TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 458/2024/DS-PT Ngày: 25/6/2024 V/v “Tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Ông Trần Ngọc Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Phạm Ba Duy, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 220/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các bên đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1990;
- Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1995;
Cùng địa chỉ: F thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Ông B có mặt, bà L có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện H; Địa chỉ: Thị Trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1938; Địa chỉ: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1960; (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; Cùng địa chỉ: số H, thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị Minh N1, sinh năm 1967; Địa chỉ: số C, thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Đình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1973; Địa chỉ: thôn U, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1977; Địa chỉ: số F, thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Nguyễn Thị Minh K sinh năm 1979; Địa chỉ: số A đường C, phường H, thành phố B, Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1987; Địa chỉ: số E, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Anh Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1997; Địa chỉ: số F, thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
- Ông Phan Văn T2, sinh năm 1959; (Có mặt)
- Bà Trần Thị V, sinh năm 1959; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: số G, thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị Bích L là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ T trình bày:
Các thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 703205 ngày 08/8/2003 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho hộ bà Nguyễn Thị X trong đó có thửa đất số 61, diện tích 520m², tọa lạc tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, có nguồn gốc do người khác cho cha mẹ bà Nguyễn Thị Lệ T vào khoảng năm 1975. Sau khi được cho đất, cha mẹ bà T phát dọn, cải tạo, mở rộng và sử dụng ổn định.
Ngày 07/7/2005, gia đình bà Nguyễn Thị Lệ T (gồm mẹ là bà Nguyễn Thị X và các con bà X trong đó có bà T) lập văn bản phân chia cho bà T diện tích đất 108m², thuộc thửa đất số 61, diện tích 520m².
Ngày 19/12/2005, Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 cho bà Nguyễn Thị Lệ T đối với thửa đất 61A diện tích đất 108m².
Năm 2012, ông Nguyễn Ngọc S (là anh ruột bà T) đổ đất lấn diện tích 70,7m² thuộc thửa đất 61A đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 cho bà Nguyễn Thị Lệ T.
Bà Nguyễn Thị Lệ T cho rằng, tại thời điểm gia đình họp chia đất cho bà T thì ông S không phải là thành viên hộ gia đình bà X, vì ông S đã tách khẩu ở riêng từ trước đó nên không tham gia phân chia đất.
Bà T có nhận đặt cọc của vợ chồng ông Phan Văn T2 và bà Trần Thị V để chuyển nhượng thửa đất 61A diện tích đất 108m² nhưng do phần diện tích 70,7m² trong thửa đất 61A đang có tranh chấp nên bà T thỏa thuận với ông T2, bà V chuyển nhượng phần diện tích 31,7m² trong thửa đất 61A và một phần đất ngoài thửa đất 61A. Hiện nay, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 ngày 19/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp, đang do ông T2, bà V giữ.
Khi làm đơn khởi kiện, bà T kiện ông S và vợ là bà Nguyễn Thị N.
Ngày 05/12/2019, bà Nguyễn Thị Lệ T có đơn đề nghị thay đổi bị đơn từ ông Nguyễn Ngọc S qua ông Nguyễn Ngọc B (là con ông S) và bà Nguyễn Thị Bích L (vợ ông B). Vì theo ông S trình bày diện tích 70,7m² và tài sản trên đất được ông S tặng cho ông B năm 2013. Hiện nay, ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị Bích L đang quản lý, sử dụng diện tích đất 70,7m² tranh chấp, trên diện tích đất 70,7m² có nền gạch ceramic và nền láng bê tông, có mái tôn, trụ bằng sắt.
Bà Nguyễn Thị Lệ T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị Bích L phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích 70,7m² đất tranh chấp thuộc thửa 61A, tọa lạc tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận và trả lại cho bà T diện tích 70,7m² đất tranh chấp.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Bà Nguyễn Thị Lệ T yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.
Theo đơn và lời khai của phía bị đơn ông Nguyễn Ngọc B, bà Nguyễn Thị Bích L trình bày:
Ông Nguyễn Ngọc B đang quản lý, sử dụng diện tích đất khoảng 360m², trong đó có diện tích 70,7m² đất tranh chấp. Nguồn gốc diện tích đất khoảng 360m² là của bà nội ông B là bà Nguyễn Thị X tặng cho ông Nguyễn Ngọc S (là cha của ông Nguyễn Ngọc B) vào khoảng năm 2012. Ông Nguyễn Ngọc S xây nhà trên đất và tặng nhà, đất cho vợ chồng ông B, bà Nguyễn Thị Bích L trong năm 2013. Ông B và bà L sử dụng nhà, đất đến nay.
