Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án: 457/2024/HS-ST

Ngày: 29-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Tam;
  2. Bà Vương Thị Khánh Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 401/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 403/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 747/2024/HSST-QĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và thông báo về việc dời lịch xét xử vụ án số 349/TB-TA ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thái D, năm 1984 tại tỉnh Bình Dương; Địa chỉ: A, tổ C, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông Nguyễn Đức T và bà Đoàn Thị T1, gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có vợ tên Phan Thị Thúy L, sinh năm: 1985, có 01 con sinh năm 2002.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).

2. Đặng Linh T2, sinh năm: 1984 tại Đồng Nai; Địa chỉ: G, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Con ông Đặng Hữu C và bà Diệp H, gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm: 1977, có 02 con sinh năm 2007 và 2014.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).

3. Nguyễn Thanh H2, sinh năm: 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 5/12; Con ông Nguyễn Thanh H3 và bà Trần Ngọc T3, gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Khánh L1, sinh năm: 1988, có 02 con sinh năm 2008 và 2014.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).

4. Hồ Thành P, sinh năm: 1981 tại An Giang; Nơi đăng ký HKTT: Ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện tại: Khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Trình độ học vấn: lớp 7/12; Con ông Hồ Thanh T4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Bị cáo có vợ tên Đào Thị L2, sinh năm: 1987, có 02 con sinh năm 2015 và 2022.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).

5. Ngô Văn L3, sinh năm: 1988 tại Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Con ông Ngô Văn C1 và bà Trần Thị T5, gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có vợ tên Trần Thị Kim C2, sinh năm: 1988 (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2010 và 2018.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).

6. Lê Văn N, sinh năm: 1965 tại Lâm Đồng; Nơi ở hiện tại: 1, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 7/12; Con ông Lê Văn T6 (đã chết) và bà Ngô Thị D1 (đã chết), gia đình có 2 chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có vợ tên Hồ Thị Lệ H4, sinh năm: 1963, có 01 con sinh năm 1991.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).

7. Hồ Văn T7, sinh năm: 1988 tại Cà Mau; Nơi đăng ký HKTT: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nơi ở hiện tại: Tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 6/12; Con ông Hồ Văn N1 (đã chết) và bà Đỗ Thị L4, gia đình có 7 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; Bị cáo có vợ tên Quỳnh Thị Trúc L5, sinh năm: 1991, có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 đến ngày 05/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn N là người không có nghề nghiệp ổn định, khoảng tháng 01 năm 2024, N được một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch) thuê làm công việc nuôi gà tại bãi đất trống thuộc tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B. Quá trình làm việc tại đây, khi có người có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức đá gà cá cược ăn thua bằng tiền và nhờ N làm trọng tài thì N đồng ý và được trả tiền công bằng 5% trên tổng số tiền thắng cược. Cách thức đánh bạc cụ thể như sau: Những người tham gia đánh bạc sử dụng 02 con gà đá có gắn cựa để đánh bạc; những người tham gia đánh bạc chia làm 02 nhóm, mỗi nhóm đặt cược bằng tiền vào một trong hai con gà trên, thông qua N làm trọng tài. Sau khi N cân đối chốt tổng số tiền đặt cược mỗi bên và thỏa thuận tỉ lệ thắng thua thì N bắt đầu tiến hành hô khẩu hiệu thả cho 02 con gà trên đánh nhau (đá nhau). Quá trình đánh bạc, nếu có một trong 02 con gà bị chết hoặc bỏ chạy thì trận đá gà kết thúc, nhóm người đã đặt cược vào con gà bị chết hoặc bỏ chạy là người thua cược và phải giao số tiền đã đặt cược theo tỉ lệ đã thỏa thuận trước đó cho nhóm người thắng cược thông qua N, khi có kết quả thắng thua N sẽ là người thu tiền của bên thua để giao cho bên thắng và N sẽ được hưởng số tiền làm trọng tài nêu trên. Để có người tới đánh bạc, N đã nhờ Hồ Văn T7 dẫn dắt người tới chơi và trả tiền công cho T7 số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng)/ 01 lần dẫn người đến đá gà.

