TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 457/2023/DS-PT
Ngày: 08/11/2023
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải
Bà Phan Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Phil - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 290/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2023/DS-ST ngày 13/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 443/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số A đường số D, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số E, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn:
- - Ông Trần Văn M, sinh năm 1971.
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1974.
Cùng nơi cư trú: Số E, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ (văn bản ủy quyền ngày 21/8/2023).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Như A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số A đường số D, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Số E, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người làm chứng: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Phía nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng V trình bày: Năm 2010 ông và bà Nguyễn Như A có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H tại thửa 869, tờ bản đồ số 01, với diện tích 300m². Sau khi nhận chuyển nhượng phía ông V đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (gọi tắt là giấy chứng nhận) số CB 298047, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS 10542 do Giám đốc Sở tại nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ ký ngày 10/3/2016 mang tên Nguyễn Hoàng Vĩnh đ tọa lạc tại Khu V B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Tuy nhiên gần đây ông V phát hiện bị đơn xây dựng bức tường phía sau lấn sang phần đất của ông V khoảng gần 17m². Theo kết quả đo đạc tại bản trích đo địa chính 16.7m². Nay nguyên đơn kiện yêu cầu bị đơn trả phần đất lấn chiếm.
Ngày 27/7/2022 nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu bị đơn bồi thường phần tài sản trên đất bị đập phá và hoa màu với số tiền 104.560.000 đồng.
Ngày 26/4/2023 nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/7/2022 đối với phần cây kiểng, giữ một phần yêu cầu khởi kiện bổ sung buộc bị đơn phải bồi thường số tiền 55.000.000 đồng do nguyên đơn đã có công xây dựng hàng rào, đổ pê tông phần đất trước mặt nhà.
Bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Năm 2010 ông M, bà H có chuyển nhượng cho vợ chồng ông V, bà A phần đất với diện tích 300m². Sau khi ký chuyển nhượng ông V, bà A đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã xây dựng nhà kiên cố để ở cho đến nay. Năm 2019 Nhà nước có chủ trương làm đường lộ nông thôn cho dân đi lại thuận tiện và rộng rải thì khi đó trưởng khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ có vận động dân hiến đất làm đường lùi vào để tránh bị lở vì con đường lộ gần mé sông thì các hộ dân trong đó có ông V thống nhất dời hàng rào, cây để cho Nhà nước làm đường.
Nay với yêu cầu nguyên đơn, bị đơn không thống nhất vì đất đã giao cho nguyên đơn và nguyên đơn cũng đã xây dựng nhà ở kiên cố sinh sống đến nay.
Ngày 19/10/2022 bị đơn có đơn phản tố đề nghị ông V, bà A tháo dỡ toàn bộ các máng xối lắp đặt lấn chiếm không gian sang đất bị đơn cụ thể: Phía sau nhà ông V, bà A có kích thước 0,2m x 10m; Bên trái nhà ông V, bà A nhìn từ lộ nông thôn kích thước 0,15 x 18,38m. Ngày 26/4/2023 bị đơn đề nghị rút một phần đơn yêu cầu phản tố, cụ thể đó là bên trái nhà ông V, bà A nhìn từ lộ nông thôn kích thước 0,15 m x 18,37m, giữ nguyên yêu cầu phản tố đối với phần phía sau nhà ông V, bà A có kích thước 0,2m x 10m.
Phần trình bày của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Như A: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn. Không bổ sung gì thêm.
Do các đương sự không thống nhất được cách giải quyết nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 36/2023/DSST ngày 13/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng V đối với bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H trả cho ông Nguyễn Hoàng V phần đất có diện tích 14,3m2, hiện trạng theo Bản trích đo địa chính số 234/TTKTTNMT ngày 27/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (Đính kèm).
Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn chấm dứt hành vi bao bọc phần đất bãi bồi trước mặt tiền nhà nguyên đơn.
Buộc ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị Mỹ H bồi thường cho nguyên đơn giá trị xây dựng sàn bê tông trên phần đất bãi bồi trước mặt tiền nhà nguyên đơn có giá là 16.347.000 đồng.