Việc cho đất giữa ông S với vợ chồng ông B chỉ bằng lời nói. Đến nay thì vợ chồng ông B chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Trên diện tích 70,7m² đất tranh chấp có làm mái che bằng tôn, cột sắt, nền lót gạch men, xây tường rào, trụ cổng. Ông Nguyễn Ngọc B không đồng ý trả lại đất tranh chấp theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Lệ T, vì phần đất tranh chấp nằm trong diện tích đất bà Nguyễn Thị X đã cho ông S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện H trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện H cung cấp ý kiến tại các Công văn số 1246/UBND-TNMT ngày 19/6/2017; Công văn số 774/UBND-TNMT ngày 19/4/2019; Công văn số 2975/UBND-TNMT ngày 23/12/2022; Công văn số 1002/UBND-TNMT ngày 15/5/2023 của Ủy ban nhân dân huyện H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc S trình bày:
Các thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W703205 do UBND huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị X, trong đó có thửa đất mà sau này mẹ ông S làm giấy tờ cho bà Nguyễn Thị Lệ T diện tích 108m², có nguồn gốc đất do cha mẹ ông S được người khác cho sau đó cha mẹ ông S khai phá mở rộng thêm và sử dụng ổn định từ năm 1975.
Ông S cũng là thành viên trong gia đình sinh sống cùng cha mẹ. Vì vậy, việc mẹ ông S họp gia đình chia đất cho bà T mà không có sự tham gia ý kiến của ông S là không đúng. Vì vậy, biên bản họp gia đình ngày 07 tháng 7 năm 2005 là vô hiệu.
Ông S đồng ý với trình bày của con ông S là ông Nguyễn Ngọc B về nguồn gốc diện tích đất khoảng 360m², trong đó có diện tích 70,7m² đất tranh chấp. Năm 2012, mẹ ông S cho ông S diện tích đất 360m² thì có lập giấy tờ.
Ông Nguyễn Ngọc S không đồng ý yêu cầu của bà T. Ông S yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 ngày 19/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ T và Tuyên bố biên bản họp gia đình ngày 07/7/2005 là vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T2, bà Trần Thị V trình bày:
Ông Phan Văn T2 và bà Trần Thị V có thỏa thuận mua của bà Nguyễn Thị Lệ T một phần của thửa đất diện tích 108m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 ngày 19/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ T, cụ thể như sau:
Theo mảnh trích đo địa chính số 258-2018 ngày 20/11/2018 của Chi nhánh Văn phòng Đ thì ban đầu vợ chồng ông T2 có nhu cầu nhận chuyển nhượng 108m² đất của bà T. Tuy nhiên, ông S đã xây dựng hàng rào trên phần diện tích là 70,7m² của bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T2 với bà T thỏa thuận chuyển nhượng 91,1m² gồm phần còn lại trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T và phần ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong hành lang dường bộ.
Sau đó vợ chồng ông T2 đã xây dựng nhà tạm với diện tích 31,7m² trong diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn lại là 59,4m² nằm trong hành lang an toàn đường bộ, tổng cộng diện tích là 91,1m².
Hiện nay giữa bà T và ông B, bà L đang tranh chấp diện tích 70,7m² đất không liên quan đến diện tích đất 91,1m² mà vợ chồng ông T2 nhận chuyển nhượng của bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2023/DS-ST ngày 05/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ T.
Buộc ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị Bích L phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích đất 70,7m² và trả lại cho bà Nguyễn Thị Lệ T diện tích đất 70,7m² nêu trên, thuộc thửa đất số 61A, diện tích 108m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 ngày 19/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ T.
Diện tích đất 70,7m² tọa lạc tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, gồm các mốc “5, 6, 7, 8” theo Mảnh trích đo địa chính số 258-2018 ngày 20/11/2018 do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành. (Kèm theo bản án là Mảnh trích đo địa chính số 258-2018 ngày 20/11/2018 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam ban hành).
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc S về việc đòi hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 ngày 19/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ T, và tuyên bố vô hiệu biên bản họp gia đình ngày 07/7/2005.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 12/12/2023, ông Nguyễn Ngọc B, bà Nguyễn Thị Bích L làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, gây thiệt hại quyền lợi cho bị đơn, yêu cầu phúc xử lại bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, cho rằng bản án sơ thẩm đã xét xử đúng với quy định pháp luật, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phía bị đơn thì cho rằng nếu giải quyết như bản án sơ thẩm thì sẽ không có lối đi ra cho phía nhà của ông S đã được mẹ ông S là bà Nguyễn Thị X cho tặng đối với phần diện tích đất tranh chấp nêu trên. Phía bị đơn kháng cáo yêu cầu không chấp nhận khởi kiện của phía bà T vì phần diện tích trên đã được bà X là bà nội ông B cho tặng đối với ông S, sau đó ông S là cha của ông B cho lại ông B là đúng thực tế, nên đề nghị sửa bản án sơ thẩm, bác khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa như nguyên đơn, bị đơn, người có quyền nghĩa liên quan cũng đã được trình bày và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa.
