Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 457/2025/HS-ST

Ngày: 27/6/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Thị Tuyết Mai

2. Ông Cao Quốc Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến đối với vụ án hình sự thụ lý số: 349/2025/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 440/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

1. Nguyễn Minh C, sinh năm 1993 tại Quảng Ngãi; Nơi thường trú: Số B Đường C, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Số A Đường C, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ cửa nhôm; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Văn H, sinh năm 1964; Mẹ: Trịnh Thị Bích Đ, sinh năm 1967; Vợ: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1995 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2024, bị cáo có mặt.

2. Nguyễn Minh N, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số D Đường H, Khu phố I, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Văn K, sinh năm 1957; Mẹ: Phan Ngọc Ẩ, sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2024, bị cáo có mặt.

3. Phạm Trọng A, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Số E Lô U, chung cư N, Khu phố C, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Số A lô C, Chung cư I V, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Phạm Văn T1, sinh năm 1959; Mẹ: Lương Vân Y, sinh năm 1958; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2024, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn S;

Địa chỉ: B Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 01/11/2024, Nguyễn Minh N đang ở nhà tại địa chỉ số D Đường H, khu phố I, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì L (không rõ lai lịch) dùng số điện thoại 0981.607.xxx gọi đến rủ N cùng nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng, N đồng ý. L sử dụng tài khoản Ngân hàng MB chưa rõ số, tên HOANG TRUONG GIANG chuyển đến tài khoản Ngân hàng S1 số [...] tên NGUYEN MINH NHUT của N số tiền 300.000 đồng để góp mua ma túy. Khoảng 15 phút sau, Phạm Trọng A sử dụng tài khoản Zalo tên “Trần Hạo N1” của Trọng A để nhắn tin cho N qua tài khoản zalo “Nguyễn Minh N” xin chơi ma túy cùng, N đồng ý. Sau đó, Trọng A đến nhà của N tại địa chỉ số D Đường H, khu phố I, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đưa cho N 300.000 đồng tiền mặt để góp mua ma túy.

Sau khi nhận được tin nhắn của Trọng A, N sử dụng tài khoản zalo tên “Nhựt Nhỏ” của N nhắn tin cho Nguyễn Minh C qua tài khoản zalo tên “Cảnh” nhờ C mua giùm “ba số ma túy đá” với giá 500.000 đồng. Lúc này, C yêu cầu N trả phí giao ma túy cho N là 100.000 đồng, tổng cộng N phải đưa C số tiền 600.000 đồng. Tuy nhiên, C đề nghị N không phải trả 100.000 đồng phí giao ma túy mà để C dùng số tiền đó mua thêm ma túy để C qua nhà N sử dụng ma túy chung, N đồng ý. Sau đó, N sử dụng tài khoản Ngân hàng S1 số [...] tên MINH NHUT của N chuyển vào tài khoản Ngân hàng T2 số 19035945081014 tên NGUYEN MINH CANH của C số tiền 300.000 đồng để mua ma túy. Số tiền 300.000 đồng còn lại, khi C mua được ma túy giao cho N thì N sẽ đưa lại cho C.

Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, C sử dụng zalo tên “C” nhắn tin cho zalo tên “Nguyen Thi B” (không rõ lai lịch) đặt mua “ba số ma túy đá” với giá 600.000 đồng. Cảnh chuyển khoản trước số tiền 300.000 đồng bằng tài khoản Ngân hàng T2 số 19035945081014, tên NGUYEN MINH CANH của C đến tài khoản Ngân hàng M số 0932030973 tên PHAM THI MY LINH. Sau đó, đối tượng sử dụng tài khoản zalo “Nguyen Thi Be” đặt ứng dụng giao hàng công nghệ G đến trước địa chỉ số H Đường C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để giao 01 (một) gói vỏ bánh hiệu Kinh Đô AFC, bên trong có 01 (một) túi nylon chứa ma túy đá. Khi nhận được ma túy, C đưa trực tiếp số tiền 300.000 đồng còn lại cho tài xế G (hình thức giao hàng thu hộ tiền). Tổng số tiền mua ma túy đá là 600.000 đồng.