Bác yêu cầu phản tố của bị đơn đối với việc lấn chiếm không gian có kích thước 0,2m x 10m buộc ông V, bà A tháo dỡ máng xối.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, chi phí đo đạc thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên xử bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Văn T đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày: Bị đơn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V năm 2010 và giao diện tích đất chuyển nhượng cho ông V là 300m². Nguyên đơn đã tách chuyển 100m² nên còn lại 200m² nguyên đơn đã sử dụng ổn định. Tuy nhiên, nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn vị trí B trên sơ đồ là không đúng vì: Nhà nguyên đơn không có cửa sau. Nguyên đơn đã xây dựng hết phần đất chuyển nhượng. Lúc mở rộng lộ nông thôn lên 4m ngang nguyên đơn đã tự nguyện hiến một phần đất để làm lộ nông thôn. Công văn của Ủy ban nhân dân phường L vận động nhân dân hiến đất. (Bút lục 142) do vậy ông V đã hiến đất làm đường nên diện tích đất còn lại của ông không đủ diện tích. Hiện tại, đường ống thoát nước nằm giữa tim lộ con đường, điều này chứng tỏ có sự hiến đất mở lộ là đúng sự thật. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án trên công nhận vị trí B là của bị đơn.
Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh. Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bị đơn là 300m². Sau đó, nguyên đơn chuyển nhượng 100m² nên diện tích còn lại là 200m². Lúc nguyên đơn chuyển nhượng thì lộ giao thông nông thôn đã cập nhật trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là 4m ngang. Do đó, không có cơ sở để nói rằng nguyên đơn hiến phần đất để làm đường nên diện tích đất bị thiếu. Nếu cộng luôn phần đất tranh chấp tại vị trí B thì nguyên đơn vẫn còn thiếu đất. Bản án sơ thẩm tuyên là có cơ sở nên đề nghị giữ guyên. Đối với phần xây dựng phía trước nhà của nguyên đơn, phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Bị đơn đang sử dụng nên bị đơn trả giá trị phần xây dựng cho nguyên đơn là phù hợp.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Bình Thủy thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy: Nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Sau đó, nguyên đơn chuyển nhượng 100m² cho ông Phạm Quang T1 nên diện tích đất còn lại là 200m². Nguyên đơn kiện yêu cầu công nhận diện tích đất trên. Phía bị đơn có phản tố yêu cầu công nhận phần diện tích đất tranh chấp vị trí B là của bị đơn.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 234/TTKTTNMT ngày 27/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện: Phần đất nguyên đơn xác định tại thửa 868 có diện tích 183,3m² loại đất CLN, phần tranh chấp nguyên đơn yêu cầu và xác định được đánh dấu ký tự (B) với diện tích 14,3m² . Bị đơn thì cho rằng phần đất nguyên đơn phải tính từ vị trí được đánh dấu ký tự (A) vì nguyên đơn đã tự nguyện hiến một phần để mở rộng lộ giao thông nông thôn nên diện tích không đủ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Xét lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở vì: Lúc nguyên đơn chuyển nhượng thì có con lộ giao thông nông thôn có chiều ngang là 4m. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng thể hiện là con lộ 4m. Nay đo đạc lại đất của nguyên đơn bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu pháp luật bảo vệ quyền sử dụng hợp pháp của mình đối với diện tích đất được cấp 200m² là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả lại diện tích tại vị trí B là có cơ sở.
Xét các chứng cứ khác: Tại công văn số 259/2023/CV ngày 20/4/2023 của Ủy ban nhân dân phường L có thể hiện: Chủ trương thực hiện người dân hiến đất vật kiến trúc hoa màu trong phạm vi ảnh hưởng công trình. Nhưng lại không thể hiện hộ dân nào ảnh hưởng và hộ nào không ảnh hưởng. Trong khi đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho nguyên đơn, bị đơn đều thể hiện đường đi 04m, và con đường hiện hữu hiện nay vẫn là 04m. Cũng tại công văn số 476/CNVPĐKĐĐ ngày 14/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B cũng xác nhận đến nay không có tiếp nhận hồ sơ hay thủ tục nào đề nghị điều chỉnh giấy đất do ảnh hưởng làm đường đi. Bởi dù không có chủ trương hay quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân thì nếu người dân có ảnh hưởng diện tích do công trình đường, cầu, điện, hành lang an toàn giao thông... thì vẫn có thể tiến hành thủ tục chỉnh lý giấy chứng nhận. Từ những cơ sở trên cho thấy việc thiếu đất của nguyên đơn không liên quan đến việc ảnh hưởng làm đường đi.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bồi thường giá trị xây dựng hàng rào, bê tông trên phần đất bãi bồi trước mặt tiền nhà nguyên đơn. Theo biên bản định giá ngày 12/01/2023 có ghi nhận: cấu trúc sàn bê tông cũng như diện tích xây dựng. Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận do nguyên đơn tự xây. Bản án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn trả cho nguyên đơn giá trị còn lại là 16.347.000 đồng. Nguyên đơn không kháng cáo phần này bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh phần xây dựng này bị đơn bỏ tiền ra xây. Hơn nữa, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị đơn thừa nhận nguyên đơn xây nên Hội đồng xét xử giữ nguyên phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm.