Vào khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 28/01/2024, T7 nhận được điện thoại của một người tên M (chưa rõ nhân thân) nói có 02 cánh gà muốn đến bãi đất trống của N (nêu trên) để đá gà ăn thua bằng tiền và nhờ N làm trọng tài nên T7 bàn bạc với N, thì N đồng ý. Sau đó, đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Thái D, Đặng Linh T2, Ngô Văn L3, Nguyễn Thanh H2, Hồ Thành P và một đối tượng tên L2 (chưa rõ nhân thân) mang theo 02 con gà đến (01 con được gọi là gà Điều do D mang đến và 01 con được gọi là gà Xanh do T2 mang đến). Tại đây, do con gà Xanh có trọng lượng nặng hơn con gà Điều nên các đối tượng thỏa thuận miệng với nhau tỉ lệ thắng thua là 01 - 0.85 (tức là nếu nhóm gà Điều thắng thì thắng toàn bộ tiền cá cược của nhóm gà X; nếu bên nhóm gà Xanh thắng thì chỉ được nhận tương đương 85% tổng số tiền cá cược của nhóm gà Điều), do N làm trọng tài nhưng không giao tiền trước cho N, cụ thể nhóm đặt cược con gà Điều thắng tổng số tiền 2.975.000đ (Hai triệu, chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) gồm: D cược số tiền 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), P cược số tiền 425.000₫ (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), L3 cược số tiền 425.000₫ (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) và Hồ cược số 425.000đ (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Nhóm đặt cược bên con gà Xanh thắng tổng số tiền 3.500.000₫ (Ba triệu, năm trăm nghìn đồng) gồm: Đặng Linh T2 cược số tiền 1.750.000đ (Một triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và đối tượng tên L2 (chưa rõ nhân thân) cược số tiền 1.750.000đ (Một triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số đánh bạc hai bên là 6.475.000đ (Sáu triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Sau khi thỏa thuận cá cược xong, các bên chuẩn bị thả gà ra đá thì bị Lực lượng Cảnh sát hình sự Công an thành phố B phát hiện, phối hợp với Công an phường H bắt quả tang, riêng đối tượng L2 đã chạy trốn thoát.

Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án gồm:

  • Thu giữ tại hiện trường 02 con gà đá (gà trống: gà Điều khối lượng 2,8kg và gà Xanh khối lượng 3,0kg), sau khi tạm giữ 02 con gà đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiêu hủy (Bút lục số: 272-273);
  • 01 cân loại 05kg sử dụng để cân gà. (Bút lục số: 03);
  • Thu giữ trên người của các bị cáo tổng số tiền là 7.268.000 đồng (Bảy triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng), trong đó:
    • + Số tiền sử dụng để đánh bạc 4.668.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng), gồm: Đặng Linh T2 số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Hồ Thành P số tiền 368.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng);
    • + Còn lại số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng) các bị cáo khai không sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: Hồ Văn T7 số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 575.000 đồng (Năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), Đặng Linh T2 số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng);
    • (Bút lục số: 136-149, 156-164, 171-180, 187-196, 204-211, 218-225, 232-245);
  • 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (màu đen) bên trong gắn sim số 0329737046, thu giữ của bị cáo Đặng Linh T2, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo T2; (Bút lục số: 264);
  • 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển số 60L9-3290, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của bị cáo Ngô Văn L3, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo L3; (Bút lục số: 269-270);
  • 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA1174 (Số IMEI 353115113515166) thu giữ của bị cáo Hồ Thành P, là phương tiện liên lạc P sử dụng vào mục đích phạm tội;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 59L1-812.45 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H2, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo H2 là đúng theo quy định;
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thái D, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo D; (Bút lục số: 259);
  • * Quá trình điều tra Lê Văn N còn khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 28/01/2024, cũng tại bãi đất trống trên Nở đã làm trọng tài cho đối tượng Nguyễn Thanh T8 (sinh năm 1977, ngụ ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp) và đối tượng tên G (chưa rõ lai lịch), cá cược tổng số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) và được trả tiền công là 150.000 đồng. Ngoài ra, N còn 04 lần làm trọng tài cho các đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền và N không nhớ rõ được trả tiền bao nhiêu trong 04 lần này. Kết quả điều tra, chưa có đủ chứng cứ, tài liệu để kết luận, xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 401/CT-VKSBH ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Thái D, Đặng Linh T2, Ngô Văn L3, Nguyễn Thanh H2, Hồ Thành P, Lê Văn N, Hồ Văn T7 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái D từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đặng Linh T2 từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H2 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Thành P từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Văn L3 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
  • - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Văn T7 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 cân loại 05kg sử dụng để cân gà;
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 4.668.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng), các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc gồm: Đặng Linh T2 số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Hồ Thành P số tiền 368.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA1174 (Số IMEI 353115113515166) là phương tiện liên lạc sử dụng vào mục đích phạm tội;
  • - Buộc bị cáo Lê Văn N nộp lại số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung qũy Nhà nước;
  • - Buộc bị cáo Hồ Thành P nộp số tiền 57.000 đồng (năm mươi bảy nghìn đồng) là số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc để sung qũy Nhà nước.

Đối với số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng), trả lại cho bị cáo cho Hồ Văn T7 số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 575.000 đồng (Năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), Đặng Linh T2 số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).

Tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với bản cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Kính mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và không ai có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Trên cơ sở khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 28/01/2024, tại bãi đất trống thuộc tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Hồ Văn T7 có hành vi giúp sức và Lê Văn N có hành vi làm trọng tài giúp sức cho Nguyễn Thái D, Đặng Linh T2, Ngô Văn L3, Nguyễn Thanh H2, Hồ Thành P và một đối tượng tên L2 (chưa rõ nhân thân) thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đá gà thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng đánh bạc của cả hai nhóm là 6.475.000₫ (Sáu triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

    Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thái D, Đặng Linh T2, Ngô Văn L3, Nguyễn Thanh H2, Hồ Thành P, Lê Văn N, Hồ Văn T7 như đã nêu trên, đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Từ những căn cứ trên, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Các bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng ham lợi và xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa của nhân dân.

  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với các bị cáo.
  5. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau: Bị cáo P được M giới thiệu địa điểm đá gà thì đã rủ bị cáo H2 cùng tham gia. Sau đó bị cáo H2 rủ bị cáo D. Bị cáo T2 do đối tượng tên L2 (không rõ nhân thân lai lịch) rủ tham gia đá gà. Các bị cáo D và T2 sử dụng số tiền nhiều nhất để tham gia đánh bạc cụ thể là D sử dụng 1.700.000 đồng và T2 sử dụng 1.750.000 đồng để đánh bạc nên giữ vai trò chính trọng vụ án. Các bị cáo P, L3, H2 cùng sử dụng số tiền là 425.000 để tham gia đánh bạc. Bị cáo N và bị cáo T7 dù không trực tiếp sử dụng tiền tham gia đánh bạc nhưng sau khi được M nhờ sắp xếp cho những bị cáo khác đá gà thì T7 đã tích cực giúp sức cho các bị cáo đến tham gia đá gà tại bãi đất trống do N là trọng Tài, dó đó N và T7 là đồng phạm giúp sức tích cực cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc.
  6. Căn cứ tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò và số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của từng bị cáo xét thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền sử dụng đánh bạc không lớn, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa sai lầm, phấn đầu trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

    Bị cáo D, T2 tham gia đánh bạc với số tiền lớn nhất nên có vai trò chính trong vụ án do đó cần xử 2 bị cáo với mức án bằng nhau và cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo P rủ bị cáo H2 đánh bạc, nhưng số tiền tham gia đánh bạc ít; bị cáo L3 không rủ ai tham gia đánh bạc và cũng không có ai rủ bị cáo tham gia; bị cáo H2 rủ D tham gia đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc ít, bị cáo T7 và bị cáo N tuy không sử dụng tiền để đánh bạc nhưng giúp sức tích cực cho các bị cáo khác đánh bạc nên cần xử các bị cáo P, L3, H2, T7, N cùng mức án là phù hợp.