Sau khi nhận được vỏ gói bánh hiệu Kinh Đô AFC có chứa ma túy đá bên trong, C điều khiển xe mô tô hiệu Honda, biển số: 59S2-702.57 đến nhà của N tại địa chỉ số D Đường H, khu phố I, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng ma túy. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi đang lưu thông đến trước nhà số B Đường số A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì C bị Tổ công tác 363 – Công an Thành phố H yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện trong quần lót phía sau mông của C có cất giấu một bịch bánh hiệu Kinh Đô AFC, bên trong có chứa 01 (một) gói nylon chứa ma túy đá. Do đó, Tổ công tác đã đưa C về Công an phường P, thành phố T làm việc. Cùng lúc đó, vào khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, do đợi lâu chưa thấy C đến giao ma túy nên N trả lại cho Trọng A số tiền 300.000 đồng và bảo Trọng A1 cùng L đi về do không có ma túy để sử dụng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N, Phạm Trọng A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận giám định số 13099/KL-KTHS ngày 11/11/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:

  • - Gói 01 (bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu): Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2782g (không phẩy hai bảy tám hai gam), loại Methamphetamine.
  • - Gói 02 (bên trong có 02 ống thủy tinh chứa tinh thể): Tinh thể được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,0028g (không phẩy không không hai tám gam), loại Methamphetamine thu giữ tại nhà Nguyễn Minh C.

Vật chứng vụ án:

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm: Gói 01: Tinh thể không màu (m1) có khối lượng 0,2290g; Gói 02: m2 đã sử dụng hết mẫu.

  • - 01 (một) vỏ gói bánh hiệu AFC dinh dưỡng vị cốm non, đã bị xé;
  • - 02 (hai) ống thủy tinh bên trong ống thủy tinh dính tinh thể;
  • - 01 (một) ống thủy tinh, một đầu có hình phễu;
  • - 03 (ba) ống thủy tinh;
  • - 01 (một) ống hút ngựa, một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5, màu đỏ, đã vỡ màn hình, IMEI: 867458038739092, mật khẩu: 1212 (thu giữ của Nguyễn Minh C);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme C20, IMEI: 867977050364671, màu xanh, đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Minh C);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 13C, màu xanh, IMEI: 868329067486005 (thu giữ của Nguyễn Minh N);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro 5G, màu tím, IMEI: 869011068114922 (thu giữ của Phạm Trọng A);
  • - 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, màu vàng, biển số 59S2-702.57, số khung: RRSDCG2RSA1000865, số máy: VUMYG150FMG292864. Qua xác minh, xe mô tô biển số 59S2-702.57 do anh Phạm Văn S đứng tên chủ sở hữu. Năm 2019, anh S đã cầm chiếc xe mô tô tại tiệm cầm đồ (không nhớ địa chỉ), có làm giấy tờ cầm nhưng đã bị thất lạc. Tháng 07/2024, Nguyễn Minh C mua chiếc xe mô tô trên từ một người không rõ lai lịch trên trang mạng “Chợ tốt”. Đến ngày 01/11/2024, C sử dụng xe mô tô đi mua ma túy.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, các bị cáo đồng ý với kết luận giám định, với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, không có ý kiến gì khác.

Tại Cáo trạng số: 344/CT-VKSTPTĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N và Phạm Trọng A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N, Phạm Trọng A mỗi bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng:

Bị cáo Nguyễn Minh C đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Minh N mong Hội đồng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất

Bị cáo Phạm Trọng A phạm tội lần đầu xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, xét việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 01/11/2024, trước địa chỉ nhà số B Đường số A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Minh C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,2782g (không phẩy hai bảy tám hai gam) loại Methamphetamine với mục đích sử dụng. Nguồn gốc ma túy do Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N, Phạm Trọng A cùng nhau góp 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng để C đi mua ma túy về sử dụng, N là người trực tiếp nhờ C đi mua ma túy.

Ngoài ra, Nguyễn Minh C còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0028g (không phẩy không không hai tám gam), loại Methamphetamine để sử dụng.