Xét yêu cầu nguyên đơn về phần đất bãi bồi trước nhà nguyên đơn: Phần đất này Nhà nước không cấp quyền sử dụng đất cho bất kì ai. Đối với yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn chấm dứt hành vi bao bọc phần đất bãi bồi, xét thấy đất bãi bồi trước mặt tiền nhà nguyên đơn do Nhà nước quản lý, nguyên đơn và bị đơn chưa ai được cấp giấy chứng nhận đối với phần đất này nên không có quyền yêu cầu. Bản án sơ thẩm tuyên nguyên đơn không kháng cáo nên không xem xét.
[4] Xét yêu cầu nguyên đơn về đường thoát nước thải: Xét thấy việc cần có hệ thống thoát nước thải sinh hoạt để đảm bảo vệ sinh môi trường nên việc nguyên đơn cần thoát nước sinh hoạt hoặc nước mưa ra ngoài hệ thống công cộng không gây ảnh hưởng hộ giáp ranh là cần thiết và đúng quy định. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận một phần.
[5] Đối với bức tường xây trên phần đất tranh chấp, đại diện bị đơn cho rằng do bị đơn xây dựng trên phần đất bị đơn nên không yêu cầu gì, nếu Hội đồng xét xử phán quyết đất thuộc quyền của ai thì người đó được sử dụng bức tường đó. Xét thấy đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên ghi nhận. (Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết chiều ngang thửa đất nên Hội đồng xét xử không xem xét ).
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần được chấp nhận. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Về chi phí đo đạc, lệ phí trích đo địa chính, phí trích lục hồ sơ: Bị đơn phải chịu theo quy định.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn chịu.
[9] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 229, Khoản 1, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 166, 170 Luật đất đai 2013;
- - Các Điều 164, 250, 251 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị Mỹ H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng V đối với bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H trả cho ông Nguyễn Hoàng V phần đất có diện tích 14,3m² (vị trí B) hiện trạng theo Bản trích đo địa chính số 234/TTKTTNMT ngày 27/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C (Đính kèm).
Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn chấm dứt hành vi bao bọc phần đất bãi bồi trước mặt tiền nhà nguyên đơn.
Buộc ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị Mỹ H bồi thường cho nguyên đơn giá trị xây dựng sàn bê tông trên phần đất bãi bồi trước mặt tiền nhà nguyên đơn có giá là 16.347.000 đồng.
Bác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu ông V, bà A tháo dỡ máng xối lấn chiếm không gian có kích thước 0,2m x 10m.
2.Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí có giá ngạch là 817.350 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu án phí do yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng phản tố bị đơn đã nộp theo biên lai thu số 0002790 ngày 19/10/2022 thành án phí.
Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 005082 ngày 05/3/2021 và 2.614.000 đồng (hai triệu sáu trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002791 ngày 19/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
3. Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí đo đạc, lệ phí trích đo địa chính, phí trích lục hồ sơ là 13.431.920 đồng (mười ba triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn chín trăm hai mươi đồng), khấu trừ số tiền bị đơn đã nộp tạm ứng 5.000.000 đồng, bị đơn phải trả tiếp cho nguyên đơn số tiền 8.431.920 đồng .
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002268 ngày 20/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thành án phí. Ông M và bà H đã nộp xong.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 457/2023/DS-PT ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 457/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông V tranh chấp QSD đất với ông M