  7. Về xử lý vật chứng:
    • - 02 con gà Cơ quan điều tra đã tiêu hủy là đúng quy định pháp luật.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 cân loại 05kg sử dụng để cân gà;
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 4.668.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng), các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc gồm: Đặng Linh T2 số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Hồ Thành P số tiền 368.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA1174 (Số IMEI 353115113515166) của bị cáo Hồ Thành P, là phương tiện liên lạc P sử dụng vào mục đích phạm tội;
    • - Buộc bị cáo Lê Văn N nộp lại số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung qũy Nhà nước;
    • - Buộc bị cáo Hồ Thành P nộp số tiền 57.000 đồng (năm mươi bảy nghìn đồng) là số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc để sung qũy Nhà nước.
    • - Đối với số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng), các bị cáo T7, L3, D, T2 và H2 xác định không sử dụng vào việc đánh bạc, trả lại cho các bị cáo. Cụ thể trả lại cho Hồ Văn T7 số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 575.000 đồng (Năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), Đặng Linh T2 số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia (màu đen) bên trong gắn sim số 0329737046, thu giữ của bị cáo Đặng Linh T2, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo T2 là đúng theo quy định;
    • - 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển số 60L9-3290, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của bị cáo Ngô Văn L3, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo L3 là đúng theo quy định;
    • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 59L1-812.45 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh H2, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo H2 là đúng theo quy định;
    • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thái D, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo D là đúng theo quy định;
  8. Về các vấn đề khác:
    • - Quá trình điều tra Lê Văn N còn khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 28/01/2024, cũng tại bãi đất trống trên Nở đã làm trọng tài cho đối tượng Nguyễn Thanh T8 (sinh năm 1977, ngụ ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp) và đối tượng tên G (chưa rõ lai lịch), cá cược tổng số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) và được trả tiền công là 150.000 đồng. Ngoài ra, N còn 04 lần làm trọng tài cho các đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền, N không nhớ rõ số tiền công được trả trong 04 lần này. Kết quả điều tra, chưa có đủ chứng cứ, tài liệu để kết luận, xử lý.
    • - Đối với đối tượng Nguyễn Thanh T8 (chưa có tiền án, tiền sự) tham gia đánh bạc do bị can N làm trọng tài vào ngày 28/01/2023 (nêu trên) với số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Riêng đối với đối tượng tên G (chưa rõ nhân thân) tham gia đánh bạc cùng T8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau là đúng theo quy định pháp luật.
  9. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
  10. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  11. Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thái D, Đặng Linh T2, Hồ Thành P, Ngô Văn L3, Nguyễn Thanh H2, Lê Văn N, Hồ Văn T7 phạm tội “Đánh bạc”.

  2. Xử phạt:
    • - Bị cáo Nguyễn Thái D: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
    • - Bị cáo Đặng Linh T2: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
    • - Bị cáo Nguyễn Thanh H2: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • - Bị cáo Ngô Văn L3: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • - Bị cáo Hồ Thành P: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • - Bị cáo Lê Văn N: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • - Bị cáo Hồ Văn T7: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 cân loại 05kg sử dụng để cân gà;
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia TA1174 (Số IMEI 353115113515166) của bị cáo Hồ Thành P, là phương tiện liên lạc Phinh sử dụng vào mục đích phạm tội;
    • Các vật chứng này được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Biên bản giao vật chứng ngày 08/8/2024.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 4.668.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng), các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc gồm: Đặng Linh T2 số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng), Hồ Thành P số tiền 368.000 đồng (Ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
    • - Trả lại cho bị cáo cho Hồ Văn T7 số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), Ngô Văn L3 số tiền 575.000 đồng (Năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Thái D số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), Đặng Linh T2 số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thanh H2 số tiền 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • Số tiền nêu trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà theo biên lai thu tiền số 0002733 ngày 13/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
    • - Buộc bị cáo Lê Văn N nộp lại số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính để sung qũy Nhà nước;
    • - Buộc bị cáo Hồ Thành P nộp số tiền 57.000 đồng (năm mươi bảy nghìn đồng) là số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc để sung qũy Nhà nước.
  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Thái D, Đặng Linh T2, Hồ Thành P, Ngô Văn L3, Nguyễn Thanh H2, Lê Văn N, Hồ Văn T7 phải nộp mỗi bị cáo 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - THA dân sự TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THA HS có thẩm quyền;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 457/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 457/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái D và đồng phạm phạm tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger