TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 457/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 6 - 2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Quốc Thái
- 2. Bà Trần Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 763/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 997/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Q, sinh ngày: 15/5/1989; số CCCD: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 25/3/2022; HKTT: KDC 37, thôn V, Đ, M, Quảng Ngãi; Chỗ ở: 29 Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn : Ông Nguyễn Tấn D, sinh ngày: 22/7/1981; số CCCD: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 22/11/2021; HKTT: KDC 37, thôn V, Đ, M, Quảng Ngãi; Chỗ ở: 2 T (Bờ Bao T cũ), phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(bà Q có đơn xin xét xử vắng mặt; ông D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ngày 16/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Q trình bày:
Bà và ông Nguyễn Tấn D tự nguyện chung sống năm 2008, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi ngày 30/3/2009 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2009.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ 2 Bờ Bao T (nay là đường T), phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai bên đã cố hàn gắn nhưng không có kết quả. Năm 2019, bà một mình dọn ra ở riêng và sống ly thân với ông D cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông D để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà Q xác nhận bà và ông D có 02 con chung tên Nguyễn Tấn T, sinh ngày 13/9/2008 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 13/7/2013. Do cả 2 con đang sống cùng ông D nên bà đồng ý giao cả 02 con chung cho ông D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài ra, để tránh làm mất nhiều thời gian của Toà án, bà Q yêu cầu Toà án không tổ chức hoà giải nhiều lần vì tình cảm vợ chồng giữa bà và ông D không còn, không có khả năng hàn gắn, mong Toà án sơm đưa vụ án ra xét xử. Bà Q sống ly thân ông D từ năm 2019, hiện nay bà đang sinh sống tại Đồng Nai, bà làm công nhân nên việc nghỉ phép và đi lại gặp nhiều khó khăn nên bà xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết, xét xử tại Toà án.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng, không có đơn xin vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú có ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân thủ theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ bản tự khai của bà Q cùng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy quan hệ hôn nhân của bà Q và ông D là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống hôn nhân giữa bà Q và ông D không còn hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai bên đã cố hàn gắn nhưng không có kết quả. Năm 2019, bà một mình dọn ra ở riêng và sống ly thân với ông D cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q.
Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Tấn T, sinh ngày 13/9/2008 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 13/7/2013 cho ông D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Q do ông D không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2009 ngày 30/3/2009 do Ủy ban nhân dân phường Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi cấp thì quan hệ hôn nhân giữa bà Trương Thị Q và ông Nguyễn Tấn D là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Ông Nguyễn Tấn D có nơi cư trú tại quận T. Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Bà Trương Thị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Tấn D vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Q và ông D.
[3]. Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét bà Trương Thị Q yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn D.
Theo lời trình bày của bà Q, quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống, tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Hai bên đã cố hàn gắn nhưng không có kết quả. Năm 2019, bà một mình dọn ra ở riêng và sống ly thân với ông D cho đến nay. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng ông D không đến Tòa làm việc chứng tỏ ông D không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của bà Q và ông D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về quan hệ con chung: Bà Q xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Tấn T, sinh ngày 13/9/2008 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 13/7/2013. Khi ly hôn bà giao cả 02 con chung cho ông D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hai con chung từ trước đến nay đều lớn lên cùng nhau và trước giờ hai trẻ sông cùng ông D vẫn phát triển, học hành ổn định, việc tách hai trẻ ra sống riêng sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm, việc học tập và đời sống của các cháu nên Hội đồng xét xử quyết định giao cả hai con chung tên Nguyễn Tấn T và Nguyễn Thị Kim N cho ông D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Q do ông D không yêu cầu.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Q xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Bà Q xác nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì bà Trương Thị Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
[5]. Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 267, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57; Điều 81; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Q được ly hôn với ông Nguyễn Tấn D. Quan hệ hôn nhân của bà Trương Thị Q và ông Nguyễn Tấn D, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 54/2009 ngày 30/3/2009 do Ủy ban nhân dân phường Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi cấp chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về quan hệ con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Tấn T, sinh ngày 13/9/2008 và Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 13/7/2013 cho ông D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với bà Trương Thị Q cho đến khi ông Nguyễn Tấn D có yêu cầu.
Khi lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Trương Thị Q được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do bà Trương Thị Q chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Q đã nộp theo Biên lai thu số 0045651 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà Q đã nộp đủ án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3] Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 457/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 457/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: quyền - dũng lh