Hành vi của Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N, Phạm Trọng A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với hành vi góp tiền mua ma tuý để sử dụng cùng với Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N, Phạm Trọng A của đối tượng tên L, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục truy tìm và điều tra làm rõ, tránh bỏ lọt tội phạm.

Đối với người sử dụng zalo “Nguyen Thi B” (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho Nguyễn Minh C, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục truy tìm và điều tra làm rõ, tránh bỏ lọt tội phạm.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N và Phạm Trọng A không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N và Phạm Trọng A có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N và Phạm Trọng A còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có điều kiện kinh tế để thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét:

  • - Đối với gói 01 tinh thể không màu (m1) có khối lượng 0,2290g thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh C. Xét thấy đây là chất ma tuý Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với gói 02 tinh thể không màu (m2) thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh C đã được sử dụng hết. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với 01 (một) vỏ gói bánh hiệu AFC dinh dưỡng vị cốm non đã bị xé; 02 (hai) ống thủy tinh chứa tinh thể thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh C. Xét thấy đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với 01 (một) ống thủy tinh, một đầu có hình phễu, 03 (ba) ống thủy tinh, 01 (một) ống hút nhựa, một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh N. Xét thấy đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5, màu đỏ, đã vỡ màn hình, IMEI: 867458038739092, mật khẩu: 1212 thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh C. Xét thấy, đây là phương tiện mà bị cáo sử dụng để liên lạc nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme C20, IMEI: 867977050364671, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh C. Xét thấy, đây là phương tiện mà bị cáo sử dụng để liên lạc nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 13C, màu xanh, IMEI: 868329067486005 thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh N. Xét thấy, đây là phương tiện mà bị cáo sử dụng để liên lạc nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro 5G, màu tím, IMEI: 869011068114922 thu giữ được của bị cáo Phạm Trọng A. Xét thấy, đây là phương tiện mà bị cáo sử dụng để liên lạc nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
  • - Đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, màu vàng, biển số 59S2-702.57, số khung: RRSDCG2RSA1000865, số máy: VUMYG150FMG292864 thu giữ được của bị cáo Nguyễn Minh C do anh Phạm Văn S đứng tên chủ sở hữu. Năm 2019, anh S đã cầm chiếc xe mô tô tại tiệm cầm đồ (không nhớ địa chỉ), có làm giấy tờ cầm nhưng đã bị thất lạc. Tháng 07/2024, Nguyễn Minh C mua chiếc xe mô tô trên từ một người không rõ lai lịch trên trang mạng “Chợ tốt”. Đến ngày 01/11/2024, C sử dụng xe mô tô đi mua ma túy. Do các chủ sở hữu khác không có địa chỉ, số điện thoại nên không làm việc được vì vậy cần tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu, nếu quá thời hạn luật định không có người đến nhận đề nghị tiến hành phát mãi tài sản, sung công quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N, Phạm Trọng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.
  • + Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.
  • + Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Trọng A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2024.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  • + Tịch thu tiêu huỷ: Gói 01 tinh thể không màu (m1) có khối lượng 0,2290g; gói 02 tinh thể không màu (m2) được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra; 01 (một) vỏ gói bánh hiệu AFC dinh dưỡng vị cốm non đã bị xé; 02 (hai) ống thủy tinh bên trong ống thủy tinh dính tinh thể; 01 (một) ống thủy tinh, một đầu có hình phễu; 03 (ba) ống thủy tinh; 01 (một) ống hút nhựa, một đầu hàn kín, một đầu được cắt nhọn
  • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F5, màu đỏ, đã vỡ màn hình, IMEI: 867458038739092, mật khẩu; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi Realme C20, IMEI: 867977050364671, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi 13C, màu xanh, IMEI: 868329067486005; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 Pro 5G, màu tím, IMEI: 869011068114922
  • + Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda, màu vàng, biển số 59S2-702.57, số khung: RRSDCG2RSA1000865, số máy: VUMYG150FMG292864. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tiến hành tịch thu, phát mãi tài sản nộp vào ngân sách nhà nước.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng NK25/356C ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N và Phạm Trọng A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
  • Bị cáo Nguyễn Minh C, Nguyễn Minh N và Phạm Trọng A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 457/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 457/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger