Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 457/2024/DS-ST

Ngày: 20/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Lợi;
  • Bà Dương Thị Thúy Duy.

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện viên kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà M – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú mở phiên toà xét sử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 262/2024/TLST – DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định xét xử số: 591/2024/QĐXXST - DS ngày 23/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 892/2024/QĐST-DS ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 (C1). Địa chỉ: Lầu E, khối E, Tòa nhà C, số B C, phường A, quận T, TP .. Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Phương Hồng T – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê T1, sinh năm 2000, theo Giấy ủy quyền số 6690/2024/AP.AG-GalaxyDT ngày 28/6/2024 của Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ G – Vắng mặt có đơn

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, cư trú: ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lê T1 trình bày:

Ngày 13/4/2019, ông Nguyễn Thị H có ký hợp đồng tín dụng số 20190411-1983399 với Công ty T2 (sau đây gọi là Công ty T2) để vay 39.900.000đ, thời gian vay 24 tháng, lãi suất vay 45%/năm. Để đảm bảo khoản vay, bà H đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-584.79 mang tên Nguyễn Thị H.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 14/8/2017 đến 30/6/2019, bà H đã thanh toán được 35.875.004đ còn nợ lại 27.394.663đ đồng trong đó nợ gốc là 20.957.932đ, lãi 6.316.731đ, đến nay không thanh toán thêm dù nhân viên Công ty đã nhiều lần liên hệ.

Ngày 31/3/2023, Công ty T2 ký hợp đồng mua bán nợ với Công ty M1 đối với số nợ của bà H.

Nhận thấy việc bà H không thanh toán đã vi phạm nghĩa vụ. Do đó, Công ty M1 khởi kiện yêu cầu bà H:

  • Phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ với số tiền gốc 20.957.932đ;
  • Trường hợp bà H không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng thì Công ty M1 được xử lý tài sản thể chấp để thu hồi nợ;
  • Bà H phải chịu mọi chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ thông báo, quyết định cho bà Nguyễn Thị H theo quy định, bà nhận được nhưng bà không có ý kiến về việc khởi kiện của Công ty M1.

Tòa tiến hành thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến bà H nhưng bà không có phản hồi.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ.

Theo biên bản xác minh của Ban N ngày 30/7/2024 thể hiện: Bà H hiện đang cư trú cùng gia đình tại ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang, chưa có thông tin tách chuyển đi nơi khác. Bà H không phải là đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo của địa phương.

Theo Thông tin về dân cư do Công an xã K ngày 30/7/2024 cung cấp thể hiện bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 là con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị X hiện vẫn do Công an xã K quản lý. Bà H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã K.

Ngày 09/8/2024, Tòa án ban hành Quyết định cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 20/8/2024, phía nguyên đơn nhận được và giao nộp các tài liệu chứng cứ theo yêu cầu.

Tại phiên tòa hôm nay, ông T1 vắng mặt có đơn. Riêng bà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt hai bên theo thủ tục chung.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật, bảo đảm đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung:

Trong quá trình giải quyết vụ kiến, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bà Nguyễn Thị H nhưng bà không có ý kiến gì và cũng không tham gia phiên hòa giải do Tòa án triệu tập, nên xem như từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình đã được pháp luật bảo vệ. Do bà H không cung cấp được chứng cứ để phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên căn cứ theo quy định tại Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của BLTTDS, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị H có ký kết hợp đồng vay với Công ty T2 và trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán khoản nợ vay nên việc Công ty M1 khởi kiện yêu cầu bà phải trả lại số tiền nợ gốc là 20.957.932đ là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 465, 466 của Bộ luật dân sự 2015, nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Ngoài ra, phía nguyên đơn chỉ yêu cầu bà Nguyễn Thị H thanh toán nợ gốc mà không yêu cầu tính lãi suất phát sinh là có lợi cho bị đơn, nên đề nghị HĐXX công nhận sự tự nguyện này.

Bên cạnh đó, để đảm bảo khoản tiền vay, bà H đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-584.79 mang tên Nguyễn Thị H. Nguyên đơn có yêu cầu nếu bà H không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng thì Công ty M1 được xử lý tài sản thể chấp để thu hồi nợ.

Tuy nhiên, vào ngày 21/8/2024, phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Xét thấy, việc đương sự rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp theo quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn, nên căn cứ quy định tại Điều 244 BLTTDS năm 2015, đề nghị HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu mà đương sự đã rút.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu án phí DSST đối với một phần yêu cầu không được chấp nhận. Riêng bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của Công ty M1 được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Công ty M1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H thanh toán số tiền 20.957.932đ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp theo quy định tại tại khoản 2, khoản 9, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Khoản 2, Điều 14, Điều 5, Điều 6, Điều 365 và Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về thời hiệu, thẩm quyền giải quyết:

Theo hợp đồng tín dụng ngày 13/4/2019 giữa Công ty T2 và bà H ký kết thì thời hạn vay 24 tháng, bà H đã thanh toán được 35.875.004đ số còn lại không thanh toán. Ngày 31/3/2023, phía Công ty T2 chuyển giao quyền yêu cầu cho Công ty M1 và khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 154 và Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Bà H hiện có địa chỉ nơi đăng ký thường trú tại xã K, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Trong vụ án này do Công ty M1 khởi kiện bà H nên xác định Công ty M1 là nguyên đơn, bà H là bị đơn; việc ủy quyền của ông Nguyễn Lê T1 là đúng quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 68, Điều 87 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay ông T1 đơn xin xét xử vắng mặt, riêng bà H đã được Hội đồng xét xử triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các ông là đúng quy định.

[5] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:

Ngày 21/8/2024, phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-584.79. Hội đồng xét xử xét thấy nội dung rút một phần yêu cầu thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 71, 217 và Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn.

[6] Về nội dung vụ án:

Hợp đồng tín dụng số 20190411-1983399 ngày 13/4/2019 giữa bà Nguyễn Thị H với Công ty T2 được lập thành văn bản, hình thức vay tín chấp. Nội dung Hợp đồng ghi nhận việc bà H nhận vay 39.000.000đ, thời gian vay 24 tháng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng, lãi suất 45%/năm. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận

mức lãi suất trong hạn, quá hạn, cơ chế điều chỉnh lãi suất, thông tin cá nhân khách hàng và cam kết của các bên.

Hội đồng xét xử nhận thấy, bà H có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thỏa thuận giao kết, hợp đồng được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 370 của Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa bà Nguyễn Thị H có ký kết hợp đồng vay với Công ty T2, giải ngân cho bà H số tiền 39.000.000đ, hạn thanh toán cuối cùng ngày 12/6/2020 nhưng đến nay bà H chưa thanh toán đầy đủ, còn nợ lại 20.957.932đ. Bà H đã vi phạm hợp đồng nên phát sinh lỗi. Ngày 28/12/2018, Công ty T2 và Công ty M1 có Hợp đồng mua bán nợ số VPBSMBCFC-GALAXY-23-004 ngày 31/3/2023.

Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 463, 465, 466 của Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay là trả đủ tiền và đúng hạn. Tuy nhiên, đã quá thời hạn thanh toán theo thỏa thuận mà bà H không trả nợ. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 161, Điều 266, 217, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 370, 429, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-584.79 mang tên Nguyễn Thị H.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn M1.

Buộc bà Nguyễn Thị H phải thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn M1 số tiền 20.957.932đ (Hai mươi triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn chín trăm ba mươi hai đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

  1. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị H phải chịu 1.047.897đ án phí dân sự sơ thẩm,

Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ G được nhận lại số tiền 524.000đ tạm ứng án phí theo biên lai tạm ứng án phí số 0009681 ngày 22/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Phú.

Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/9/2024); các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.).

 CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
 Nguyễn Thị Thảo Ngân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 457/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 457/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty M yêu cầu bà H phải trả lại tiền vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger