán tiền và giao dịch mua hàng hóa nhưng chưa trả lại tiền cho ngân hàng. Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S2.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 21/10/2021 giữa Ngân hàng S2 với ông Thái Thái S, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T nên Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn Ngân hàng S2 do ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Thái Thái S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn ông S không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ. Ông S đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu của phía nguyên đơn Ngân hàng S2 để xem xét giải quyết vụ án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Xét, Ngân hàng S2 yêu cầu ông S phải thanh toán số tiền còn thiếu là 96.018.452 đồng (Trong đó nợ gốc là 59.252.452 đồng và nợ lãi là 36.766.000 đồng). Nợ lãi này tính đến ngày 19/05/2025. Ngân hàng yêu cầu ông S thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng S2 với ông S ký ngày 21/10/2021, thể hiện: Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông S đã thanh toán cho Ngân hàng S2 số tiền là 77.821.427 đồng. Ông S ngưng thanh toán từ tháng 01/2024, Ngân hàng nhiều lần gửi văn bản nhắc nợ nhưng ông S vẫn chưa thanh toán tiếp. Ông S vi phạm nghĩa vụ trả nợ được cam kết trong Hợp đồng thẻ tín dụng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng S2. Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S2 là có cơ sở để chấp nhận.
[4] Về thời hạn thanh toán:
Xét, Ngân hàng S2 yêu cầu ông S thanh toán một lần số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên ký kết, ông S ngừng thanh toán từ tháng 01/2024 đến nay là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ . Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S2 là có cơ sở để chấp nhận.
[5]Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S2 được chấp nhận nên bị đơn ông S phải chịu án phí trên số nợ phải thanh toán là 96.018.452 đồng x 5% = 4.800.900 đồng.
H lại tiền tạm ứng án phí là 1.793.822 đồng cho Ngân hàng S2.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S2.
- Buộc ông Thái Thái S có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S2 số tiền là 96.018.452 đồng (Chín mươi sáu triệu không trăm mười tám ngàn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó nợ gốc là 59.252.452 đồng và nợ lãi là 36.766.000 đồng). Nợ lãi này tính đến ngày 19/05/2025.
- Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Từ ngày 20/05/2025 ông S phải chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng thẻ số 436438-9922 ký ngày 21/10/2021 cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 4.800.900 đồng (Bốn triệu tám trăm ngàn chín trăm đồng) ông Thái Thái S phải chịu.
H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S2 số tiền là 1.793.822 đồng ( Một triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn tám trăm hai mươi hai đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045012 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 458/2025/DS -ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 458/2025/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