Về nội dung: Quá trình giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các chứng cứ, tài liệu cũng như thực tế khách quan về việc cư trú và xác định đối với phần diện tích đất nêu trên được cấp giấy chứng nhận cho bà T. Ông S không phải là người trong hộ gia đình, vì tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, ông S đã ra ở riêng ở nơi khác nên việc ông S cho rằng được mẹ cho 70,7m² ở trong phần đất của bà T là chưa đúng với thực tế. Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa nghe đương sự trình bày và nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục kháng cáo:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc B, bà Nguyễn Thị Bích L làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
- Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
- [2.1] Theo văn bản số 1246 ngày 19/6/2017 của Ủy ban nhân dân huyện H thể hiện nội dung: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 703205 ngày 08/8/2023 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho hộ bà Nguyễn Thị X đối với bốn thửa đất, trong đó có thửa đất số 61 diện tích 520m².
Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thành viên trong hộ gia đình gồm bà X là chủ hộ, bà Lệ T là con, bà N2 là con, bà D là con, bà K là con, Nguyễn Ngọc T1 là cháu, Nguyễn Thị Minh N1 là con, Nguyễn Hoàng G là cháu. Riêng ông Nguyễn Ngọc S là con nhưng không phải là thành viên trong hộ gia đình của bà X.
Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/7/2005, hộ của bà Thị X có họp gia đình và lập biên bản chia cho bà Nguyễn Thị Lệ T diện tích đất 108m² thuộc thửa đất số 61, mục đích sử dụng là đất ở nông thôn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 19/7/2005.
Sau đó, bà Nguyễn Thị X đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Lệ T. Thửa đất được đánh số là 61A diện tích 108m² cũng được Ủy ban xã H chứng thực số 179 ngày 16/8/2005. Ông S trong quá trình giải quyết vụ án cũng thừa nhận, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Thị X thì ông đã tách hộ khẩu ra ở riêng.
- [2.2] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định việc chia đất của bà X cho bà T không buộc phải có sự đồng ý của ông S. Mặt khác, theo ông S trình bày thì ông cũng được mẹ là bà Thị X cho một phần đất có diện tích đất 180m², đến nay thì do phần đất của bà T chắn ngang nên không có lối đi ra. Ở phần này, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định quá trình giải quyết vụ án phía ông S, ông B đã không có yêu cầu giải quyết về lối đi, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định trường hợp ông B, bà L có yêu cầu mở lối đi ra đường công cộng thì có quyền khởi kiện thành một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của bà T và không chấp nhận yêu cầu của phía ông S là có căn cứ và hợp pháp.
- [2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía ông B, bà L kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, không có cơ sở để cấp phúc thẩm chấp nhận.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Án phí phúc thẩm dân sự: Ông B, bà L kháng cáo không được chấp nhận nên chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị Bích L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 266, Điều 269, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sụ; Điều 117, Điều 164, Điều 166, Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 7 Điều 95, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ T.
Buộc ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị Bích L phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích đất 70,7m² và trả lại cho bà Nguyễn Thị Lệ T diện tích đất 70,7m² nêu trên, thuộc thửa đất số 61A, diện tích 108m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 ngày 19/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ T.
Diện tích đất 70,7m² tọa lạc tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, gồm các mốc “5, 6, 7, 8” theo Mảnh trích đo địa chính số 258-2018 ngày 20/11/2018 do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành. (Mảnh trích đo địa chính số 258-2018 ngày 20/11/2018 do Chi nhánh Văn phòng Đ đã kèm theo bản án sơ thẩm).
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Ngọc S về việc đòi hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 514729 ngày 19/12/2005 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho bà Nguyễn Thị Lệ T, và tuyên bố vô hiệu biên bản họp gia đình ngày 07/7/2005.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông B, bà L mỗi người phải chịu số tiền 300.000đồng, được khấu trừ số tiền 300.000đồng mỗi người đã nộp theo các Biên lai thu số 0000125 và 0000124 ngày 19/01/2024 đều của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Thuận. Như vậy, ông B, bà L đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 458/2024/DS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 458/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
