|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 457/2024/DS-ST
Ngày: 05/7/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Xuân Thảo
- Bà Phạm Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2024/TLST-DS ngày 13/3/2024 về “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 375/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty C
Trụ sở: Tầng B Cao ốc S, số C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Nhật M, sinh năm 2000, địa chỉ liên hệ: Tầng B Cao ốc S, số C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền.
(Ông M có đơn xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần V, sinh năm 1996
Địa chỉ: Số A C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông V vắng mặt)
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số A C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
(Ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/11/2023 của nguyên đơn Công ty C thuê Tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quốc tế C và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện hợp pháp ông Hà Nhật M trình bày:
Ngày 11/8/2023, Công ty C và ông Trần V có ký với nhau Hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 và Phụ lục 01 đính kèm với nội dung cụ thể như sau: Thời hạn thuê 72 tháng, tổng giá trị tài sản thuê là 972.728.500 đồng, tiền trả trước là 48.574.925 đồng, giá trị thuê là 924.153.575 đồng. Tài sản mà ông V có nhu cầu thuê tài chính là một ô tô tải (Pickup cabin kép), hiệu Ford, biển số: 51D-917.07.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của ông V theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 ngày 11/8/2023, công ty C có chấp nhận Thư bảo lãnh cá nhân của ông Trần Văn H được lập ngày 11/8/2023.
Thực hiện hợp đồng thuê, công ty C đã ký hợp đồng mua bán số 1230812308-PC với Công ty Cổ phần Đ để mua Tài sản thuê theo Hợp đồng thuê và cho ông V thuê lại tài sản này. Ngày 18/8/2023, ông V đã ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu Tài sản thuê và thực tế nhận bàn giao tài sản từ Công ty Đ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê, ngay kỳ thanh toán đầu tiên ông Trần V đã thanh toán không đúng hạn và đến kỳ thanh toán thứ hai thì ngưng thanh toán. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê quy định tại Điều 26 của Hợp đồng thuê đã ký nên công ty C đã phát hành Thông báo về việc chấm dứt Hợp đồng thuê và thu hồi tài sản tài sản thuê, yêu cầu ông V thanh toán tổng số tiền còn thiếu theo hợp đồng thuê tính đến ngày 10/11/2023 là 1.271.944.547 đồng. Sau khi chấm dứt hợp đồng thuê, công ty C đã nhiều lần liên hệ ông V để yêu cầu thanh toán các khoản tiền thuê còn nợ nhưng đến nay ông V vẫn chưa thực hiện thanh toán. Ngày 21/11/2023, Công ty C phát hành thư yêu cầu ông Trần Văn H thanh toán theo nội dung thư bảo lãnh cá nhân đã ký nhưng đến nay ông H vẫn chưa thanh toán số tiền mà ông V còn nợ. Tạm tính đến ngày 19/4/2024, ông V còn nợ Công ty C số tiền là 1.295.202.264 đồng trong đó tiền nợ gốc là 911.279.548 đồng, tiền lãi trong hạn và các khoản phải thu khác là 360.664.999 đồng, nợ lãi quá hạn tính từ 11/11/2023 đến 19/4/2024 là 23.257.717 đồng.
Nay Công ty C nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần V phải thanh toán cho Công ty C số tiền nợ trên và tiếp tục trả tiền lãi chậm thanh toán phát sinh từ ngày 20/4/2024 trên nợ gốc theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Trường hợp ông Trần V không thanh toán nợ, buộc ông Trần Vũ g trả tài sản thuê là 1 ô tô tải hiệu Ford, biển số 51D-917.07 cho Công ty C để xử lý, thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thuê không đủ để thu hồi nợ hoặc ông Trần V không bàn giao tài sản thuê, yêu cầu ông Trần V và ông Trần Văn H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Công ty C cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Hà Nhật M có đơn xin vắng mặt và gửi bản tự khai trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
Buộc ông Trần V phải thanh toán cho Công ty C số tiền thuê mà ông V nợ tính đến ngày 05/7/2024 là 1.307.825.441 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc là 911.279.548 đồng; Nợ lãi trong hạn và các khoản thu khác (Bao gồm Lãi quá hạn, lãi chậm thanh toán, giá trị còn lại) tính đến ngày 10/11/2023 là 360.664.999 đồng; Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 11/11/2023 đến 05/7/2024 là 35.880.894 đồng
Buộc ông Trần V phải thanh toán cho Công ty C tiền lãi chậm thanh toán phát sinh từ ngày 06/7/2024 trên nợ gốc theo lãi suất quy định tại Hợp đồng thuê hai bên đã ký.
Trường hợp ông Trần V không thanh toán nợ, buộc ông Trần Vũ g trả tài sản thuê là 1 ô tô tải hiệu Ford, biển số 51D-917.07 cho Công ty C để xử lý, thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thuê không đủ để thu hồi nợ hoặc ông Trần V không bàn giao tài sản thuê, yêu cầu ông Trần V và ông Trần Văn H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Công ty C cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền thuê còn nợ.
Bị đơn ông Trần V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn H vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty C là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Vũ t ngay cho Công ty C số tiền thuê còn nợ tạm tính đến ngày 05/7/2024 là 1.307.825.441 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc là 911.279.548 đồng; Nợ lãi trong hạn và các khoản thu khác (Bao gồm Lãi quá hạn, lãi chậm thanh toán, giá trị còn lại) tính đến ngày 10/11/2023 là 360.664.999 đồng; Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 11/11/2023 đến 05/7/2024 là 35.880.894 đồng. Đồng thời có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho Công ty C tiền lãi chậm thanh toán phát sinh từ ngày 06/7/2024 trên nợ gốc theo lãi suất quy định tại Hợp đồng thuê hai bên đã ký. Trường hợp ông Trần V không thanh toán nợ, buộc ông Trần Vũ g trả tài sản thuê là 1 ô tô tải hiệu Ford, biển số 51D-917.07 cho Công ty C để xử lý, thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thuê không đủ để thu hồi nợ hoặc ông Trần V không bàn giao tài sản thuê, yêu cầu ông
Trần V và ông Trần Văn H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Công ty C cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền thuê còn nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả tiền thuê còn nợ theo Hợp đồng cho thuê tài chính đã ký kết. Do đó xác định đây là tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xét thấy bị đơn ông Trần V có nơi cư trú tại quận T, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Hà Nhật M là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án có căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền thuê còn nợ:
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp có cơ sở xác định:
Ngày 11/8/2023, Công ty C và ông Trần V có ký với nhau Hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 và Phụ lục 01 đính kèm với nội dung cụ thể như sau: Tài sản thuê tài chính là một ô tô tải (Pickup cabin kép), hiệu Ford, biển số: 51D-917.07, thời hạn thuê 72 tháng, tổng giá trị tài sản thuê là 972.728.500 đồng, tiền trả trước là 48.574.925 đồng, giá trị thuê là 924.153.575 đồng.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của ông V theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 ngày 11/8/2023, Công ty C có chấp nhận Thư bảo lãnh cá nhân của ông Trần Văn H được lập ngày 11/8/2023.
Thực hiện hợp đồng thuê, Công ty C đã ký hợp đồng mua bán số 1230812308-PC với Công ty Cổ phần Đ để mua Tài sản thuê theo Hợp đồng thuê và cho ông V
thuê lại tài sản này. Ngày 18/8/2023, ông V đã ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu Tài sản thuê và thực tế nhận bàn giao tài sản từ Công ty Đ.
Xét thấy hình thức và nội dung thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 4, Điều 112, Điều 113 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 3, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động của Công ty C và Công ty cho thuê tài chính; khoản 18, khoản 19 Điều 3, Điều 35, Điều 36 Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê, ngay kỳ thanh toán đầu tiên ông Trần V đã không thanh toán đúng hạn và đến kỳ thanh toán thứ hai thì ngưng thanh toán. Công ty C đã phát hành Thông báo về việc chấm dứt Hợp đồng thuê và thu hồi tài sản tài sản thuê. Ngày 21/11/2023, Công ty C phát hành thư yêu cầu ông Trần Văn H thanh toán theo nội dung thư bảo lãnh cá nhân đã ký nhưng đến nay ông H vẫn chưa thanh toán số tiền mà ông V còn nợ. Tạm tính đến ngày 05/7/2024 số tiền thuê còn nợ của bị đơn là 1.307.825.441 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc là 911.279.548 đồng; Nợ lãi trong hạn và các khoản thu khác (Bao gồm Lãi quá hạn, lãi chậm thanh toán, giá trị còn lại) tính đến ngày 10/11/2023 là 360.664.999 đồng; Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 11/11/2023 đến 05/7/2024 là 35.880.894 đồng.
Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Điều 6 của Hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 ngày 11/8/2023 hai bên đã ký, không thanh toán tiền thuê đúng hạn nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền thuê còn nợ trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngoài ra, bị đơn còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 06/7/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho thuê tài chính số I230812308 ngày 11/8/2023 đã ký giữa hai bên.
[2.2] Xét yêu cầu giao trả tài sản thuê:
Thực hiện hợp đồng thuê, Công ty C đã ký hợp đồng mua bán số 1230812308-PC với Công ty Cổ phần Đ để mua Tài sản thuê theo Hợp đồng thuê và cho ông V thuê lại tài sản này. Ngày 18/8/2023, ông V đã ký Biên bản bàn giao và nghiệm thu tài sản thuê và thực tế nhận bàn giao tài sản.
Ngày 18/8/2023 Phòng cảnh sát giao thông Công an Thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 260569, biển số 51D-917.07 đối với ô tô tải (Pickup cabin kép), hiệu Ford, số khung: RL2AMFE60PER48162, số máy: YN2SRPE48162 cho Công ty C. Như vậy, Công ty C là chủ sở hữu đối với xe ô tô tải này. Theo hợp đồng cho thuê tài chính 1230812308 ngày 11/8/2023 thì tài sản này Công ty C cho ông Trần Vũ t1. Do ông Trần V đã vi phạm nghĩa vụ tại Điều 6, của Hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 ngày 11/8/2023 hai bên đã ký nên Công ty C yêu cầu thu hồi tài sản thuê là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:
Tại Thư bảo lãnh cá nhân ghi ngày 11/8/2023 ông Trần Văn H đã đồng ý bảo lãnh thực hiện các nghĩa vụ của ông Trần V đối với Công ty C theo hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 ngày 11/8/2023. Việc ông H ký kết Thư bảo lãnh cá nhân nêu trên là tự nguyện, nội dung thư bảo lãnh phù hợp với Điều 335 và Điều 338 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, trường hợp ông Trần Vũ k thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền theo hợp đồng cho thuê tài chính nói trên cho Công ty C thì ông Trần Văn H phải liên đới thanh toán theo quy định tại Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[3] Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 335, Điều 338, Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015
- Căn cứ khoản 4 Điều 4, Điều 112, Điều 113 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Điều 3, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động của Công ty C và Công ty cho thuê tài chính;
- Căn cứ khoản 18, khoản 19 Điều 3, Điều 35, Điều 36 Thông tư số 30/2015/TT-NHNN ngày 25/12/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định việc cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty cho thuê tài chính TNHH MTV Quốc tế C:
- Buộc ông Trần V thanh toán cho Công ty C số tiền thuê còn nợ tính đến ngày 05/7/2024 là 1.307.825.441 (Một tỷ ba trăm lẻ bảy triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm bốn mươi mốt) đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc là 911.279.548 đồng; Nợ lãi trong hạn và các khoản thu khác (Bao gồm Lãi quá hạn, lãi chậm thanh toán, giá trị còn lại) tính đến ngày 10/11/2023 là 360.664.999 đồng; Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 11/11/2023 đến 05/7/2024 là 35.880.894 đồng.
- Buộc ông Trần V thanh toán cho Công ty C tiền lãi chậm thanh toán phát sinh từ ngày 06/7/2024 tính trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong Hợp đồng cho thuê tài chính số 1230812308 ngày 11/8/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
- Trường hợp ông Trần V không thanh toán đầy đủ số tiền thuê còn nợ nêu trên thì buộc ông Trần V có trách nhiệm giao trả cho Công ty C tài sản thuê là một (01) ô tô tải (Pickup cabin kép), hiệu Ford, số khung: RL2AMFE60PER48162, số máy: YN2SRPE48162, biển số 51D-917.07 để Công ty C tiến hành xử lý, thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thuê nêu trên không đủ thanh toán cho khoản tiền thuê còn nợ trên thì buộc ông Trần V thanh toán tiếp cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền thuê còn nợ.
- Trường hợp ông Trần V không thanh toán đầy đủ số tiền thuê còn nợ nêu trên, buộc người bảo lãnh là ông Trần Văn H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty C theo như nội dung Thư bảo lãnh cá nhân đối với hợp đồng cho thuê tài chính đã ký thực hiện bảo lãnh cho đến khi hết số tiền thuê còn nợ.
Thi hành tại cơ quan có thẩm quyền thi hành án dân sự.
- Về án phí:
Ông Trần Vũ p chịu án phí dân sự sơ thẩm là 51.234.763 đồng (Năm mươi mốt triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi ba) đồng.
H1 lại cho Công ty C số tiền tạm ứng án phí 25.113.169 (Hai mươi năm triệu một trăm mười ba nghìn một trăm sáu mươi chín) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001335 ngày 01/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Thiện |
Bản án số 457/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Số bản án: 457/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐ cho thuê tài chính
